Thi Ảnh

Văn

Văn

Vết khắc

Sau ba năm hơn Lân mới có dịp trở lại Sài gòn, phi cảng Tân sơn nhất bây giờ thay đổi khá nhiều. Phòng chờ, quày vé, lối đi đều được mở rộng, đường bay nội địa cũng được tăng cường nhiều hơn. Rất tiếc là sự phát triển đó không hẳn do đất nước phồn thịnh mà do tình hình an ninh đường bộ mỗi ngày một tệ hại và nhiều bất trắc nên mọi người chọn đường hàng không để được an tâm. Lân tách rời đám đông, nhanh chân tìm lối ra vì anh thừa biết không ai đến đón mình, không như ngày nào ra đi, ngoài hai đứa em anh còn có người yêu và mấy người bạn đến đưa tiển. Một thoáng bùi ngùi chợt đến nhưng anh vẫn lặng lẽ bước theo đám đông cho đến khi gặp người tài xế taxi và nhờ ông ta xách hộ cho một trong hai cái túi quân trang, sau ba năm lăn lóc ngoài chiến trường gia tài anh chỉ có ngần ấy thứ.

- Thiếu úy Lân đi về đâu?

Lân hơi ngạc nhiên vì anh chỉ mặc bộ quân phục chứ không mang cấp bậc. Anh nghĩ không biết có phải một ông lớn tuổi nào đó ở cùng đơn vị, ông ta biết anh và nghỉ hưu về hành nghề Taxi để kiếm sống.

- Sao ông biết tôi?

Ông tài xế cười xòa:

- Tên và cấp bậc của Thiếu úy tôi đọc thấy trên ba lô.

Lân thấy mình vừa ngớ ngẩn lại thiếu thông minh. Để khỏa lấp ý nghĩ đó, anh vã lã với ông tài xế:

- Ờ nhỉ, ông cho tôi về đường Cao thắng.

Chiếc taxi từ từ nhập vào đường Công lý hướng về Sài gòn, Lân chăm chú nhìn phố xá hai bên đường. Bên này là cổng số 1 của Bộ tổng tham mưu, các anh Quân cảnh vẫn làm công việc của họ mỗi khi có xe cộ ra vào. Lân cũng nhận ra bên kia đường, bộ mặt mới của khu Lăng cha cả, tuy buổi trưa nhưng vẫn thấy ánh đèn xanh đỏ của các quán Bar ở khu đối diện với cổng Phi Long đường vào Bộ tư lệnh Không quân. Về đêm hẳn khu đèn màu này nhộn nhịp lắm, hai cái lỗ mũi của khu quân sự bậc nhất này chắc hẳn cũng đã ngửi thấy mùi rượu, mùi gái và mùi của mấy anh lính viễn chinh Mỹ bù khú với cái xanh cái đỏ trong các Bar.

Thấy Lân cứ mãi mê nhìn phố xá, ông tài xế lên tiếng:

- Thiếu úy rời Sài gòn lâu lắm phải không, chắc là chiến trường nào đó mới về?

Lân không dấu diếm:

- Tôi từ Miền trung đã ba năm mới trở về lại.

Thấy ông tài xế cũng vui tính, Lân gợi chuyện:

- Nghề taxi dạo này có khá không thưa bác?

Nghe Lân đổi sang giọng thân thiện, ông tài xế cũng thấy vui vui:

- Dạ, cũng kiếm sống qua ngày, những người trai trẻ như các anh đều ra mặt trận, hành nghề này chỉ có những người già như chúng tôi nên tà tà kiếm sống qua ngày.

- Tôi thấy phố xá xây mới khá nhiều, mọi người có vẽ làm ăn khá lên phải không bác?

- Vâng khá thì có khá đấy nhưng chỉ với những người làm sở Mỹ, buôn bán làm ăn với Mỹ chứ những người lao động chúng tôi, tuy có kiếm được thêm tiền so với trước đây nhưng vẫn không chạy theo kịp vật giá, cái gì cũng tăng. Mấy bà nội trợ kêu trời không thấu, đi chợ con cá chưa kịp trả giá lần thứ hai, ngó qua ngó lại con mẹ lấy Mỹ nó vớt mất ! Trở về căn nhà gia đình mua cho ba anh em Lân ở đi học, Mẹ anh hằng tháng vẫn tiếp tế cho một ít thức ăn trên quê. Chính căn nhà này người yêu anh cũng đã từng đến, khi thì đi chợ nấu hộ cho một bữa cơm để cả nhà cùng ăn, khi thì dọn dẹp các thứ bề bộn dưới bếp. Có lúc nàng cũng gặp Mẹ Lân, cả hai tỏ ra rất thân thiện. Trở về lần này tất cả chỉ còn là hoài niệm. Tố Nga đã lấy chồng sau hai năm không nhân được một dòng chữ nào của Lân cho dù một lời nhắn ngắn ngủi. Cậu em út trách anh “Trên nhà thỉnh thoảng chỉ được điện tín là anh vẫn khoẻ, tụi em chỉ biết anh ở Miền trung nhưng địa chỉ thư tín thì không có. Ngày chị Nga sắp lập gia đình có đến gặp Má, chị ấy khóc quá chừng chừng về thái độ của anh…” Vâng khóc đi Nga. Khóc cho ngày nào chúng ta cùng chung một mái trường, khóc cho những lần hẹn hò và nụ hôn đầu đời em trao cho anh. Khóc khi anh hoạn nạn, em tất tả ngược xuôi xoay sở cho anh trong lần bị bắt vào lính. Khóc cho tuổi trẻ thời chinh chiến, một lần đưa tiển là một lần vĩnh biệt và xin em hãy khóc hộ anh với quan niệm sống “là con trai phải làm một cái gì”… và rồi chính anh cũng khóc đây Nga ơi! Vì rằng “cái gì đó” cho đến giờ này anh vẫn chưa tìm thấy nó, chỉ thấy tuổi trẻ của mình mỗi ngày một mòn mỏi vì cuộc chiến, mỗi người hình như già đi trước tuổi. Có những lúc ngoài tuyến đầu anh đã xem thường mọi thứ, chỉ biết lăn xả vào trò chơi chém giết rồi cũng có lúc như người vừa tỉnh cơn say và tự hỏi có phải đó là cái mà anh đi tìm đây chăng? Thực tế đã trả lời, nó không khác gì những buổi hội thảo năm xưa, những cuộc xuống đường, những lần hoan hô hay đã đảo như dạo nào tại Sài gòn mà anh đã tham dự. Bây giờ nghĩ lại, tất cả chẳng qua là lòng hăng say, sự nổi loạn của tuổi trẻ nhất thời, dể tin theo lời tuyên truyền, xúi dại của nhóm người đứng phía sau, xô đẩy bọn trẻ vào trò chơi ‘xuống đường’. Con đường chính trị thì đầy dẫy những lọc lừa, phỉnh gạt. Nào là hãy đấu tranh, hãy hoan hô, hãy đả đảo nhưng anh Tổng hội trưởng này thì được ông Tướng cầm quyền tặng ba triệu và hứa cho đi du học, anh kia thì do phía bên ngoài cài đặt… trong khi đoàn viên nếu phải bị bắt, bị tù thì ráng chịu. Xét cho cùng, họ vì lợi ích cho dân sinh, cho xã hội thì ít, quyền lợi cá nhân phe nhóm họ thì lại nhiều. Hậu quả như em đã biết đó, anh không được tiếp tục hoãn dịch, không còn cơ hội đến trường lớp mà phải vào lính và những hành động nong nỗi ấy lại trở thành một án lệnh đối với chính anh , nó cứ bám mãi theo anh khiến anh hoài nghi phía bên này lẫn bên kia và ngay cả với chính mình. Tất cả những điều đó làm cho anh không còn thấy màu hồng trong cuộc sống. Vì thế có lúc anh quên đi bản thân, quên đi tình yêu và gia đình, lấy cả sinh mạng mình để thử làm một cái gì đó nhưng vô vọng, tất cả đều là trò chơi vô nghĩa và đáng ghét. Nó cũng chẳng khác gì trước đây, anh không thể vứt bỏ tất cả để thoát ly như một số bạn bè anh đã làm, vì rằng anh thấy viễn ảnh con đường ra đi sao nó quá mơ hồ trong khi bên anh còn có cha mẹ, còn có anh em và nhất là còn có em, có tình yêu mà em dành cho anh. Em lúc nào cũng đứng sau anh để hổ trợ, cho dù có lúc những việc làm của anh đã làm cho em phải rơi lệ. Anh cũng không thể là một kẻ cuồng tín, bị mê hoặc bởi một mớ lý thuyết xa dời và mơ hồ như một thằng bạn, một mình đứng lên hoan hô đã đảo giữa toà án để lảnh bản án đi đày Côn đão và rồi vượt ngục, đi theo con đường anh ta cho là lý tưởng nhưng chỉ một sớm một chiều, anh ta chưa kịp nhìn thấy cái lý tưởng đó thể hiện như thế nào thì bạn bè đã nhận được tin anh gục ngã trong bom đạn nơi chiến trường. Tuổi trẻ các anh là như vậy đó, không bên này thì bên kia, nếu cứ tiếp tục cái đà này rồi một ngày nào các anh cũng sẽ gặp nhau trong cùng cõi chết. Một điều thật phi lý nếu phải đem sinh mạng mình đánh đổi với những cái không ra gì đó là chiến tranh, những người gây ra chiến tranh, gây ra tội ác trên quê hương này.

Lân không muốn rời khỏi nhà, nơi đây đầy ắp những kỷ niệm giữa anh và Tố Nga. Từ thuở còn cùng nhau đến trường, từ cái bàn học hai đứa cùng ngồi ôn bài cho đến bộ ghế đơn sơ nơi phòng khách, khi rảnh rổi hai đứa ngồi tán gẫu hay bàn về tương lai. Dường như nơi đâu cũng có vết khắc của Nga và anh còn lưu lại. Anh muốn ôm ghì và siết chặc tất cả hình ảnh đó vào giấc ngủ và anh đã ngủ liên tiếp trong mấy ngày liền khi trở về lại Sài gòn.

 

—o0o—

 

Đến đầu tuần là phải trình diện quân trường anh được đề nghị theo học, mấy ngày còn lại Lân dành thăm một số bạn bè cũ, hầu như đa số lần lượt vào lính. Một số khác nhảy qua ngành sư phạm làm những ông giáo bất đắc dĩ để được hoãn dịch. Lân cũng đến thăm người bạn gái cùng xóm, một trong bộ ba những người bạn gái rất thân với Lân dưói cùng một mái trường trung học năm xưa. Chị ta phải rời nhà trường sớm theo học ngành sư phạm cũng như Tố Nga từ giả học đường đi làm công chức để phụ giúp gia đình, họ là những người con gái ngoan hiền và thật dể thương.

- Con chào bác, cô giáo Hương cuối tuần có về không thưa bác?

Mẹ Hương có cửa hàng bán bánh mì ngoài đầu ngõ, bà vừa bán hàng vừa nhìn Lân, mãi một lúc sau mới nhận ra:

- Cháu Lân! Mèng ơi đi đâu biệt tích giờ này mới quay về vậy cháu?

- Dạ ở tận ngoài Trung lận bác, cứ phải hành quân luôn khó mà xin được nghỉ phép về thăm nhà.

- Có hề gì không mà trông cháu khác lạ, người gầy lại xanh xao nữa, bác nhận không ra?

- Cháu… vừa bị bệnh sốt rét nhưng đã điều trị khỏi rồi thưa bác.

Lân không muốn nói mình vừa bị thương làm cho câu chuyện dài thêm ra nơi chỗ đông người trong khi Mẹ Hương, tay bà vẫn tiếp tục làm bánh mì dồi cho khách, bà bảo Lân:

- Vào nhà, vào nhà chơi đi cháu. Con Hương tuần này có về, nghe nói tụi nó chờ cháu về để hỏi tội gì đó, có lẽ… về cháu Nga thì phải.

Bà vừa nói vừa cười và không quên nói thêm :

- Tuổi trẻ các cháu bây giờ sao mà lắm chuyện phiền phức!

Lân trù trừ định nói đùa ‘chứ không như các bác ngày xưa, lớn lên cha mẹ đặt đâu con ngồi đó’, còn bây giờ… nhưng thấy bà quá bận trong buổi sáng cuối tuần, lại không có ai phụ giúp nên anh đành chào và xin phép vào nhà thăm Hương.

Con hẻm vào nhà Hương không sâu bên trong lắm nhưng theo lời Hương ở đó có biết bao gia đình, mỗi căn hộ là một tổ ấm hết thế hệ này sang thế hệ khác, không ai nghĩ đến việc bán buôn cho người khác. Mọi người quen biết nhau khi còn để chỏm nên trở thành thân thương, thân thương đến độ không ai muốn xa rời những người hàng xóm trong con hẻm này. Khi lập gia đình cho dù ở xa, một năm đôi lần người ta vẫn thấy họ về thăm lại xóm cũ. Nếu không còn cha mẹ thì cũng anh em và nhất là gặp lại bạn bè xưa. Theo vận nước, thành phố này cũng đã trải qua bao cuộc bể dâu nhưng người dân ở đây vẫn bám trụ. Họ chỉ là người dân lao động bình thường, họ làm đủ mọi ngành nghề, chính ở chỗ họ không làm nghề cao sang quyền quý nên ít khi muốn thay đổi từ chỗ ở cho đến cách sống mặc dù thế hệ về sau này, con cái họ học hành đỗ đạt, làm ăn khá hơn nhưng vẫn giữ nếp sống cũ căn nhà xưa.

Lân vừa đi vừa lan man nghĩ về những con hẻm đặc trưng của Sài gòn, nổi tiếng về nhiều mặt như ăn uống, vui chơi giải trí … có thể nói không nơi nào giống nơi nào. Ngay như con hẻm nhà anh và nhà Hương tuy cách nhau chỉ một con đường nhưng nếp sống bên này và bên kia khác nhau khá xa. Sự khác biệt phải chăng bên nhà anh, nhà cửa đổi chủ luôn nên thiếu sự thân thiện, cuộc sống mỗi gia đình gần như khép kín, mọi người chào hỏi nhau không hơn một cái gật đầu.

Trước mặt Lân là căn nhà khá thân quen, không thể quên được tuy mặt tiền mới sửa sang lại trông khá sáng sủa, cái cổng trước nhà bằng gổ nay được xây lại bằng gạch và có song sắt. Trong nhà không đóng cửa, từ bên ngoài thấy thấp thoáng bóng người dường như đang thu dọn hay bày biện cái gì đó. Lân tự mở cổng, vào tận cửa trong anh mới đưa tay lên gỏ mấy cái, người con gái xúng xính trong bộ đồ bộ quay ra kêu lên :

- Anh Lân!

Trước thái độ mừng rở của Hương, Lân bổng nhớ đến kỷ niệm xưa nên đùa:

- Sao khoẻ không “bà xã”!

Nhắc lại kỷ niệm này, có lẽ Hương vẫn còn thấy ngượng nên rũa Lân:

- Đồ quỷ! Vào đây, vào đây… ‘kẻ bạc tình’ nhưng trước hết cho biết sức khỏe thế nào, trông anh bệ rạc quá như là…

- … người về từ cõi chết! Lân cướp lời Hương và cho nàng biết tình trạng sức khỏe anh hiện nay.

Vừa ngồi xuống Lân đã nghe nàng nói một thôi một hồi, từ chuyện Tố Nga khổ sở thế nào đến chuyện cô ta lấy chồng làm sao và lấy ai, Lân nghĩ thầm “có lẽ cô giáo nào cũng mang chứng bệnh nghề nghiệp là nói nhiều”! Lân đành kiên nhẫn ngồi chờ và chịu khó lắng nghe, anh biết rồi cũng đến lúc nàng phải đi đến một kết luận nào đó chắc là không quá xa với chủ đề.

- Tụi này cứ ngỡ anh đi làm biệt kích, nhảy dù ra Bắc nên mới tuyệt tích giang hồ như vậy!

Lân phụ họa theo:

- Trong hoàn cảnh này tôi nghĩ nếu được cũng nên lắm!

Trong lúc Hương xin phép ra nhà sau làm thức uống, Lân nhìn theo bóng dáng người bạn tốt bụng và thân thương này, anh không làm sao quên được kỷ niêm ngày nào. Khi Tố Nga biết được tin Lân bị bắt và đưa vào Trung tâm 3 nhập ngũ, nàng tìm đến Hương để cả hai tính xem có cách nào giúp Lân không. Sau cùng mọi người chấp nhận phương cách, số là Hương có người anh họ, sĩ quan có cấp bậc khá cao đang làm việc ở Bộ tổng tham mưu. Sau khi bàn bạc với Nga và đưọc mẹ đồng ý, Hương nhận Lân là người yêu. Hai đứa chờ sau khi Hương tốt nghiệp cô giáo là làm đám cưới. Nhờ thế người anh họ Hương mới tận tình giúp đở cho cô em vốn mồ côi cha, nhiều năm qua mấy mẹ con sống đùm bọc lẫn nhau và cố giương lên tìm một chỗ đứng trong xã hội đầy khó khăn và nhiều bất trắc này.

Theo sự sắp xếp, sau khi thụ huấn ở Trung tâm huấn luyện Quang trung xong, Lân được chuyển về đơn vị trong Biệt khu Thủ đô đi dạy học ở một trường Văn hóa Quân đội. Nhờ thế Lân mới có thì giờ tiếp tục hoàn tất năm cuối chương trình Trung học cho đến khi có lệnh Tổng động viên, không có cách nào khác Lân đành xin chuyển sang sĩ quan trừ bị Thủ đức vì thời gian đi Quân dịch khi này được kéo dài thêm chứ không còn như trước đó. Mọi việc do sự sắp xếp từ bên ngoài, Lân không hề hay biết cho đến khi ông anh Hương đến tận nơi thăm viếng và báo cho Lân biết sự việc đang diễn tiến theo chiều hướng tốt đẹp, đặt Lân vào tình thế đã rồi tuy có làm cho anh khó chịu nhưng vẫn không quên sự tận tình giúp đở của nhiều người từ bên ngoài. Điều buồn cười và đáng nhớ nhất là Lân và Hương đóng cho trọn vỡ tuồng đôi tình nhân sắp cưói nhau, tay trong tay âu yếm trong suốt thời gian hai người đến thăm và cảm ơn người anh họ.

Hương trở ra với vài món ăn và thức uống, nàng vừa đặt lên bàn vừa đùa:

- Thức ăn và nước uống sẽ làm cho anh dể nuốt chứ không như những điều Hương sắp chất vấn anh đây:

- Anh có biết vì sao Tố Nga lấy Hùng không?

Thấy Lân vẫn lặng yên, nàng nói tiếp:

- Nếu nói trả thù anh thì có hơi quá đáng nhưng Hùng thì không xa lạ gì với anh, Hùng cũng đã từng theo đuổi Nga, từng làm cho anh và Nga có lúc giận nhau. Cái quan trọng là Hùng cũng phải vào Thủ đức sau anh mấy khóa. Điều này nói lên cái gì nếu không là Nga muốn chứng minh suy nghĩ và hành động của anh là sai. Đất nước trong giai đoạn này thanh niên bên này hay bên kia cũng đều đi lính, bọn con gái tụi em nếu lấy chồng thì lấy ai đây, chẳng lẽ lấy mấy ông cụ ở hậu phương hay lấy để hầu hạ mấy anh con nhà giàu trốn lính ở nhà ăn chơi phè phỡn? Ngay như Hương, người yêu của Hương bây giờ tuy là nhà gíáo nhưng cũng là sỉ quan biệt phái, một ngày nào đó khi quân đội cần thì anh ấy sẽ phải lên đường, Hương cũng đành chấp nhận thôi.

- Xin lỗi Hương, tôi nghĩ Nga lấy ai không còn là điều quan trọng trong lúc này, cái đáng nói ở đây là Nga có được hạnh phúc hay không. Thú thật tôi yêu Nga, tôi trân quý tình yêu Nga dành cho tôi và tôi lúc nào cũng muốn cho Nga được hạnh phúc nhưnng hoàn cảnh của tôi, cuộc sống rày đây mai đó, bản thân tôi chưa bao giờ thấy mình hạnh phúc thì còn nói gì đến chuyện mang hạnh phúc đến cho người khác.

- Anh Lân, đã bao năm rồi suy nghĩ của anh vẫn không thay đổi. Anh cứ mãi đi tìm cái tuyệt đối trong cuộc sống, cái lý tưởng anh theo đuổi cả đời này cho đến đời sau, chưa chắc anh đã tìm thấy. Tại sao anh không chấp nhận hoàn cảnh thực tại, thỏa hiệp với cuộc sống một cách bình thường như mọi người miễn là chúng ta đừng làm những điều phi nhân, vô đạo để phải hổ thẹn với lương tâm với người đời. Chiến tranh là mất mát là khổ đau nhưng chúng ta làm được gì đây, khóc thét kêu gào có ngăn chặn được nó chăng hay là chúng ta phải chấp nhận, bình tỉnh chấp nhận để tìm ở đó những mầm sống hay một huớng đi. Ngay như trong tình yêu anh cũng chỉ muốn cho mà không nhận lại, hành động một chiều này tự anh hủy diệt tình yêu, anh giết chết nó vì hành động đó không bao giờ đi đến một kết quả tốt cho một cuộc tình. Còn hạnh phúc trong lứa đôi cũng đâu chỉ có một người vung xén và bồi đấp mà cần phải cả hai. Thời nào và ở đâu cũng vậy, nếu người chinh phu xông pha nơi trận mạc thì người chinh phụ ở nhà làm lụng nuôi dạy các con, tuy xa cách nhưng lúc nào cũng thương nhớ và nghĩ về nhau, cho dù người chinh phụ đó có hóa đá cũng là điều hạnh phúc cho nàng!

Cô giáo Hương nhận xét về mình, Lân nghĩ cũng có phần đúng. Nếu trước đây không vì lỗi lầm hay đúng hơn là do sự thành thật khai báo về hoạt động trong thời kỳ sinh viên học sinh xuống đường, có lẽ sau khi mãn khóa ở trường sĩ quan Thủ đức, Lân sẽ được chọn đơn vị nào đó trong Miền nam thay vì bị bắt buộc ra Miền trung và những sự việc xảy ra tiếp theo sau đó, chắc không hẳn rơi vào tình huống như bây giờ.

Anh thở dài nói lời hối tiếc với Hương:

- Có lẽ chúng tôi có duyên nhưng không có phận!

Hương không phản đối và an ủi anh:

- Bạn bè thân thiết chúng mình không có mấy đứa, thú thật với anh, ba đứa bọn này từ đầu đều có cảm tình với anh, yêu cái tính gàn dỡ, bất cần đời của anh thì đúng hơn nhưng khi biết Nga tỏ ra khắn khít với anh nên hai đứa này phải rút lui mà không hề đố kỵ. Riêng với Hương, chắc hẳn anh còn nhớ những gì đã diễn ra khi anh bị bắt đi lính, Hương đã làm đủ mọi cách để cùng Nga kéo anh ra khỏi thời kỳ khủng hoảng đó. Tình bạn chúng tôi là như vậy đó, mong anh hiểu cho.

- Cám ơn Hương, tôi hiểu việc làm của Hương, tôi không bao giờ quên những gì các chị đã cho tôi từ tình bạn đến tình yêu. Tôi cũng hy vọng rằng dù trong hoàn cảnh nào chúng ta cũng cố giữ lấy nó. Tôi cũng mong các chị cũng nghĩ như vậy và giúp tôi xin Nga hãy tha thứ cho tôi.

Dường như nhớ ra người bạn nữa trong bộ ba các cô, Lân hỏi:

- Dạo này Dung thế nào rồi hả Hương?

- Chị ấy đang chuẩn bị lấy cho được cái bằng Cử nhân luật.

Lân đùa:

- May quá, nếu có chị ấy Công tố viên lại có thêm một người đứng ra buộc tội thì bị xử tử hình là cái chắc!

Hương lại ởm ờ:

- Sao có muốn gặp cô Cử không, cô ấy vẫn hỏi thăm anh luôn đó!

Lân cũng đùa lại Hương:

- Thực tế một chút có đưọc không, trước mắt đây không ‘gặp’ mà tìm ở đâu cho xa!

- Không dám đâu, mọi sự đã lỡ hết rồi người ơi!

 

(Một thời chinh chiến)

Vũ Linh

 

Tản mạn ca dao

(Tùy bút)

Ca-dao Việt-Nam là một thể loại văn-chương bình dân đại-chúng, phần nhiều

không dài, thường chỉ cần hai câu lục bát cũng đủ nói lên điều thiết yếu.

Không rõ bắt nguồn từ thời nào, ai là kẻ xướng xuất, thể tài này thông dụng khắp bờ cõi, từ ải Nam-Quan đến mũi Cà-Mâu, có thể từ đời Hùng-Vương mở nước, từ khi có tiếng nói…đến mãi bây giờ và chắc chắn còn kéo dài về sau, không hẹn mà cùng nhau, những bậc tao nhân mạc khách , hàng dân giả đa tình, mở miệng thành vần, buông lời hợp điệu, tạo ra những câu lục bát, tả tình, tả cảnh, vẽ nên những hình ảnh, để gửi gắm tâm sự, ước mơ…tràn lan trong không gian và thời gian.

Đúng như mọi người đều đồng ý, nó mang tính cách trữ-tình, tươi vui, nhiều khi đi đến hài hước, õng ẹo, ỡm ờ, dí dỏm, bình dị, phần lớn dễ hiểu, nhưng cũng có nhiều khi lắt léo, chữ dùng tùy địa phương kể luôn tiếng lóng.

Một điều không chối cãi được là thể thơ lục bát ngày nay vốn có nguồn gốc trong ca-dao dân gian từ xa xưa để dần dần đã trở thành thể thơ đặc biệt dân-tộc Việt-Nam khắp thế giới chẳng tìm đâu ra.

Nói vậy e rằng không đúng chăng? Vì người Mường, người Chàm cũng có thơ lục-bát! Ca-sĩ Chế-Linh đã trình bầy một điệu lục bát Chàm trong một cuốn băng nhạc nghe rất hay. Lại nữa, ta cũng tìm thấy trong sách vở những bàì lục bát Chàm như:

 

Nư lơi nư đí ca vanh

Kla mông pạt bạc pụ pành ten me

Nư lơi nư ránh đi me

Nư hia nư chó ngá kề hưa nư.

 

Vâng, đó là lục bát Chàm! Nhưng lục bát Chàm thì cũng là lục bát Việt-Nam vậy! Vì người Chàm, người Mường thì cũng là người Việt-Nam từ lâu, đương nhiên đang sống rải rác trên mảnh đất yêu qúy hình chữ S và hiện chỉ có một số rất ít quây quần ở vùng Bình-Thuận còn giữ mấy tập quán đặc thù làm tiêu biểu.

Những tập quán đặc thù này chỉ có tính cách địa phương, người ta thích nói thế, làm thế, thí dụ như vùng Sơn-Tây Bắc Việt có tục ăn tết lại, để kỷ niệm một thời chạy giặc, vứt bánh chưng xuống ao cất giấu, chờ khi tan giặc trở về, vớt lên, cùng nhau vui hưởng tiếp mùa Xuân…Vậy không nên vì thế mà gạt nó ra ngoài vòng quốc-gia, gây chia rẽ.

Thể thơ lục bát không có trong chương trình học vấn thuở trước. Về sau này các giáo sư có giảng qua ở bậc trung học, sách Văn-Học Việt-Nam của Dương-Quảng-Hàm cũng đề cập tới, nhưng có thể nói chẳng ai dậy ai, song chắc chắn đã là người Việt-Nam thì thể nào trong đời cũng ít nhất có đôi dịp nổi hứng làm một vài câu thơ lục bát và lục bát càng về sau càng được các tác giả thơ nôm chau chuốt thêm, nên khi đề cập tới tính dân tộc, để chứng minh điều này, Trần-Ngọc-Vượng đã nhận xét:”Đến Tản-Đà lục bát mới hoàn chỉnh.” Còn Phạm văn Diêu trong bài Ngôn Ngữ Và Giọng Điệu Thơ cũng đồng ý như thế khi viết “Sau Nguyễn-Du có lẽ Tản-Đà là nhà thơ lục bát đặc sắc nhất.” Thật là một điều rất hãng diện.

Tuy nhiên cần lưu ý một điều, thơ lục bát là thơ lục bát. Ca dao là ca dao. Lý do cũng dản dị: Bài thơ lục bát luôn kèm tên tác giả ở phần cuối, còn ca-dao thì không! Thật hãn hữu mới có trường hợp nhầm lẫn, hay nói đúng ra là sự không đồng ý, rõ ràng, thống nhất như dư luận đã đặt nghi vấn cho hai câu:

 

Hỡi cô tát nước bên đàng,

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

 

Người thì bảo đây là thơ của Bàng-Bá-Lân, kẻ lại nghĩ đó là ca dao vì hai câu không bị hơi hướng uyên thâm của văn chương bác học và nó đã nêu lên một hình ảnh vô cùng gần gụi, phổ biến, chỗ nào cũng gặp nơi đồng quê mộc mạc, người người đã thuộc và thường chỉ nhắc đi nhắc lại hai câu chẳng biết phía trên và tiếp theo sau nó còn có câu nào hay không.

Tuy xưa kia lục bát không có trong chương trình học vấn, tuy đã là người Việt -Nam ai nấy đều có hơn một lần là tác giả một vài bài thơ lục bát, nhưng ngày nay muốn làm thơ lục bát cũng có những luật lệ căn bản cần theo với những biến thể được giải thích, viết thành sách một cách cặn kẽ cho người ham học dễ bề nghiên cứu.

 

Bình : hai, sáu, tám. Trắc: tư

Phải lo giữ trọn, kỳ dư mặc tình.

Bằng không giữ được cho tinh,

Hai: trắc. Bốn: bình thế lại càng xuôi.

 

Mấy câu trên có thể là thâu gọn cách làm thơ lục bát cách căn bản, trích từ cuốn sách : Sơ Lược về Thể Lục Bát của Phạm văn Hải, in lần thứ hai 1994, ở miền Đông Hoa Kỳ.

Như vậy, tóm tắt, thử hỏi ca dao là gì nếu không phải lời ca tiếng hát của làng xóm thôn quê nước ta trải dài qua lịch sử giống nòi. Ca dao sử dụng hoàn cảnh nào, nơi nào cũng được, nó rất giầu nhạc tính, chẳng cần âm nhạc phụ họa. (Thuyết-Văn : Dao đồ ca tòng ngôn nhục thanh.) Người Việt-Nam thuở trước cả nam lẫn nữ thuộc ca dao rất nhiều, theo thiển ý không phải chỉ là để hát lên cho vui giữa lúc làm việc mệt nhọc qua các điệu hò, lý, ru con…và phổ thông nhất là nơi các điệu hát quan họ để giải trí trong những dịp hội hè lễ tết, tổng cộng có thể lên tới mấy ngàn điệu dân ca rải rác khắp thôn cùng ngõ hẻm.

Còn một điều thực dụng nữa là, cần học, cần hiểu ca dao để những khi giao tế sử dụng tiếng Việt cho dễ dàng, khúc triết khỏi ấp úng, khó khăn, dài dòng:

 

Chồng em như cột đình xiêu,

Như thân củi mục, còn yêu nỗi gì!

 

Lại nữa, người con trai khi nhìn thấy cô thiếu nữ xinh đẹp, muốn trêu ghẹo, hoặc muốn tính chuyện lâu dài trước hết đã thăm dò bầy tỏ lòng mình một cách dễ dàng và an toàn bằng cách dùng ca-dao :

 

Thấy ai anh muốn lại gần,

Cầu không tay vịn anh lần anh đi!

 

Hai câu ca-dao này có vẻ bâng quơ, hát lên như gửi vào không khí cho mây cho gió, vô thưởng vô phạt, và chắc chắn cô thiếu nữ, hiểu ngay đó là ca dao song lúc nghe chắc chắn cô lại nghĩ đó là câu nói được gửi tới cho cô, người trai hát lên là để bộc lộ nỗi lòng thầm kín với riêng cô, để rồi cúi đầu mỉm cười thẹn thùng, khoan khoái, tự hỏi thầm “Yêu em chăng?”

Thí dụ trên đây đưa đến một nhận xét lý thú, mọi người đều biết mình không phải tác giả, nhưng vẫn sử dụng ca dao y như mình là tác giả, còn về phía người nghe, cũng biết tỏng đó là ca dao nhưng cũng đinh ninh câu hát đó như thể “người ta” muốn nói với riêng mình…Chúng ta mơ màng tưởng tượng được như vậy là vì ca dao chẳng phải môn văn học VIẾT và ĐỌC mà là NÓI và NGHE.

Cũng vì ca dao là loại văn chương nói và nghe, văn chương truyền khẩu, nên ca dao không có tác giả và nó ít khi được sử dụng, trình bầy bởi một người hay một bên hát lên chẳng có người nghe, trong trường hợp “có người nghe” thì người nghe chẳng phải chỉ để…nghe mà còn để suy nghĩ xem mình sẽ phản ứng tham dự như thế nào, mình sẽ “trả đũa” bằng câu ca dao nào cho cuộc đối thoại.

Dù đang làm việc, dù đối diện, tuy gần mà xa, tuy xa mà gần, họ không nói chuyện bình thường, chỉ thay phiên hát lên những câu ca dao tựa như người viết lá thư, người nghe chính là người nhận thư và sau đó người nhận thư lại hát lên câu ca dao khác như là thư phúc đáp…

Một điểm khác, ca dao phát sinh, trưởng thành, di chuyển, biến hóa như sinh vật. Biến hóa vì nhớ không đúng một vài chữ trong câu văn nguyên thủy, biến hóa phần nào cho hợp với cảnh, tình, thủy thổ…ngõ hầu mang lấy hình thức, khung cảnh, tình thế đương đại…Bao đời ca dao được truyền khẩu từ người nọ qua người kia, vùng này sang vùng khác, đời trước tiếp nối đời sau như thế…từ xưa đến nay… không có gì trục trặc!

Để chứng minh cho sự kiện này xin dẫn ra đây tóm tắt chuyện kể nơi tập sách Phong Tục Miền Nam Qua Mấy Vần Ca Dao của Đào-Văn-Hội như sau:

Tiên-sinh Đào-Văn-Hội sinh trưởng ở Tân-An nên giới thiệu câu ca dao:

 

Ba phen quạ nói với diều,

Ngả kinh ông Hóng có nhiều vịt con.

 

Ông Hóng là một cự phú thời Nguyễn-Ánh còn bôn ba hồ hải, sông nước Đồng-Nai, một ngày kia chiến thuyền của ngài đến bỏ neo trên khúc sông Vàm-

Cỏ-Tây chẩy ngang tỉnh Tân-An. Nguyễn -Ánh thiếu lương thực, sai thị thần đến yêu cầu ông Hóng ở làng Bình-Lăng Tân An tiếp tế cho “một bữa cháo”

Ông Hóng mói đào một con kinh từ nhà ông ta thông ra sông Vàm-Cỏ đặng thuyền của ông có thể chở lúa gạo ra sông tiếp tế cho chúa Nguyễn. Con kinh ấy về sau được dân trong vùng gọi tên là kinh Ông Hóng.

Nhưng một người khác ở tỉnh An-Giang nói nơi ấy có câu:

 

Ba phen quạ nói với diều,

Cù lao ông Chưởng còn nhiều cá tôm

Cù lao này nằm trên sông Hậu Giang chẩy ngang tỉnh An-Giang…Chưa hết! Trong quyển Hương Hoa Đất Nước tác giả Trọng-Toàn lại kể ra một câu khác, tương tự nhưng có tính cách tổng quát, chung chung, không nhất thiết nói tới riêng một địa phương nào:

 

Ba phen quạ nói với diều,

Vườn hoang cỏ rậm thì nhiều gà con.

 

Qua ba trường hợp trên chẳng thể nói câu nào sai, câu nào đúng. Ba câu đều đúng! Cũng không thể nói câu nào “đạo văn” của câu nào.Chẳng biết câu nào có trước câu nào có sau Chẳng biết ai là tác giả, nhưng nó phải từ một câu rồi sau đó dân điạ phương mới cương thêm vài chữ để cho đúng thực tế. Có lẽ nhờ đặc điểm phóng khoáng dễ dàng như vậy nên ca dao đã phổ biến rộng rãi cũng như sống mãi cùng người dân hiền hòa đời nọ sang đời kia.

Tới đây chợt nhớ hai câu thơ của Dương-Khuê nơi bài Hà-Nội Tức Cảnh do học giả Thái-Văn-Kiểm trình bầy trong một buổi diễn thuyết:

 

Phất phơ cành trúc trăng tà,

Tiếng chuông Trấn-Võ, canh gà Thọ-Xương.

 

Chuông Trấn-Võ ở trong đền Quan-Thánh đầu đường Cổ-Ngư bờ Hồ-Tây Hà-Nội, ở Hà-Nội cũng có huyện Thọ Xương, giữa thành phố gần khu Nhà Thờ.

Tiện thể ghi lại, và xin đừng nhầm với hai câu ca dao vô cùng thơ mộng của vùng sông Hương núi Ngự.

 

Gió đưa cành trúc la đà,

Hồi chuông Thiên-Mụ canh gà Thọ Xương.

 

Và nhiều phần có thể từ hai câu ca dao bất hủ này mà về sau ta lại nghe phát hiện hai câu na ná, áp dụng cho một vùng trời mãi tận… “đàng trong”

 

Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Xá-Lợi canh gà Thủ-Thiêm.

 

Như trên đã giới thiệu, tính chất của ca dao gồm cả ỡm ờ, dí dỏm. Nó dí dỏm, ỡm ờ cả trong những câu đề cập tới “chuyện người lớn” một cách thật tài tình.

 

Một rằng thương, hai rằng thương,

Có bốn cái chân giường gẫy một còn ba.

 

Trên phương diện này xin đặc biệt đề cập tới bài ca dao rất phổ biến mà tin chắc là ai cũng thuộc.

 

Trên trời có đám mây xanh,

Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng

Ước gì anh lấy được nàng,

Để anh mua gạch Bát-Tràng về xây!

Xây dọc anh lại xây ngang,

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

Có rửa thì rửa chân tay,

Chớ rửa lông mày chết cá ao anh.

 

Về tám câu ca dao rất phổ thông trên đây, tôi có mấy thắc mắc từ lâu, thắc mắc vì chẳng hiểu tại sao câu thứ sắu đang nói xây hồ, mà câu thứ tám lại là ao

Thắc mắc vì rửa chân tay thì được mà rửa lông mày thì lại chết cá ao anh?

Một vị cao niên người khô như con mắm nhưng làm thơ ướt át như mới vớt dưới nước lên, trong lúc trà dư tửu hậu, nói với tôi đại ý, hồ hay ao cũng là một chỗ đất chũng có nước, hồ có khi lớn hơn ao, nhưng cũng có khi nhỏ hơn ao, mà dù to dù nhỏ thì cũng được thôi, văn chương bình dân đâu có ai khắt khe bắt lỗi…hơn nữa về phương diện âm điệu , chữ ao nơi câu tám đắc địa hơn chữ hồ, mới lại biết đâu đó chẳng qua là người xưa muốn tránh…điệp tự!

Lời phát biểu chứng tỏ tính dễ dãi, chin bỏ làm mười, dĩ hòa vi quý…đúng là một nhà thơ, chẳng lấy làm quan trọng hai chữ “Chính danh “ làm nghe tới đây tôi chợt nhớ đến bài tiểu luận nói về Khuất-Nguyên và tết Đoan-Ngọ mới đọc ngày nào đại ý…

Sử ký Tư-Mã-Thiên khi chép chuyện quan tả-đô nước Sở là Khuất-Nguyên

(343 – 277 trước Công Nguyên) tự tử ở sông Mịch-La lúc thì viết đeo đá (bội thạch) khi thì tả ôm đá

(Bảo thạch) ông vô tình cũng không “nhất trí “ quan tâm đến ngữ nghĩa dù chỉ là hai từ nhỏ làm cho Tiêu-Dĩ-Cự, một nhà nghiên cứu sử thời Mạt Minh đặt thành Mịch La nghi án! Cho nên nhiều khi xin chớ coi thường lỗ nhỏ, lỗ nhỏ cũng làm đắm thuyền và lời phát biểu của vị cao niên kia chỉ xin ghi nhận như một ý kiến cá nhân rất đáng quý, có tính cách tham dự tích cực vào việc cùng nhau thảo luận tìm giải thích cho một thể tài chung, gây hào hứng.

Còn vấn đề “Đừng rửa lông mày chết cá ao anh” thì một vị cao niên khác, uyên bác Hán học, luôn gọi tôi là tiên sinh, mặc dù tôi đã từng gõ cửa học hỏi ba điều bốn chuyện nhiều phen, cũng bữa đó cho hay, bài ca dao này thực ra còn hai câu chót

 

Có chết thì chết cá mè ranh,

Đừng chết cá trắm, chép mà anh bắt đền!

 

Tôi hơi ngạc nhiên vì chưa nghe bao giờ. Trong cuốn Ca-Dao Hài-Hước của Đào-Thản tái bản hồi tháng 8 năm 2001 ở trong nước, bài này cũng chỉ có 8 câu. Ông bạn vong niên còn lưu ý, trong hai câu cuối này, nêu lên toàn những loài cá mầu trắng, thân hình như chiếc lá, giống như cá diếc! Rất gợi hình, ví von, chúng khác hẳn loại cá xộp, cá quả, cá trê… mình tròn. Phải hiểu ngầm, ý tại ngôn ngoại, ngôn ngữ, nhất là văn chương, đôi khi không nói ra được… “sự thật phũ phàng!” Hơn nữa, đôi khi ngôn ngữ lại có nhiều nghĩa khác nhau, thí dụ, lấy ý từ tập Cửu Chương, chương Tư-Mỹ-Nhân, của Khuất-Nguyên, Tô-Đông-Pha đã viết câu thơ dưới đây và chữ “Mỹ nhân” là để chỉ “nhà vua” chứ không phải người đẹp.

Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương.

Một thí dụ khác, đọc câu ngạn ngữ “Mèo mả gà đồng” và câu ca dao “ Măng non nấu với gà đồng, chơi nhau một chuyến xem chồng về ai” thì “gà đồng” nơi câu ca dao là con ếch chứ không phải con gà như trong câu ngạn ngữ.

Nói về đám mày râu, thì trong truyện Thúy Kiều, khi tả Từ Hải “Vai năm tấc rộng thân mười thước cao”. Đọc qua thấy vóc dáng gì kỳ quái thế, mỗi thước là 0,425 mét. Vậy cha nội này chẳng đi cà-khêu mà cao hơn 4 mét! Cao quá! Kềnh càng, khác người quá! Nhưng phải tả khác thiên hạ như thế mới nói lên được cái tài năng khác thiên hạ, ý của tác giả là thế, giống như trong truyện Tam-Quốc Chí cũng vậy tác giả La Quán Trung đã áp dụng phương pháp khoa trương, phóng đại để tả hình dáng nhân vật: “hình dáng Lưu Bị mình cao bẩy thước rưỡi, hai tai chấm vai, tay dài quá đầu gối” Văn chương đâu phải khoa học mà cần rõ ràng như hai với hai là bốn, nói vậy mà không phải vậy Ca – dao cũng vậy. Hãy nghe câu ca dao dưới đây nào ai đi hỏi “Thế cái tỉnh tình tinh là cái gì?”

 

Người xinh cái bóng cũng xinh,

Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn!

 

Vâng, văn chương chẳng phải khoa học, Khoa học là rất khó và văn chương cũng chẳng dễ đâu. Mấy điều nhận xét trên đây là những đóng góp, tham dự thật hào hứng, quý báu, biết đâu, chả có qúy vị cao minh đây đó biết rành sự thật, để ý chỉ vẽ, góp ý thêm cho tác giả sau này thì “chúng tôi” thật là hoan hỷ và vô vàn cảm tạ.

Mặt khác văn chương truyền khẩu, đại chúng, tác giả phần lớn là những người bình dân ít học, ít thông hiểu chữ Hán như các vị túc nho, sáng tác ca dao Việt-Nam được vậy cũng là tuyệt vời, làm sao bì được với “kẻ sĩ”, “Văn như Siêu, Quát…” mà các vị này gặp trường hợp nói đến các chữ tục, thì lại biểu diễn, thường dùng chữ nghĩa cao siêu cho nó thanh thoát nhẹ nhàng bớt, chẳng hạn: hậu môn, tiểu tiện, cửa mình, “em ngồi bên cửa mình em!”(thơ NPL) Trong quá khứ ta cũng còn thấy nhiều vị đã phô diễn tài năng diễn tả những điều khó nói ấy trong văn thơ một cách độc đáo, tuyệt vời:

 

Đầu sư chẳng phải gì bà vãi,

Bá ngọ con ong bẽ cái lầm.

Hồ-Xuân-Hương.

 

Tuy nhiên với tinh thần cầu học, tôi chẳng muốn giữ thái độ “Biết thì thưa thì thốt, chẳng biết thì dựa cột mà nghe.” Xin mạo muội trình bầy thêm mấy ý nghĩ thô thiển, dù đúng dù sai, cũng là đóng góp phần nhỏ vào bài Tản Mạn… cho thêm hào hứng vì “Tới đây chẳng hát thì hò, Chẳng phải như cò ngỏng cổ mà nghe.” Và có điều gì không phải ước mong các vị am tường điều chỉnh cho.

Trước hết, đọc bài ca-dao trên đây ta thấy mạch văn không liền từ đầu đến cuối. Hình như có một người xướng xuất sáu câu đầu và một người khác bổ túc những câu sau. Hai người này có thể ở những vùng đất khác nhau, ở các giai đoạn thời gian khác nhau như trường hợp câu “Ba phen quạ nói với diều” Song cũng có thể cùng nhau hiện diện một lúc để cùng “tán tỉnh” cô gái trước mặt.

Dây chỉ là sự phỏng đoán vì câu thứ sáu chẳng thấy vần với câu thứ bẩy và giọng văn của sáu câu thứ nhất tao nhã, bóng bẩy, văn vẻ, trang trọng…chẳng như những câu còn lại, lời nói nôm na, thực tế gần như “toạc móng heo”, thiếu hoa mỹ. Lại nữa, chữ thứ hai của mỗi câu đều là vần trắc, hơi lạm dụng luật “Bình : Hai, sáu, tám. Trắc : Tư.”

Xin đọc lại một lần nữa hai câu này:

 

Có rửa thì rửa chân tay,

Chớ rửa lông mày chết cá ao anh.

 

Câu trên thấy hai danh từ chỉ định những phần thân thể có thể đem rửa dưới ao là chân và tay. Chân tay,nhất là chân tay nhà nông, thường díinh bụi bậm, đất cát không thải ra những chất gây cho cá chết. Vì vấn đề cân xứng, câu dưới nếu có hai danh từ chỉ định những phần thân thể không nên rửa ở dưới ao thì câu ca dao lý thú hơn. Do đó tôi nghĩ, có lẽ, xin nhấn mạnh chữ có lẽ, lông mày không phải là một danh từ, chúng là:hai danh từ riêng biệt: Lông mày và Mày! (như mắt phượng, mày ngài, truyện Thúy-Kiều có câu “Làn thu thủy, nét xuân sơn, dịch từ câu chữ Hán, Nhỡn quang như thủy, my tự xuân sơn nghĩa là mắt trong như nước mùa thu, mày như núi mùa xuân.) Vì khuôn khổ hạn hẹp luật lệ trong câu thơ nên không thể đặt “Đừng rửa lông mày và mày chết cá ao anh.” Nên ở giữa lông mày tối thiểu cần phải có một dấu phẩy, chết nỗi ca dao không phải là văn chương viết và đọc, mà là nói và nghe vậy thì làm sao đặt dấu phảy vì đặt dấu phẩy ở đâu bây giờ?

Thông thường ta hiểu tạo hóa ban cho mỗi người hai cái mày ở trên cặp mắt Trên mày có những sợi lông gọi là lông mày, giống như trên my có lông thì gọi là lông mi… Lông mày tương đối thẳng, cứng, ngắn… Phái nữ thường tô, vẽ, tỉa cho thêm phần hoa mỹ, việc này các nàng thường tự làm một mình trong phòng kín đáo, trước gương soi, ít ai có diễm phúc được săn sóc bởi người tình của mình như người đẹp Triệu-Minh trong tác phẩm võ hiệp của Kim-Dung thuở trước.

Mặt khác, nơi cuốn tùy bút của nhà văn lão thành Võ-Phiến lại thấy nêu hai câu thơ trong truyện Tây Sương Ký của Trung-Hoa được Nhượng-Tống dịch như sau:

 

Mày xanh lồ lộ vẻ xinh,

Nõn nà bộ ngực xuân tình đây vơi!

 

Hai câu thơ dịch thật là gợi cảm. Tiếp theo trong khi đầu óc còn đang lơ mơ về hai câu thơ dịch này, còn đang mường tưởng mày xanh lồ lộ song chúng nằm ở đâu cơ chứ! Thì một người bạn khác, nghe được, bèn sốt sắng bầy tỏ thêm ý kiến, nhưng cũng không dám cả quyết lắm.

Theo đó, phân tách lông mày thành hai danh từ lông và mày cũng chưa chắc đúng. Mày có thể là nhân vật chỉ định từ để cho câu ca dao mang ý nghĩa: “Chớ rửa lông của mày mà chết cá ao anh.”

Có thể lắm chứ! Tuy nhiên chữ “mày” và chữ “anh” ở đây đi với nhau quá gượng ép nên người bạn đáng kính của tôi cũng cẩn thận rào đón là tất cả những “phân tách triệt để” kia cũng chỉ là có thể. Ai mà đoán trúng được tim đen của cái anh chàng tính xây hồ bán nguyệt này, mấy câu ca dao tuy bình dân nhưng thâm sâu, hiểm hóc ghê vậy đó!

Hy vọng biết rõ ràng nghĩa của “lông mày” ta sẽ hiểu tại sao rửa lông mày ở dưới ao sẽ làm cá chết nhưng tới đây, rút cuộc thì mấy thắc mắc của tôi cũng chưa được giải thích thỏa đáng, mấy vị cho ý kiến thật là đáng quý, và mấy điều tôi trình bầy tôi chắc chắn cũng còn nhiều hời hợt, thô thiển, tôi mới chỉ nêu lên được vấn đề để suy nghĩ, tôi đã lúng túng, loanh quanh, sơ sài…như đám lính công thành bất lực, như đang ngứa lưng nhờ người gãi, mà chỉ gãi bên ngoài áo bông chẳng “đã” chút nào.

Tôi biết còn nhiều thiếu sót, có khi cả nhầm lẫn… vậy xin kể đây như mớ tài liệu gom lại chưa kịp gạn lọc, san định đàng hoàng…Như trên đã nói có điều gì không phải ước mong các vị am tường điều chỉnh, bổ túc cho.

Chưa đạt mục đích hữu ích thôi thì bài tản mạn ca dao này xin coi là để mua vui vậy, và, rất tiếc, dù chỉ mua vui nhưng cũng chẳng kéo được “Một vài trống canh.”

 

Nguyễn Phú Long

Biển cả

Mỗi lần ra phố, Luân đến duy nhất cái quán này, anh nằm dài trên ghế xếp, đọc sách báo và chờ ngắm hoàng hôn là cái thú duy nhất trong thời gian, theo anh, đây là lúc dưỡmg thương sau khi tham chiến mặt trận bắc Bình Định hơn là theo học bấc cứ khóa học quân sự nào.

Lần nào cũng như lần nào, ánh nắng chói chang từ từ chuyển sang màu tím, xa xa từng đàn chim nối đuôi nhau bay về tổ ấm, những chiếc thuyền đánh cá cũng quay về bến đậu sau một ngày vất vả kiếm ăn. Tất cả là những nét chấm phá của bức tranh hoàng hôn trên biển cả, thật lung linh và sinh động.

Trên bãi biển có những cặp trai gái thật yên bình vẫn tay trong tay, thỉnh thoảng họ dừng lại, nghịch ngọm chọc phá những con dã tràng đang ra sức xe cát. Trên đoạn đường đi qua, họ cũng để lại phía sau những dấu chân, những tiếng cười nhưng chỉ một đợt sóng là biển cả xóa sạch. Điều đó thật dễ dàng với biển cả nhưng vết khắc tình yêu đối với con người thật khó, không thể xóa đi trong một sớm một chiều. Mới hôm nào đây cũng một lần ra biển, Luân say khước đến độ quên cả giờ giấc trở về quân trường. Trong lúc đi tìm nhà trọ anh bất ngờ gặp lại Diễm, người học cũ năm xưa là cô giáo. Bố mẹ chỉ là chủ nhân của những nhà trọ dành cho khách qua đêm, trong lúc nhắc lại chuyện xưa chị không ngờ cuộc tình giữa anh và Tố Nga lại kết thúc như vậy. Diễm không bằng lòng với lối suy nghĩ của Luân, trước sau anh vẫn đổ lỗi cho chiến tranh.

Sự có mặt thường xuyên của Luân, bà chủ quán trở nên thân quen. Mỗi khi xuất trại anh đều mặc quân phục nhưng không bao giờ mang cấp bậc khi đến đây, thế mà bà chủ quán vẫn biết. Có lúc vui miệng anh hỏi và được bà giải thích: “Nghề nghiệp cho biết cứ nhìn lên khuôn mặt, nhìn vào cổ áo, thấy mỗi bên có mấy dấu khuyết là biết ngay, nếu có là Chuẩn úy cứ gọi Thiếu úy thì đã sao!”

Thấy Luân nấn ná chưa ra về, bà chủ vui vẻ hỏi:

- Hôm nay đầu tháng mới lảnh lương, Thiếu úy Luân định đốt cho hết tiền mới chịu về trường hay sao, có uống gì thêm không nào?

Luân ngồi vào quày rượu và gọi thức uống, anh ngẫm nghĩ “mấy bà này lỗ mũi thính thật, đánh hơi tiền không sai một ly, nếu mấy anh tình báo ngoài mặt trận moi tin tức được như mấy bà bán bar thì tổn thất về nhân mạng của ta có lẽ sẽ giảm thiểu không ít!”.

Nhìn vào bên trong, anh thấy có cô bé vóc dáng xinh xinh đang đứng thập thò, Luân đánh tiếng hỏi bà chủ:

- Cô bé đó là người làm mới phải không chị?

- Dạ không, nó là cháu gọi bằng Dì, cháu chỉ đến chơi thôi.

Luân đùa:

- Chà, chắc tôi phải đổi cách xưng hô, gọi bằng Dì tiện hơn là chị!

- Thôi đi ông Tướng, ngày mai cháu đi lấy chồng rồi.

Luân tinh nghịch nói một câu trong truyện chưởng mà anh đã đọc qua:

- “Lại chậm mất một bước” để em phải sang ngang, thôi thì đành hẹn lại kiếp sau…

Cô bé từ bên trong có lẽ cũng đã nghe thấy nên không nhịn được cười:

- Dì ơi! ông ấy sắp xuống “vọng cổ” đó!

Luân cười đùa:

- Tôi chỉ biết “cắt cổ” chứ đâu chỉ có “dọng cổ dọng họng” làm gì. Sợ cô bé không hiểu anh giải thích thêm, anh vừa nói vừa đưa tay lên cổ để minh họa:

- Ngoài chiến trường đối với địch tôi ít khi đánh mà chỉ biết… khẹt một cái là toi mạng!

Cô bé nghe qua câu nói tếu của anh, không biết cô ta có tin hay không nhưng vừa làm một cử chỉ rùng mình vừa nói: “ghê quá!”.

Bà chủ quán bỏ vào bên trong từ lúc nào để Luân vừa nhâm nhi ly Martell vừa trò chuyện với cô bé:

- Ngày mai bé đi lấy chồng thật à?

- Ngày mai “em đi lấy Mỹ!”

Luân nhìn sửng cô bé từ đầu đến chân, không biết vì tiếc rẻ hay vì tự ái dân tộc, anh hớp một ngụm rượu vừa nghiêm túc vừa nhỏ nhẹ hỏi:

- Bé nói thật đấy chứ?

Cô ta có lẽ khó chịu về thái độ và cách xưng hô của Luân nên phản đối:

- Ông tưởng ông già lắm hay sao mà cứ gọi người ta là cô bé, đã trên 18 rồi đó nhá, lại sắp lấy…

- … lấy Mỹ phải không?

Cô bé giải thích với vẻ khó chịu:

- Em thấy dường như… các anh có vẻ cay cú với việc lấy chồng Mỹ, thật ra anh ta là người Úc làm việc trong phi trường này. Số là em có người Dì thầu Câu lạc bộ trong đó, năm vừa qua em lại thi rớt cả hai kỳ Trung học, ba em nổi xung làm cho một trận nên thân. Chịu không nổi, em quyết định bỏ học đi “bụi” nhưng chẳng được bao lâu đành phải ra đây làm việc cho người Dì. Em gặp David, sau thời gian tụi em tìm hiểu và đi đến quyết định lấy nhau. Mới đây anh ta đã làm xong thủ tục xin cưới em, sau khi hết hạn quân dịch tại chiến trường VN, anh ta và em sẽ về Úc sống nơi trang trại của gia đình anh ấy.

Câu chuyện tuy bình thường và đơn giản nhưng có một cái gì đó chắc chắn là chưa phải do rượu, nó làm cho Luân xót xa, anh nốc hết phần rượu còn lại và lần này thì anh không còn nhận ra mùi vị của rượu mà là sự cay đắng từ đầu lưỡi dẫn lên tận tim óc anh. Trong lúc nửa tỉnh nửa say, Luân bốc đồng gạ gẫm:

- Lấy Úc hay lấy Mỹ có khác gì đâu, hay là… hay là cô em có thể đi chơi với anh đêm nay rồi mai hãy đi lấy chồng cũng không muộn? Ơ, mà em tên gì nhỉ?

Cô bé dường như đã quá quen thuôc với những lời tán tĩnh của khách trên bàn rượu hơn nữa đây là khách quen biết với người Dì nên vẫn dịu giọng trả lời:

- Em tên Nga, còn việc đi chơi với anh hãy…

Nghe đến tên Nga, Luân giật thót người, anh như tỉnh hẳn và mãi một lúc sau anh mới ú ớ:

- Lại… tên Nga, …chắc hẳn không phải… Tố Nga chứ?

- Không, Ngọc Nga.

- Này Nga cho anh hỏi thật một câu, tại sao em lấy chồng người nước ngoài mà không lấy một anh chàng nào đó người VN?

Nga cười lớn tiếng và trêu anh:

- Chẳng hạn như… lấy anh phải không?

- Xin lỗi anh, em đã từng thử qua rồi!

Không đợi cho Luân nói thêm và với giọng trầm buồn Nga kể cho anh nghe về môt quảng đời của nàng. Với cái tuổi 17, còn đang theo học dưới mái trường Trung học, do đua đòi, một phần do bạn bè rủ rê, cuối tuần họ thay nhau tổ chức party, một phong trào thịnh hành trong giới học sinh, sinh viên lúc bấy giờ, họ tổ chức nhảy nhót dù chỉ năm bảy cặp khi tại nhà khi ở vũ trường. Ban đầu chỉ uống nước chanh, nước ngọt lâu dần một chút, uống Gin cho thơm miệng để nhở “có hôn nhau” cũng không đến nổi. Bên cánh con trai thì cũng thế, tập tành một chút whiskey, một chút cognac cho hợp với thời đại mà rượu và các thứ khác, các cửa hàng PX Mỹ tuồng ra bằng nhiều cách khác nhau, đầy dẫy trên thị trường miền Nam với giá phải chăng. Cho đến một lần, những người con trai phần đông là anh em gần xa của những người bạn nàng, đồng thời cũng là kép nhảy. Họ nói với nhau về cuộc chiến, một ngày không xa họ phải ra chiến trường. Nếu lấy được cái bằng tú tài có phải ra đi cũng vào được Thủ đức, ra làm quan dù sao vẫn hơn là đi Đồng Đế hay Quang Trung, ra trường với cái “cánh gà” nơi tay áo!

Trong khi đó, ngoài mặt trận, tin tức đưa về hằng ngày, hết chiến trường này đến chiến trường khác, từ báo chí đến đài phát thanh, không ngày nào thiếu tin chiến sự. Từ nhà quàn của Quân vụ thị trấn đến đội Chung sự các Nghĩa trang quân đội, lúc nào cũng đầy ắp tử sĩ từ các chiến trường đưa về. Hậu phương thì thanh niên học sinh, lúc nào cũng mang tâm trạng âu lo, không biết “Lệnh nhập ngũ” sẽ đến với mình lúc nào, tâm trí đâu để làm ăn hay học hành. Sống và hưởng thụ vội vàng, nó trở thành phổ biến trong giới thanh niên học sinh. Và cái ngày người bạn trai của Nga phải lên đường, bạn bè tổ chức đưa tiễn, trong lúc say với men rượu và men tình, Nga cao hứng tặng người bạn trai của mình tất cả cuộc đời người con gái để tỏ lòng chung thủy với người tình trước ngày anh ta lên đường. Mấy tháng sau chưa kịp làm đám cưới như anh ta đã hứa, từ mặt trận Miền Trung người ta đưa xác anh về với gia đình.

Nga khóc, khóc cho tình yêu, cho thân phận người con gái mới 17 tuổi đầu đã trở thành góa phụ, khóc cho tuổi trẻ VN và rồi nàng không còn tâm trí đâu để học, thi rớt là điều không thể tránh khỏi. Trước sức ép của gia đình, Nga đành bỏ nhà ra đi, nàng đến sống với những người quen đang làm nghề vũ nữ. Nàng gia nhập vào đạo quân “cái xanh cái đỏ”, sống với những cái ticket tương đối lương thiện được chia chác hằng đêm. Đến một lúc Nga nhận ra mặt trái của nghề này, nàng không thể dấn thân xa hơn nữa và tìm về làm việc cho người Dì.

Kể cho Luân nghe một giai đoạn trong cuộc đời nàng đã trải qua, Nga kết luận:

- Nếu cuộc chiến này cứ kéo dài, bên này lẫn bên kia mỗi người con gái như tụi em phải lấy bao nhiêu lần chồng để không trở thành góa phụ?

Luân không tìm thấy câu trả lời và cũng không ngờ những suy nghĩ của Nga, những người con gái tuy ở hậu phương nhưng chiến tranh cũng đã làm cho suy nghĩ của họ già đi trước tuổi. Và anh chưa biết phải trả lời thế nào. Nàng lại nói:

- Vì thế anh đừng trách, mọi người đừng trách tại sao có một số con gái nếu có cơ hội là lấy chồng người nước ngoài. Tuy rằng trong số những người này có cùng một hành động nhưng không hẳn suy nghĩ giống nhau. Người ta lấy Mỹ, lấy người nước ngoài rất có thể vì hoàn cảnh, vì chiến tranh làm cho bản thân và gia đình họ nghèo đói nhưng cũng có thể vì nhiều lý do khác. Riêng Nga, nhìn vào những người thân, bạn bè và cứ phải từng ngày đếm xác họ từ ngoài mặt trận mang về. Nga buồn nản quá, muốn xa rời quê hương, từ bỏ một đất nước mà chiến tranh cứ mãi kéo dài hết năm này sang năm khác, hết thế hệ này sang thế hệ khác, để tìm đến một nơi nào đó thật an bình cho dù phải vất vả để kiếm sống.

Luân tiếp tục đốt hết điếu thuốc này sang điếu khác, nghĩ về những gì người con gái tên Nga này nói, cho đến lúc nàng nói lời sau cùng:

- Thôi nhé ông Tướng, cho dù có “đi chơi với anh đêm nay để ngày mai đi lấy chồng” thì câu chuyện anh sẽ nói với Nga cũng không ngoài vấn đề chiến tranh, chuyện người lính ngoài chiến trường bởi vì chính những thứ đó đã làm cho tâm hồn, cho trái tim mỗi chúng ta chết dần chết mòn. Cho nên không còn gì để mà mơ mộng hay để nói lời yêu đương đúng nghĩa của nó. Và nếu Nga phải nói với anh thì cũng chỉ nói ngần ấy, còn đúng hay sai thì tùy anh suy nghĩ và phán đoán. Dù sao em cũng đã từng là vũ nữ, ngoài những bước nhảy đẹp còn biết cách nói cho vừa lòng khách phải không anh?

Trên đường về tuy thấm mệt nhưng Luân muốn bước thật nhanh để đến một nơi nào đó gặp lại Diễm, gặp lại Hương và cả Tố Nga nữa, trả lời câu hỏi của những người bạn này đã đặt ra về tình yêu và chiến tranh.

 

Vũ Linh

 

 

Quà cáp

Bà ơi! Cháu rất yêu bà
Đi đâu bà cũng mua quà về cho…

Trên đây là hai câu thơ của một bài học thuộc lòng trong sách giáo khoa cấp tiểu học, phổ biến rất sâu rộng, hầu hết mọi người đều biết, lâu lắm rồi, mô tả tâm trạng em bé có bà nội, bà ngoại đi đâu, lúc trở về, cũng không quên mua đồng kẹo bột, cái bánh đa, hay mấy quả ổi, quả mận, để vừa bước qua ngưỡng cửa, đã cố đứng cho thẳng cái lưng còng, với lòng sung sướng, vừa cười vừa đưa cho cháu nhỏ, cho cháu nó mừng, nó yêu.

Đó là hình ảnh quen thuộc nơi khung cảnh nhà quê quê nhà, ở đấy trẻ em ít khi biết đến và mơ tưởng các thức bánh trái ngon lành, đắt tiền nơi tỉnh thành, nên quà chỉ là mấy trái chuối củ khoai, bình dân, ăn chơi chơi ngoài bữa cơm, có thì làm liền, không có thì thôi, chẳng sao, vậy mà mỗi lần đang mải mê nô đùa cùng bạn hữu trước ngõ, bỗng cảm thấy một bàn tay quen thuộc nhẹ nhàng đặt lên vai, bàn tay da đã nhăn nheo vì tuổi tác, bàn tay già nua mà mềm mại, bọn trẻ chợt ngước nhìn lên, lập tức biểu lộ ánh mắt reo vui: “Cháu rất yêu bà, bà ơi!”

Chẳng những bà cháu trong gia đình, không phải chỉ ngày xưa mới thế, như một tập tục phổ biến, tới bây giờ ai nấy đều biết, mọi người thân thuộc, bằng hữu, gần xa đối với nhau, tùy theo tuổi tác, tùy theo hoàn cảnh, thường thù tạc tương tự mỗi lúc đến thăm nhau, mỗi lần đi xa về hoặc ngay cả khi không gặp mà nhớ thương nhau cũng vậy.

Cũng vậy, nhằm mục đích biểu lộ tình thân thiết, vào mấy dịp có tin mừng, lễ hội trọng đại, như là thi đậu, Tết Nguyên Đán, Giáng Sinh, đám cưới… chúng ta tặng quà qua lại cho thêm gần gụi, vui vẻ, tưng bừng.

Được tin ngày mai có bạn cũ từ Huế đáp xe lửa vào chơi phải không? “Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ!”. Ôi chao là vui, cũng lâu lắm chừ mới gặp, và còn vui hơn nữa, không chờ đợi, nhưng thật bất ngờ, ngay tại sân ga, khi mới nhìn thấy cố nhân, thấy ngay mấy chiếc nón bài thơ mỏng mảnh dễ thương làm sao, sau đó, về nhà, khách lại còn mở túi hành lý để trịnh trọng lên bàn vài hộp mè xửng, chưa ăn đã cảm được cái vị thơm phức, ngọt lừ. Bạn phương xa tới lễ mễ, ôm đồm vài món sản phẩm địa phương làm quà, nghe gia chủ hân hoan khách sáo trách yêu: “bày vẽ quá”, mà bụng dạ hài lòng, thoải mái, hết cả nỗi mệt nhọc, bụi bậm đường dài.

Ở Hà Nội có món cốm làng Vòng thơm ngon nổi tiếng, thật là đặc biệt, năm nào, cứ vào dịp tết Trung Thu, khoảng tháng 8 âm lịch, thím Giáo bán vải ngoài chợ Đồng Xuân cũng nhớ gửi máy bay vô Sài Gòn vài cân, ủ trong lá sen, gói ghém cẩn thận cho ông anh ruột, dân di cư từ 1954, thưởng thức. Ông anh cư ngụ tại Sài Gòn đã mấy chục năm với nhà cửa, công việc, con cái… như gốc cây cổ thụ, chả muốn nhổ rễ trở về, ở đâu âu đó, ở đâu thì cũng là quê hương.

Còn cái chuyện người bốn phương bây giờ, mỗi lần về thăm cố quận, khi đi thân thuộc ngóng chờ, lúc về gia đình bè bạn mong đợi khiến cho hành lý qua lại bên ni bên tê, ôm đồm, cồng kềnh như kẻ buôn bán hàng xách, chắc chẳng nói ai cũng rõ.

Huế có nón bài thơ, mè xửng, Hà Nội có cốm Vòng… những món đặc sản thổ ngơi nổi tiếng thật quý để làm quà khi di chuyển từ nơi nọ sang nơi kia, nay giả dụ từ bờ Thái Bình Dương làm một chuyến đông du tới gần tượng Nữ Thần Tự Do cách xa cả mấy múi giờ hoặc là bất cứ từ đâu tới đâu, Đông,Tây, Nam, Bắc… thật là lúng túng, chẳng biết kèm theo hành trang ta sẽ mang thứ gì để làm quà cho người sở tại. Phải chăng vì thế mà dân Âu Mỹ đi đâu không thấy họ đặt vấn đề quà cáp, gặp nhau thăm hỏi chuyện trò, kéo nhau đi ăn nhậu rồi có thể sau đó họ còn lấy khách sạn để ở chứ chẳng muốn phiền phức.

Hành sử như thế cả chủ và khách đều thoải mái, không phải bận tâm lo cho nhau, nhưng quả thực, làm vậy, nó thiếu cái tình gần gụi “đêm nằm năm ở”, thiếu cái nợ nần ân nghĩa, qua lại, khiến cho hai bên như còn một khoảng cách, mà phần lớn dân Việt Nam chưa chấp nhận được. Bạn từ xa đến ư? Bổn phận của bạn là phải ăn ở tại nhà tôi bất kể bạn giầu hoặc nghèo, và đấy cũng là nhiệm vụ của tôi dù tôi có cung cấp đủ tiện nghi hay thiếu thốn, nếu không thì làm sao còn nhìn mặt nhau nữa.

Phần nhiều trong chúng ta chẳng chấp nhận sự sòng phẳng quá Âu Tây như thế, đôi khi có cơ hội mình còn tạo dịp để hai bên thêm gần gụi nhau hơn. Một lần cùng đứng bên “dậu mồng tơi” nói chuyện nắng mưa, tôi móc bóp trả ông bạn hàng xóm mấy chục mượn bữa trước, khi dắt nhau đi phố. Bà mẹ các con tôi cằn nhằn, thiếu tiền thì đừng mua sắm, sao lại vay mượn cho phiền phức! Phiềi phức chi đâu! Tôi không đồng ý. Tôi có thể trả check, trả bằng credit card, hoặc là không mua bán, nhưng tôi muốn nhân tiện thì mượn đỡ, có qua có lại, hàng xóm, tối lửa tắt đèn, cứ giữ kẽ thì người ta khi cần cũng cố gắng tự túc, chẳng dám đề nghị với mình điều gì.

Ý nghĩa của quà cáp thực đẹp, nhưng đôi khi cũng bị lạm dụng để mưu cầu lợi danh, theo nguyên tắc “ông mất cái giò, bà thò chai rượu.” thường là giữa cấp dưới đối với quan trên, mục đích của nó, trường hợp này chẳng đẹp chút nào, kẻ cho hẳn biết, người nhận hiểu rành, xin miễn nói tới cặn kẽ, chỉ kể sơ qua một đoạn trong sách Cổ Học Tinh Hoa, tóm tắt đại ý, có gã thuyền chài hý hửng đem biếu quan lớn sở tại, con cá chép tươi rói, mới lưới được từ dưới sông, nhưng quan không nhận, làm hắn buồn bã tiu nghỉu xách cá cáo lui.

Bà lớn ngồi trong rèm thấy vậy, chẳng biết vì tiếc rẻ hay thương kẻ dân đen, hỏi, quan rất thích ăn cá, nhất là cá chép, loài cá ông Táo dùng cưỡi lên trời dịp cuối năm, cá này ít xương, thịt trắng, thơm, chiên ròn thật ngon mà nấu canh chua lại càng tuyệt, vậy sao có người mang cho lại từ chối? Quan trả lời, cũng vì rất thích ăn cá, còn muốn tiếp tục có cá mà ăn nên phải từ chối. Chuyện này rất thâm thúy, nêu gương lành mạnh, đạo đức, có giá trị như một bài học, đáng suy nghĩ nhất là đối với các vị ăn trên ngồi chốc.

Quà cáp nói chung là vật tặng biếu để tỏ lòng quan tâm quý mến. Đôi khi nó rất nhỏ, rất tầm thường như củ khoai, khúc sắn, đôi khi nó rất lớn và hiếm quý như vàng bạc, hột soàn, xe hơi, nhà lầu, nó là vật chất mà ta thường thấy, song nó cũng là tinh thần như tặng nhau một bài thơ, bức vẽ, nhưng chảng hiểu nó có thể là… quà vợ! Trong câu “cơm nhà quà vợ!” chăng?

Cho là nhận. Cho cái vật chất để nhận cái tinh thần, giữa một bên là vật chất, một bên là tinh thần khó so sánh, và có lẽ, đôi khi, những gì nhận lại còn lớn hơn là phần cho.

Chữ “quà” thì dễ hiểu rồi, một mình chữ quà cũng đủ rồi, nhưng sao lại thêm chữ “cáp”, chữ “cáp” nghĩa ra sao, thú thực cũng hơi lúng túng! Tại sao nó lại đi kèm chữ quà! Tầm nguyên tiếng Việt thật khó. Nhân dịp này, nên tìm học rõ ràng. “Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”. Bèn gõ cửa bằng hữu, vài người còn coi trọng, giữ gìn, nếp sống, tư tưởng chưa xa hẳn với thời buổi cũ, ấy thế mà cũng sau mấy bữa đợi chờ ngong ngóng mới có tiếng chuông điện thoại hồi âm của bạn già Trần Quốc Bảo, ông cựu chủ tịch Văn Bút Miền Đông Hoa Kỳ này tính cẩn thận, rào trước đón sau, đối với anh em lúc nào cũng trân trọng, ông cho biết, với sự dè dặt là chữ cáp nguyên thủy có thể là cấp, như cấp bổng, cấp dưỡng… Rồi về sau người ta đọc trại ra là cáp. Quà và cấp là hai sự việc rất giống nhau, rất gần nhau nên thường đi liền nhau như ăn uống, chợ búa… nghe cũng có lý.

Trong lịch sử văn học Việt Nam có lẽ thi sĩ Tản Đà là người nhận được nhiều quà hơn ai hết, quà có thể là tiền (Năm 1927 ông Diệp Văn Kỳ ở Sài Gòn cho một ngàn “muốn làm gì tùy ý”) Có thể là bao phí tổn cho một cuộc rong chơi (Ông chủ nhà in Đắc Lập Bùi Huy Tín mời vào Huế du Xuân Tân Dậu) nhưng phần lớn là mấy món ăn ngon mà Tản Đà ưa chuộng, hào hứng, luôn luôn khen ngợi, tấm tắc khi được mời thưởng thức “Tối hôm trước cỗ lòng, sáng hôm sau cỗ thịt, ở châu Thanh Sơn, hai bữa cỗ thật có giá trị”. Thi sĩ thờ chủ nghĩa khoái lạc, chữ của Vũ Ngọc Phan, còn kể lể nhiều hơn nữa trong bài “Thú Ăn Chơi”, chẳng hạn: “Tầu qua cửa bể Tourane, người ta đem những rọ hà lên bán thật tươi ngon”. Có người biết vậy bèn đem cho hà, và sau đó ông làm mấy câu thơ cám ơn:

 

Cám Ơn Người Cho Hà.

 

Đương trưa bữa rượu nhà nho

Có anh cầm giấy đem cho rọ hà.

(trích trong Tản-Đà Vận Văn)

 

Tại sao Tản Đà nhận được nhiều quà như thế?

Tản Đà không làm quan để cho mấy người như gã thuyền chài o bế mưu cầu này nọ. Cũng chẳng giầu sang khiến kẻ khác mong nhờ vả mượn vay. Vậy thì tôi xin tạm chấp nhận là vì ông đáng yêu! Yêu gì? Yêu tài, như chính Tản Đà đã giải thích:

Cám ơn hai chữ “Yêu tài”,

Con đường thiên lý còn dài tấc son.

Tản-Đà, Chơi Huế.

Quý vị hảo tâm “yêu tài” hẳn không bao giờ chờ đợi sự đáp lễ. Còn Tản Đà được quà thì chỉ biết cảm ơn thôi chứ cũng chẳng làm gì hơn được, ngoại trừ trường hợp liên hệ với nữ sĩ Song Khê trong chuyện “Rau sắng chùa Hương” sau đây:

Tháng 3 hàng năm là thời gian chùa Hương mở hội, người từ mọi nơi, thiện nam tín nữ, ông già bà lão, tham dự đông như nước chảy, dịp này thi sĩ Tản Đà nhớ tới món rau sắng, một thổ sản ở chùa Hương, nấu canh ăn rất ngon, muốn ăn mà ngại đường xa tốn tiền đò, đành ở nhà dùng dưa khú, cà thâm, mới tâm sự qua mấy câu thơ in trên một tờ báo như sau:

Muốn ăn rau sắng chùa Hương,

Tiền đò ngại tốn con đường ngại xa.

Người đi ta ở lại nhà,

Cái dưa thời khú cái cà thời thâm.

Sau đó câu chuyện còn tiếp tục. Nơi cuốn “Truyện Thế Gian” của Tản Đà, tác giả kể rằng:

“Khoảng tháng 3 năm nay, tôi có tiếp được một gói gửi nhà giây thép cho, ngoài bọc giấy, trong là rau sắng.”

“Không thấy có đề tên người gửi, xem dấu nhà giây thép, chỉ biết là từ Phủ Lý gửi lên. Lại cài phong thư cùng tiếp nhận mở xem chỉ thấy ở mảnh giấy có mấy câu lục bát, tức là lời gửi rau sắng; trên không đề là ở đâu gửi đến, đi vào ngày hôm nào, dưới ký tên như một người đàn bà con gái.”

“Lạ thay! Không biết ai! Nhưng hẳn là “một người tình nhân không quen biết” đây. Nay đã không biết trả lời về đâu mà cảm ơn, vậy nhân “Truyện Thế Gian” Kính xin nói mấy lời cảm tạ dưới bức ngọc thư của ai và xin lục y nguyên văn”

 

Nguyễn Tiên sinh nhã giám,

 

Kính dâng rau sắng chùa Hương,

Đỡ ai tiền tốn, con đường đỡ xa.

Không đi thời gửi lại nhà,

Thay cho dưa khú cùng là cà thâm.

Đỗ Tang Nữ bái tặng.

 

“Gửi lại nhà” có lẽ gói rau sắng đã được gửi tới Tản Đà từ Thư Điếm ở Hàng Gai Hà Nội, nơi ông đang hoạt động lúc bấy giờ, chứ hai người chưa quen biết nhau, sao có địa chỉ nhà riêng được.

Đoạn văn trên trích từ cuốn Tản Đà Vận Văn do người anh ruột của tác giả là ông Nguyễn Mạnh Bổng, chủ nhân nhà xuất bản Hương Sơn ấn hành

(theo sách này thì về sau thi sĩ Tản Đà cũng biết người gửi rau sắng là Song Khê). Và tiếp theo, nơi sách đã dẫn, ngay đó còn có “Mấy lời cảm tạ”.

 

Mấy lời cảm tạ tri âm,

Đồng ban là nghĩa, đồng tâm là tình.

Đường xa rau vẫn còn xanh,

Tấm lòng thơm thảo, bát canh ngọt ngào.

Yêu nhau xa cách càng yêu,

Dẫu rằng xuông nhạt càng nhiều chứa chan.

Nước non khuất nẻo ngư nhàn,

Tạ lòng xin mượn “Thế Gian” đưa tình.

Nguyễn-Khắc-Hiếu bái phục.

 

Câu chuyện “Rau sắng chùa Hương” tới đây cũng chưa chấm dứt, theo cuốn Việt Nam Tinh Hoa của Hương Giang Thái Văn Kiểm thì cho đến năm năm sau, năm 1928, Tản Đà đã được một văn hữu đưa đến thăm Song Khê, chuyện trò khoảng nửa giờ ở Kiến An, nhưng không hề giới thiệu và cũng mãi sau này nữ sĩ mới hay.

Tản Đà được Song Khê gửi biếu rau sắng mà không biết ai. Song Khê có quý khách đến thăm cũng chẳng rõ đó là Tản Đà. Cổ nhân ta xưa kia tuy nghiêm túc, trang nhã, trịnh trọng mà đôi lúc cũng hay bày trò ú tim, ỡm ờ, dí dỏm.

 

Nguyễn Phú Long

 

Đọc Trần Hoài Thư

1. Tôi không nhớ đã đọc những tác phẩm Trần hoài Thư từ bao giờ và ở đâu? Rất có thể trong một lần thắng trận, được đơn vị tưởng thưởng mấy ngày phép, từ núi rừng xứ Thượng về Saigon rong chơi. Tưởng cũng nên nhắc lại Thủ đô dạo ấy, bát phố với các em, trên tay các cậu thường cầm một tạp chí nào đó để làm duyên hay ra cái điều ta đây cũng văn gừng văn nghệ. Với tôi điều này không thể chối cải nhưng điều đáng nói: đi với các em gái hậu phương nhẵn túi, sau đó phải nằm nhà có cái để mà đọc! Nhưng cũng rất có thể trong một lần thua trận ở Bình định, bị thương phải nằm Quân y viện và những năm tháng kế tiếp, giả từ chiến trường, thời điểm có nhiều thì giờ nhất để đọc, suy ngẫm, viết lách và nổi loạn để rồi tiếp tục đi lưu đày Darto lần thứ hai sau hai năm phục vụ tại một đơn vị gần Sài gòn.

Bây giờ được sống trên nước Mỹ. Nếu phải nói lời càm ơn tôi không biết phải cám ơn ai? Mỗi chế độ cầm quyền trên quê hương, tôi đều bỏ ra hai mươi năm để làm thằng dân của họ. Hai mươi năm đầu chiếc lá non bị gặm nhắm trong canh bạc bịp, hai mươi năm sau sâu bọ tiếp tục gặm một nữa chiếc lá còn lại. Còn ở Mỹ thì tuổi 64 tôi vẫn phải làm việc một ngày 12 tiếng để giải quyết nhu cầu như mọi người trong một xã hội Tư bản.

Cái còn lại, xứng đáng để tôi nói lời cám ơn chính là bạn bè, những người cùng khổ trên chiến trường cũng như trong lao tù CS. Trong số những người này phải kể Trần Hoài Thư. Vì rằng theo thời gian, tuổi tác và hoàn cảnh sống, tôi tưởng chừng như đã quên mọi cái nhưng Trần Hoài Thư qua những tác phẩm mới đây, anh nhắc tôi về một vùng đất, một đơn vị nơi đó tôi đã sống và gắn bó với nó hơn một nửa đời lính. Bảy năm trong 2 lần góp mặt nơi chiến trường Tây nguyên và Duyên hải Bình Định mà còn sống cũng là ơn phước! Từ vùng đất bị bỏ quên Darto đến Bình Định, Nha Trang hay Ban Mê Thuột. Những địa danh ở đó chúng tôi cứ phải mất dần những người bạn, những đồng đội trong một chiến trường: “chúng tôi không thể liệng lựu đạn xuống hầm một cách điên cuồng mà phải nạt, phải gào, phải dọa, để đám dân, gồm đàn bà, con nít từ dưới hầm chui lên để họ còn được sống. Chúng tôi không thể đá vào người đàn bà có bầu, dù biết rằng tác giả cái bầu kia là một tên du kích.. Chúng tôi dí nòng súng vào màng tang ông già, bà lão, dọa bắn nhưng không thể bóp cò. Chúng tôi muốn đốt hết nhà, muốn phóng hoả cả làng để trả thù, nhưng chúng tôi cũng đành bất lực. Chúng tôi phải chiến đãu trong sự dằng co của lương tâm và thù hận…” (Đánh giặc ở Binh Định, THT trang 30-31).

Đọc Trần Hoài Thư chúng ta phải công nhận anh viết nhiều và viết không mệt mỏi về bạn bè đồng đội, đặc biệt về những người lính cận kề bên cái sống và nỗi chết. Chẳng những bản thân những người này ngay cả gia đình vợ con họ, đều phải sống trong nhọc nhằn gian khổ và chết chóc nhưng họ vẫn hào hùng trong chiến đấu và giàu lòng nhân đối với mọi người kể cả những người bên kia chiến tuyến. Họ bất bình trước hành động điên rồ của một số người lạnh máu “Đã là xác chết mà người ta lại không chiụ buông tha… người ta mang mười mấy xác chết đặt nằm trước Quận, gọi là ăn mừng chiến thắng… Chiến tranh là vậy… Nhưng ít ra mình còn hơn VC, bởi vì mình có quả tim. Mình còn có tình người. Mình có Chúa có Phật…” (Thế hệ chiến tranh THT trang 122).

 

Đối với Trần Hoài Thư, anh là một nhân chứng, không phải một lần mà nhiều lần và không phải trước một người chết mà một nửa Đại đội, một thế hệ. Anh viết, vì trước biên địa của tử thần bạn bè anh đã nói: “Mày là Nhà văn. Tao là đọc giả của mày. Mày phải sống. Mày nghe rõ chưa. Mày phải sống để mà viết lại… Mày hảy nói cho mọi người biết về những cái chết chó má như thế này… “Cũng vì anh là người sống cho sự thật và chứng nhân của sự thật chứ không phải một chứng gian, anh viết để lột trần cuộc chiến vừa qua, để nói về cái thiện và cái ác chứ không viết để tung hô để tuyên truyền cho bên này hay bên kia. Tôi thích đọc Trần Hoài Thư bởi lẽ đó.

 

2. Tôi nghĩ mỗi dân tộc có một nền văn hoá riêng, mỗi tác giả có một hoàn cảnh sống, cách suy nghĩ và một lối viết đặc thù nên không thể lấy ông Tây bà Đầm nào để làm khuôn vàng thước ngọc phê phán một tác giả hay tác phẩm như các Nhà phê bình vẫn thường làm. Hơn nữa, điều tôi muốn nói “phê bình” không phải là việc làm của tôi; tôi chỉ là một độc giả. Đọc và cảm nhận với Trần Hoài Thư một Nhà thơ, một Nhà văn thuộc thế hệ chiến tranh. Vì thế, tôi nghĩ THT đã nói hộ chúng tôi, bởi vì tuổi trẻ khi này đều có cùng một suy nghĩ: Ở bên này, đời lính là cái nghiệp oan khiên phải trả, bên kia là thúc ép, là tiêu chuẩn là miếng cơm manh áo cho bản thân cho gia đình, không ai còn con đường nào khác để chọn lựa. Cái còn lại duy nhất là tình người, cho dù bên này hay bên kia, dù Bắc hay Nam, dù ý thức hệ có khác.

Trong tập truyện Ban Mê Thuột Ngày Đầu Ngày Cuối, Trần hoài Thư “đi lại” một số truyện viết trước 1975 đăng trên Bách khoa và Văn… Truyện Quán Biên Thùy, tôi nhớ đã đọc ở đâu đó khá lâu được đi lại trong Ra biển gọi thầm. Tôi nghĩ đó là những mẫu chuyện rất thật, rất có giá trị và cũng rất nóng, từ mặt trận gửi về hậu phương, sự mất mát, cái cơ cực, nổi cô đơn của người lính, cái phi lý của chiến tranh… kèm theo một số xác chết của bên này, sự tàn ác dã man của bên kia như một thông điệp cảnh báo về sự tàn bạo của chiến tranh, sự mất mát to lớn của từng gia đình để gửi về Thủ đô hai miền, nơi rất ít người biết sự thật về chiến tranh nhưng ở đó lại là nơi xuất phát những mệnh lệnh, bắt tuổi trẻ chúng tôi moi gan lấy mật, tàn sát lẫn nhau càng nhiều càng tốt.

Một câu hỏi khác được đặt ra khi đọc Trần Hoài Thư, anh là một Nhà văn phản chiến? Chủ quan tôi nghĩ, vấn đề không thể hiểu một cách đơn giản như vậy. Ở một nước Tự do Dân chủ như Mỹ, phong trào phản chiến có thể làm đổ vỡ đường lối chánh sách chiến tranh của Chính phủ. Nhưng VN và các nước, nền Tự do Dân chủ chưa phát triển cao, phản chiến qua các loại hình chỉ có tác dụng nhắc nhở, kềm hảm một phần nào trong giai đoạn Độc tài quân phiệt, chế ngự trên sân khấu chính trường hay lảnh đạo đất nước. Họ tự cho mình cái quyền bắt đục bỏ những đoạn văn, những bài viết kể cả bỏ tù hay ám sát những người và những ai có hại đến chế độ. Tệ trạng này cho đến nay vẫn còn tiếp diễn trên quê hương ta. Phản chiến ở miền Nam trong cuộc chiến vừa qua tuy có nhưng chưa đủ mạnh, tác dụng không đáp ứng với yêu cầu. Có lúc có nơi nó như một loại hình để thư giản tinh thần những người tham chiến, giải toả một phần nào về sự tàn bạo, thảm khốc của chiến tranh như trường hợp nhạc Trịnh Công Sơn. Những người lính trước đây, sau cuộc hành quân trở về, ra phố ngồi nhâm nhi ly cà phê, thấm thía với lời nhạc Trinh Công Sơn nhưng nó là một cái thú không hơn, không phải ai nghe nhạc họ Trịnh đều bỏ ngủ hay buông súng. Ngay trong căn cứ Trung Ương Cục Miền Nam, cơ quan đầu não của những tay khát máu, nướng quân như nướng cầm thú, Quân đội ta còn tịch thu được những Tape nhạc Trịnh công Sơn . Như vậy không thể nói những Nhà văn phản chiến hay nhạc Trinh công Sơn đã làm cho Miền nam bị mất vào 30/4/75.

Trong Quận đội, những người trước đây dù tình nguyện hay động viên, ra trận đánh nhau ai lại không hơn một lần nghĩ đến huy chương, cấp bậc hay chức vụ. Thậm chí có những anh lính nghề, không phải một lần mà nhiều lần tuyên bố với đồng đội, bạn bè: Bây giờ tao là Thiếu úy nhưng tương lai tao sẽ là Tướng! Nói chung những ai đã trải qua Trung đội trưởng đơn vị tác chiến. Có thể do bạn bè, một cái bắt tay khen ngợi của một ông Tướng, một lời khuyến khích của cấp chỉ huy trực tiếp, hay cũng có thể vì cái tên gọi “Chuẩn úy sữa” nên tự lên dây cót làm người hùng của đơn vị. Và cũng có thể để chứng tỏ mình không phải một tên hèn đối với thuộc cấp như trường hợp cái chết của Thiếu úy Minh trong Đánh Giặc Ở Bình Định (THT, trang 123-124), anh lao vào chiến trận như một tên điên khùng. Chính Trần Hoài Thư cũng phải công nhận cái điên khùng đó có diễn ra, nhưng mặt khác “… nhờ nó tôi mới hiểu cái tàn bạo của con người, của chiến tranh, của hận thù, và những tay chỉ biết xúi tuổi trẻ ra chiến trường để chết thế …” (Đại Đội Cũ & Trang Sách Cũ, THT trang 11)

Trần Hoài Thư, sau những năm lăn lộn ngoài chiến trận, anh cũng đã nhận ra: “… từ khi nhận thức được sự thật về chiến tranh, về những người trẻ chúng tôi trong lò lửa, về những giọt nước mắt của người mẹ, người yêu, đứa con, về cái phi lý khi tuổi trẻ hai bên mổ mật mổ tim nhau trong khi những kẻ ở nhà hả hê xúi dục.” (Thế Hệ Chiến Tranh, trang 41). Bởi những lẽ đó, anh là Nhà văn nên anh mong có thì giờ và hoàn cảnh để viết, viết về một cuộc chiến quái lạ và sự tàn bạo của nó để kẻ trong cuộc hay người đời sau đọc và suy ngẩm. Và nếu không ai cho anh cơ hội thì anh tự tạo lấy, còn phản chiến hay không, tôi nghĩ không quan trọng. Trần Hoài Thư vẫn chiến đãu trong cương vị của anh là một Phóng viên chiến trường hay cũng có thể nói, tiếp tục làm Nhân chứng cho đến ngày cuối cùng của chế độ và còn đi tù CS 4 năm để sau đó có thêm dữ kiện viết lách về chiến tranh. Thái độ của Trần Hoài Thư, tôi nghĩ không phải thái độ của một người phản chiến. Cho đến bây giờ trên mặt trận Văn bút anh vẫn đánh kẻ thù không khoan nhượng chỉ vì “họ không tôn trọng sự thực, họ vu khống, bôi bẩn đồng đội bạn bè anh, những người lính Thám kích cho dù anh vẫn biết tâp quán xã hội họ đang sống là phải nói dối để sinh tồn.” (Đại Đội Cũ & Trang Sách Cũ – trang 99). Đó là chưa nói thái độ Trần Hoài Thư sau 30/4/75, những ước mơ của anh trước đây hoàn toàn sụp đổ khi nhận chân sự thật về những người phía bên kia trong cách đối xử với đồng loại cũng như dã tâm của họ sau khi chiến tranh chấm dứt. Chẳng những bất hợp tác anh còn tìm đường ra đi, vì “Tôi đã bị lầm một lần, không thể bị lầm một lẩn thứ hai” (Ra Biển Gọi Thầm – trang 74). Điều này chúng ta đọc thấy đều khắp ở Ra Biển Gọi Thầm, tác phẩm đầu tiên sau 1975 cũng như những tác phẩm sau đó. Có điều anh không vạch ra lằn ranh hay chủ nghĩa nào đúng sai, anh chỉ nói đến những con người, những cây sậy biết đau, sự chiến đãu giữa thiện và ác về những thảm kịch…, anh không phải là một Nhà chính trị, anh chỉ là một Nhà văn nên anh có cách nói và ngôn ngữ riêng của anh.

 

3. Văn học Hải ngoại, có thêm một tác phẩm ra đời để lắp vào cái khoảng trống nền Văn học Dân tộc là điều đáng hoan nghênh, mỗi tác giả có một cách viết riêng cùng là Hoài niệm nhưng mỗi người có những hoài niệm khác nhau. Người hoài niệm một thời oanh liệt đã mất, cảnh gian khổ và thù hằn trong lao tù. Cũng có người lấy cuộc chiến vừa qua làm bối cảnh, viết để đánh bóng mình hơn là nói lên sự thật về cuộc chiến xảy ra trên quê hương. Hoài niệm của Trần Hoài Thư thuộc loại hiếm hoi, trải dài từ Hải ngoại về trong nước, anh nhớ về người cha già, nói đến bạn bè đã mất hay còn sống vất vưởng nơi quê nhà, đặc biệt từng người lính dưới quyền và sau cùng là con đường sắt, là con đò nhỏ là chùm khế ngọt, ở đó người lính (không loại trừ tác giả) sống qua đều lạng quạng với ít nhất một người con gái kể cả những người gọi anh bằng chú! (Hư thực thế nào về tác giả xin đọc THT, tác phẩm và con người của Phạm Văn Nhàn). Cái hấp dẫn truyện THT nhờ đó một phần, phần khác THT, khi nhắc đến Huế anh không quên nói đến Đại Nội, từ Thượng Tứ qua Đông Ba, từ Trương Định về Hàng Đoát, từ Morin về Đập Đá… Đà Nẵng với con sông Hàn và trường Phan Châu Trinh. Qui Nhơn với khu 6, trường Sư phạm. Nha Trang với “Cầu Đá mập mờ những dãy đèn lung linh. Ngoài khơi xa là muôn ngọn đèn câu đêm như thể một dãy kim cương. Đó là Nha Trang của tôi, một Nha Trang mà tôi đã lớn lên bằng mặt trời và sóng biển, cùng những chú còng nhỏ bé …” (Ra biển gọi thầm THT trang 37), lối viết này của anh, nó lợi hại ở chỗ không riêng THT mà chính anh bắt người đọc cũng hoài niệm một cái gì đó của riêng mình, khi những địa danh hay một trận đánh được nhắc đến trong tác phẩm. Như đồi 10 của Tam quan, Đệ đức của Bồng sơn, chợ Huyện, chợ Dinh, Phước lý, Phước hải của Tuy phước. Rồi An lão, Đèo mang, Đèo nhong, Phù ly, Phù cũ… Nó gợi nhớ biết bao, Nha Trang với con đường Độc lập có những trụ điện bình thường chắn lối đi, gây khó chịu cho khách bộ hành. Một đêm nào, trên đường tiển người tình xuôi Nam, dưới ánh sáng nhá nhem của mỗi trụ điện, họ dừng lại và cứ đếm trên đường Độc lập có bao nhiêu trụ điện là bấy nhiêu cái hôn tiển người tình!

 

4. Trong tác phẩm Trần Hoài Thư bàng bạc đó đây hình bóng của những người con gái, những mối tình thật đẹp, thật thơ mộng và lãn mạn nhưng chất ngất đau thươmg như Mỵ và Trọng trong Quán Biên Thùy, như cô gái Ê-đê tên H.Pery và Chàng (?) trong Khi mùa hoa ca phê nở và Ban mê thuột, mùa cỏ may, như Hoàng Mai trong Sõi đá ngậm ngùi, như anh Trung sĩ và người con gái giang hồ tên Phương trong Cơn giông… Mỗi người con gái có riêng một thế đứng trong tim của nhân vật nam nhưng không ai trọn vẹn được một cuộc tình. Một điều rất dể hiểu: Chiến tranh ! Chiến tranh nó đưa đẩy tác giả hay anh chàng Tân và Quỳnh, cô học trò bé bỏng trở thành “Nữ quyết tử” trong một phong trào đãu tranh. Ý thức hệ cũng nảy sinh từ đó, nó như định mệnh áp đặt lên từng số phận của mỗi người. Một lần chia tay không hẹn tại Nhà đợi ở sân bay Huế, em vào Qui Nhơn theo học Sư phạm còn anh xuôi Nam để vào Thủ Đức, mang theo biết bao kỷ niệm và nhung nhớ. Rồi em trở thành cô giáo tập sự ở quận, nơi đơn vị anh trú đóng. Một lần quận lỵ bị địch tấn công, anh nóng lòng giải cứu quận thì ít, giải cứu em thì nhiều. Đồng thời cũng ở đó anh khám phá ra khu vườn xưa đã chết, anh trở thành kẻ si tình, viết tên em trên lá trên hoa, viết lúc trăng treo đầu súng vẫn chưa đủ. Anh viết đầy trong một tác phẩm, trong cả cuộc đời, đến nỗi trong một lần mê sản, anh ôm chầm lấy người Dì từ chùa Sư Nữ, nghe tin anh bị bệnh về thăm mà anh cứ ngỡ người đó là Quỳnh. Yêu, si tình cở này đúng là hết thuốc chữa!

Cho đến cuộc tình giữa Minh và Như Hạ, đôi bạn chơi nhau từ thuở nhỏ đến khi vào Đại học, “chiến tranh làm cho bạn bè kẻ về biển người lên rừng và đau đớn thay Như Hạ cũng theo tiếng gọi từ xa, tất cả đổ vỡ, phân ly” Người con gái có đôi mắt như hai vì sao nhỏ, có tiếng hát hay nhất trường, hay nhất trong đêm lửa trại của Sinh viên Huế ở của biển Thuận An. Không ai ngờ, có một ngày người dân thành phố Huế kể lại, Tết Mău thân người con gái mang tên Như Hạ ấy lạnh lùng tàn bạo, ngồi sau chiếc bàn dài với quyền uy ghê gớm, kết quả là biết bao nhiêu người bị chôn sống dưới tay nàng ở Bãi Dâu. Chưa hết mấy mươi năm sau, “Ở một nơi nào rất xa”, anh chàng Minh chết điếng khi nhìn đôi mắt của một cô bé tên Như Hiền, Du học sinh đến từ VN . Đôi mắt và dóc dáng đó là của một người bên trời cửa Thuận đêm nào, Như Hiền cho biết bây giờ thì Mẹ em sống bằng thuốc ngủ và những lá bùa vì nhìn đâu cũng chỉ thấy oan hồn về đòi mạng, đôi mắt đẹp như hai vì sao nhỏ kia, bây giờ chỉ là hai võng mô đục, không một chút gì sinh khí! “Như Hạ ơi, anh đang thấy lại em, đôi mắt vòi vỉnh anh hái dùm trái ổi, trái khế. Anh thấy lại em, giữa khu vườn rậm đầy bưởi thanh trà và em mang áo ấm đỏ khi Huế vào đông, khi con nước sông Đập Đá chảy cuồn cuộn mang theo những thân củi, khúc cây từ rừng xuống sông Hương… Phải rồi, cứ mỗi năm vào tháng bảy, con hạc lại nhớ quê bay về để anh còn mơ một ngày dẫn em về bãi biển, nhìn lên bầu trời mà tìm lại chiếc đuôi con thiên nga… Nhưng với hai võng mô đục, không một chút gì sinh khí ấy làm sao để anh có thể chỉ lại cho em một vì sao sáng nhất của thời anh yêu em? ” (Ra biển gọi thầm THT, trang 247-248). Viết về chiến tranh kiểu này, người đọc, đọc mãi cũng không thấy chán nhưng hy vọng đây là nàng thơ, nàng văn chứ nàng thật trong cuộc đời e rằng tác giả sẽ gặp nhiều rắc rối về nhiều phía, phía bên này theo lời anh thì được khuyến khích nhưng phía bên kia thì sao? Hy vọng tình yêu một chiều trong các tác phẩm sẽ giảm đi phần nào tai hoạ để Trần Hoài Thư mãi mãi không là Nhà văn với những tác phẩm không có đàn bà!

 

5. Đọc truyện Trần Hoài Thư trước 1975 tuy không được nhiều nhưng cũng đủ để thấy rằng anh nói lên tâm trạng tuổi trẻ miền Nam khi này rất thật vả rất đúng. Cho đến sau 1975 khi anh bắt đầu viết lại, trước và sau cũng chỉ thơ và văn nói về thân phận con người, nổi bơ vơ của tuổi trẻ, những nhọc nhằn gian khổ của người lính, sự mất mát trong chiến tranh hay hoài niệm về tình yêu đã vỗ cánh cũng như tình bạn cách xa. Tuyệt nhiên anh không viết nhiều về những biến cố chính trị như Đão chành, Chỉnh lý, Biểu tình… thậm chí anh từng chứng kiến phong trào Phật giáo đãu tranh, cảnh Bàn thờ xuống đường, anh không đồng ý nhưng cũng chỉ nói thoáng qua trong tác phẩm chứ không lý giải. Ngay tác phẩm đầu tiên xuất bản ở Hải ngoại, Ra biển gọi thầm sau khi đã nhận diện ra những con người phía bên kia, truyện Chi Ming Wang anh cũng chỉ nói lên những ước mơ cùng với người bạn gái về một mô hình lý tưởng cho một đất nước VN và Trung Quốc. Ở một nơi nào rất xa, người đọc còn thấy được thái độ và cung cách đối xử của nhân vật tên Minh, tác giả muốn gửi gấm ở đó thái độ chính trị không ồn ào của chính mình bằng ngôn ngữ riêng. Tóm lại với Trần Hoài Thư, trước và sau cũng chỉ mỗi con đường Văn học Nghệ thuật trong đó không thể thiếu người con gái ở Kinh Nhà Chung, Chi Ming Wang hay Thùy và chị Thi trong Ra Biển Gọi Thầm.

 

Vũ Linh

 

 

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013