Thi Ảnh

Văn

Văn

Lịch Sử Con Đường Tơ Lụa * Trần Yên Thảo

Trần Yên Thảo
 
Lịch Sử Con Đường Tơ Lụa
 
Lệ Thường
 
Biên soạn đề tài này, ngoài những sách tham khảo đã liệt kê, chúng tôi có sử dụng số lớn tư liệu, nhờ bạn bè ghi chép qua nhiều năm, tại các thư viện Cam Túc, Thanh Hải và Tân Cương (Trung Quốc). Đó là những tư liệu chủ yếu hình thành đề tài.
Rất tiếc, những tư liệu gom góp được, chỉ đủ giới thiệu “con đường tơ lụa” đoạn từ kinh đô Trường An qua Hàm Dương theo hành lang Hà Tây đến ngả rẽ Đôn Hoàng ra Dương Quan và Ngọc Môn Quan, xuyên Tây vực (nay là tỉnh Tân Cương) để đến địa cầu vùng Trung Á Tế Á. Lịch sử gọi đó là “đoạn phía đông của con đường tơ lụa” .
Chúng tôi đã cố gắng hệ thống mọi tư liệu ăn khớp với niên đại và triều đại trong lịch sử Trung quốc. Những chú thích trong sách, do người biên soạn tự chú, và cũng chú ngay trong ngoặc đơn chứ không đánh số chú thích.
Về thơ “biên tái” trích dẫn, bài nào sử dụng của tác giả khác, chúng tôi đều ghi tên người dịch ngay bên dưới bản dịch. Những bài không ghi tên, do người biên soạn tự dịch. Nhân đây, chúng tôi có lời xin lỗi và cảm ơn dịch giả Lê Nguyễn Lưu, vì đã trích dẫn một số bài thơ biên tái trong “đường thi tuyển dịch” mà không biết địa chỉ để xin phép trước.
 
Người biên soạn
 
Sách Tham Khảo
 
Trung Hoa thượng hạ ngũ thiên niên (2 tập) của Trần Thắng Lợi (Nội Mông cổ nhân đân xuất bản xả 1998)
Đường thi cố sự tục tập (tập 1) của Lật Tư (Trung Quốc Quốc Tế Quảng Bá xuất bản xã Bắc Kinh 1988)
Quang Minh Nhật Báo Bắc Kinh (số ra ngày 26.2.1985).
Nhân Dân Nhật Báo Bắc Kinh (số ra ngày 13.4.1982).
Trung Quốc Nhất Tuyệt của Lý Duy Côn (bản Việt ngữ của nhiều dịch giả, NXB Văn Hoá Thông Tin Hà Nội 1997).
Đường Thi Tuyển Dịch của Lê Nguyễn Lưu. (NXB Thuận Hoá 1997).
 
CĐTLqua sa mạc Taklamakan
 
NGUYÊN NHÂN LỊCH SỬ 
CỦA CON ĐƯỜNG TƠ LỤA
 
Trung Quốc là nước có lai lịch dâu tằm tơ sớm nhất Thế Giới. Truyền thuyết từ hơn 4.000 năm trước, thời Hoàng Đế (lão tổ của người Trung Quốc), các nguyên phi đã tự trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa và dạy dân mở mang nghề này. Năm 1958, tại vùng Tiền Sơn thuộc huyện Thiệu Hưng, tỉnh Triết Giang, người ta đã đào được những di vật thời Tân Thạch Khí, trong đó phát hiện một khung tre rất đặC biệt. Những phương pháp khảo sát khoa học đã xác định được đây là bộ phận còn sót của một khung cửi dệt tơ lụa thời cổ đại, một di vật cách đây hơn 4.000 năm. Qua đó có thể xác định, trễ nhất là từ thời Hoàng Đế, người Trung Quốc đã có khả năng dệt tơ lụa.
Lịch sử qua thời kỳ bán khai, trang phục đã trở thành nhu cầu cấp thiết hàng đầu của toàn xã hội. Do đó mà ngành nghề dâu tằm ngày càng được trọng thị. “Kinh Thi” (tác phẩm thi ca lâu đời của văn học Trung Quốc) cũng có không ít bài mô tả sinh hoạt trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa của phụ nữ Trung Quốc thời cổ đại.
Khoảng 2.500 năm trước, vào thời Xuân Thu Chiến Quốc (770 – 221 TCN), Trung Quốc đã có lượng tơ lụa bán ra nước ngoài. Tới Tây Hán (206 TCN – CN 8) sản lượng tơ lụa càng cao dư dùng trong nước. Một số lớn được các thương nhân mở đường xuyên Tây Vực, đem bán tận Ba Tư, Thổ Nhĩ Kì, La Mã, …. Qua việc mở đường buôn bán tơ lụa từ Trung Nguyên đến các nước Trung Tây Á và phương Tây, không biết từ lúc nào, còn đường được mệnh danh là “Con đường tơ lụa”.
Tây Vực là địa danh được hình thành từ thời Tây Hán. Bao gồm hàng trăm tiểu vương quốc trải dài từ Tân Cương đến vùng Trung Á Tế Á. Tức khu vực có địa giới từ con đường Nam Bắc Thiên Sơn của Tân Cương, vượt núi Thông Lãnh đổ về phía Đông và từ Đôn Hoàng (Cam Túc) đổ về phía Tây. Tây Vực là vùng đất con đường tơ lụa buộc phải đi qua và cũng là biên cảnh giữa Trung Quốc với các dân tộc phía Bắc và Tây Bắc. Vì an toàn lãnh thổ trước sự xâm nhập bên ngoài và cũng vì muốn độc chiếm huyết mạch giao lưu Đông Tây nên từ đời Hán – Đường, Tây Vực thường xảy ra chiến tranh với những lực lượng quân sự hùng hậu. Thậm chí có những cuộc chiến kéo dài hàng thập kỷ. Trong khi dân tình, cảnh vật và khí hậu nơi đây so với Trung Nguyên, có những bất đồng rất lớn.
“Con đường tơ lụa” phát xuất từ Trường An (nay là thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây) hướng về phía Tây, sau khi qua nhiều sông núi và thành trấn, được chia thành ba lộ tuyến: Lộ tuyến Nam từ phía Tây Nam Đôn Hoàng ra Dương Quan đi qua Thạch Thành Trấn, Bá Tiên Trấn, Vu Điền Trấn và tiểu vương quốc Sơ Lặc, sau đó vượt phía Tây núi Thông Lãnh về đến Ba Tư, Thổ Nhĩ Kì và đế quốc La Mã. Lộ tuyến Bắc từ phía Tây Bắc Đôn Hoàng ra Ngọc Môn Quan, men theo phía Nam chân núi Thiên Sơn đi về phía Tây, qua Tây châu, Hán Luân Đài, đến các tiểu vương quốc Khưu Từ và Sơ Lặc, sau đó cũng vượt núi Thông Lãnh. Về sau, vì sự tính toán lợi hại của đường đất, các thương nhân còn mở thêm một lộ tuyến mới phía Bắc, tức cũng ra Ngọc Môn quan, nhưng theo phía Bắc chân núi Thiên Sơn để đi về hướng Tây. Sau khi qua Đình Châu và Y Ninh, tiếp tục về hướng Tây đến Hy Lạp, Đông La Mã và Địa Trung Hải.
“Con đường tơ lụa” được khai mở từ Tây Hán, hoàn chỉnh vào đời Đường và được sử dụng suốt 17 thế kỷ. Về sau do sự phát triển đường hàng hải, ít gian nan và nguy hiểm hơn, nên con đường bộ xuyên suốt Đông Tây này ngày càng ít được lưu tâm.
Do sự thông thương của “Con đường tơ lụa”, những tinh hoa văn hóa, kinh tế giữa Trung Quốc và các nước phương Tây cũng giao lưu rất rộng rãi. Đầu tiên là mặt hàng tơ lụa, đến thế kỷ thứ 4, khi kỹ thuật trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa được truyền bá qua các nước Trung Á và Tây Aù thì từ các mặt hàng mỹ nghệ khác đến những phát minh khoa học như thuật in ấn, làm giấy, thuốc súng, luyện thép, … của Trung Quốc cũng tiếp tục theo “Con đường tơ lụa” truyền bá qua phương Tây. Đồng thời những sản vật vùng Trung Tây Á như Bồ Đào (Nho), Thạch Lựu (quả lựu), Hạch Đào (hạt điều), Chi Ma (gai), Ba Thái, Mục Túc (hai giống rau quả), … cũng theo ngã đường này lục tục đổ vào Trung Quốc. Cả các ngành nghệ thuật: hội họa, điêu khắc, âm nhạc, vũ khúc, … qua đó, cũng ảnh hưởng nhau rất sâu đậm.
Thời Tây Hán (khoảng 141 TCN), Trương Khiên đã theo “Con đường tơ lụa) thông sứ Tây Vực, khám phá hàng trăm tiểu vương quốc trải dài suốt mấy ngàn dặm thảo nguyên và sa mạc, mở ra thời kỳ ngoại giao mới cho Trung Quốc.
Thời Sơ Đường (Cn 624 – 649), Huyền Trang cũng theo “Con đường tơ lụa” đi qua nhiều nước vùng Tây Vực, hành hương đến xứ Phật Aán Độ. Trong khi nhiều giáo sĩ phương Tây cũng theo đó, đưa giáo lý của nhiều tôn giáo khác nhau đến Trung Nguyên.
Đời Đường là thời kỳ phát triển cao độ của thi ca Trung Quốc. Vùng đất Tây Vực là đề tài chính sinh động giàu cảm xúc của nhiều nhà thơ đương thời. Hầu hết các thi nhân đã cọ xác trực tiếp với cảnh sinh hoạt và chiến tranh, những nỗi bi hoan ly hợp và cả cái chết trên những địa danh dọc theo “Con đường tơ lụa” họ đã sáng tác số lượng lớn các bài thơ giá trị được mệnh danh “Thơ biên tái”. Một thành phần trọng yếu làm phong phú nền thi ca đời Đường. Trong văn học sử Trung Quốc, những nhà thơ này cũng được đứng riêng thành một trường phái lớn gọi là “phái Biên Tái”, đại biểu là Sầm Tham, Cao Thích, Vương Xương Linh, Lý Ích, Trần Đào, ….
Thời Nguyên Mông (khoảng CN 1218 – 1242), Thành Cát Tư Hãn rồi đến các hậu duệ của ông (con trưởng Thuật Xích và con thứ Oa Khoát Đài) cũng theo con đường tơ lụa chinh phục nhiều nước Châu Aâu và đe dọa cả đế quốc La Mã.
“Con đường tơ lụa” được khai mở từ mối lợi của các thương nhân, nhưng được hoàn chỉnh bằng vai trò lịch sử trọng đại từ kinh tế, văn hóa, tôn giáo, chính trị bang giao và cả chiến lược. Đó là huyết mạch giao lưu văn hóa văn minh Đông Tây suốt hơn 17 thế kỷ, khi nhân loại chưa có đường hàng hải và hàng không.
 
Chương I
 
TRƯỜNG AN
KHỞI ĐIỂM CỦA CON ĐƯỜNG TƠ LỤA
 
Trường An (nay là thành phố Tây An, thuộc tỉnh Thiểm Tây), kinh đô thời Hán Đường và cũng là khởi điểm của con đường tơ lụa. Vào thời đó, Trường An là một thành phố lớn nhất nhì Thế giới và cũng là trung tâm giao lưu văn hoá kinh tế Đông Tây.
Vào thời kỳ hưng thịnh của Hán Đường, sự qua lại giữa các tiểu vương quốc Tây Vực và Trường An phải nói là dập dìu. Đồng thời, Trường An là một thành phố có mức sinh hoạt rất cao. Đây cũng là lý do mà các sắc tộc Tây Vực, theo “Con đường tơ lụa”, đổ xô đến ngụ cư. Qua những thời gian dài, hầu hết người Tây Vực ngụ cư Trường An đều lấy họ Hán. Thậm chí rất khó lòng phân biệt phong cách giữa người Trường An và Tây Vực. Người nước Vu Điền nhập cư Trường An đã cải họ Uất Trì. Danh tướng khai quốc công thần nhà Đường Uất Trì Kính Đức (Uất Trì Cung) tổ phụ là người nước Vu Điền Tây Vực nhập cự Trường An, người nước Sơ Lặc cải họ Bùi, người nước Khưu Từ cải họ Bạch. Chỉ có người nước Khương đa số vẫn giữ họ Khương.
Người Tây Vực nhập cư Trường An đương nhiên cũng đem theo cả phong tục và nếp sinh hoạt của dân tộc mình và đã gây ảnh hưởng lớn đến người Trường An, đối với các dân tộc ở ngoại biên phía Đông Bắc, phía Bắc và Tây Bắc Trung Quốc thời cổ đại đều được gọi chung là người Hồ cho nên ngay từ thời Tây Hán, tại Trường An đã có y phục Hồ (Hồ phục), phong màn Hồ (Hồ trướng), thức ăn Hồ (Hồ thực), điệu sáo Hồ (Hồ địch), điệu múa Hồ (Hồ vũ), …
Đời Đường Huyền Tông, thiên hạ thái bình lâu dài, tại Trường An có phong trào Hồ hóa rất thịnh, đương thời không phân biệt giàu nghèo sang hèn, người ta thi nhau mặc áo quần người Hồ, một loại trang phục ôm sát thân, eo nhỏ, tay hẹp, trái ngược hẳn với trang phục truyền thống Hán Tộc. Sau loạn An Sử, người Hồi Hột (sau cải danh là Hồi Cốt) nhập cư Trường An càng đông. Nhân đó, lối trang phục bó sát người của người Hồi Cốt cũng lưu hành tại Trường An khá phổ biến.
Nhà Đường mất không lâu, bà Hoa Nhị Phu nhân (họ Từ), ái cơ của Tiền Thục chủ Vương Kiến, có viết đề tài “Cung từ” với hơn 100 bài thất tuyệt. Trong đó có một bài mô tả sinh động và sâu sắc những cung nữ đời Đường với trang phục Hồi Cốt.
 
宮詞花蕊夫人
明朝腊日官家出
随駕先須點内人
回鶻衣装回鶻馬
就中偏称小腰身
 
Âm:
CUNG TỪ
 
Minh triêu lạp nhật quan gia xuất
Tùy giá tiên tu điểm nội nhân
Hồi Cốt y trang Hồi Cốt mã
Tựu trúng thiên xưng tiểu yêu thân
Hoa Nhị Phu nhân
 
Dịch:
LỜI TRONG CUNG
 
Buổi sớm nhà vua đi chủ tế
Dập dìu cung nữ hộ xe loan
Aùo quần Hồi Cốt ngựa Hồi Cốt
Diễm kiều đưa đẩy chiếc eo thon.
 
Bài thơ mô tả buổi sớm của một ngày lễ (theo Nông lịch là mồng 8 tháng 12), nhà vua xuất cung đi chủ tế. Các cung nữ hộ giá xe vua đều cưỡi ngựa và mặc trang phục tộc Hồi, phô bày những chiếc eo thon trông rất đẹp. Thế nhưng trong sâu xa của bài thơ, tác giả nhằm cảnh giác phong trào Hồ hóa của người Trung Nguyên, có thể làm mất phong cách của truyền thống Hán Tộc.
Thực phẩm của người Hồ theo “Con đường tơ lụa”, đưa vào Trường An cũng được đón nhận rộng rãi. Theo lịch sử ghi chép thì, từ Đường Huyền Tông trở đi, nhà bếp của các đời vua và của cả quan viên đều có sẳn chất liệu và gia vị để nấu những món ăn người Hồ. Tại phường Phụ Hưng, phía Tây Bắc thành Trường An cũng đã xuất hiện những quán ăn của người Hồ với những món đặc thù nổi tiếng khắp kinh thành thời bấy giờ.
Rượu nho (bồ đào) của các sắc tộc Hồ đưa vào Trung Nguyên cũng gây ảnh hưởng không nhỏ. Từ Tây Hán, đã có rượu nho của các nước Đại Uyển và Khưu Từ đưa vào Trường An. Đến đời Đường có thêm rượu nho của Ba Tư và Cao Xương càng gây chấn động khắp kinh thành. Đường Thái Tông, sau khi diệt nước Cao Xương, có đem giống nho của Cao Xương về trồng ngay trong vườn thượng uyển. Khi thu hoạch nho, cũng theo phương pháp của Tây Vực để làm rượu. Đó là rượu nho Tây Vực đầu tiên được chưng cất tại Trường An. Tại Khúc Giang, một thắng cảnh du lãm phía đông thành Trường An, từ thời Sơ Đường đã xuất hiện những quán rượu của người Hồ, có những cô gái Hồ trẻ đẹp trông coi quán và có cả những vũ nữ ca múa các giai điệu của sắc tộc Hồ. Tương truyền đây là những nơi hết sức quyến rũ đối với các thi nhân đương thời.
Tháng 10 năm 1970, tại Hà Gia Thôn (phía Nam Thành Trường An cũ), trong khi lấy đất làm gạch ngói, người ta đã phát hiện hai kho văn vật chôn cất từ đời Đường. Số văn vật tổng cộng hơn 1.000 món, trong đó đồ vàng bạc chiếm 270 món. Qua nghiên cứu địa điểm khai quật nằm ở phường Hưng Hóa của thành Trường An đời Đường. Vị trí khai quật là nềân xưa của Bân Vương phủ. Do đó có thể khẳng định những bảo vật này là sở hữu của Bân Vương Lý Thủ Lễ, anh ruột của Đường Huyền Tông. Cũng qua nghiên cứu, trong số văn vật này, có không ít món là cổ vật của Thổ Nhĩ Kì, Hy Lạp, La Mã, … Đặc biệt nhất là chiếc chén đầu trâu bằng mã não là cổ vật của Ba Tư. Tất cả đều theo “Con đường tơ lụa” đưa đến Trường An vào đời Đường (khoảng CN 590 – 627).
Trở lên tất cả là những tư liệu và sự kiện cho phép chúng ta khẳng định ngay từ thời Tây Hán, Trường An đã là khởi điểm của “Con đường tơ lụa”.
 
Trần Yên Thảo

Sợi Tóc

(Những đoản thiên cuối cùng của Thạch Lam)

Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tường Vinh sinh năm 1910 tại Hà Nội, là người con thứ sáu trong gia đình Nguyễn Tường. Đến năm 14 tuổi mới đậu bằng cao đẳng tiểu học, ông phải khai tăng một tuổi để đủ tuổi thi thành chung và đổi tên là Nguyễn Tường Lân. Ông vào học Albert Sarraut, đậu tú tài phần thứ nhất rồi thôi học ra làm báo Phong Hóa, Ngày Nay với các anh ông như Nhất Linh, Hoàng Đạo trong Tự Lực văn đoàn. Ông bị bệnh lao mất tháng 6 năm 1942 trong cảnh nghèo nàn tại một ngôi nhà tranh làng Yên Phụ cạnh Hồ Tây.

Vì mất sớm nên sự nghiệp văn chương của Thạch Lam về số lượng rất khiêm tốn, tuy nhiên vì giá trị nghệ thuật của nó rất cao nên ông vẫn được coi như một nhà văn lớn trong nền văn chương Việt Nam cận đại. Các tác phẩm gồm.

1-Ngày Mới, tiểu thuyết 1937

2-Gió Đầu Mùa, tập truyện ngắn 1937.

3-Nắng Trong Vườn, tập truyện ngắn 1938.

4-Theo Giòng, nghị luận văn chương, 1941.

5-Sợi Tóc, tập truyện ngắn, 1942.

6-Hà Nội 36 Phố Phường, tùy bút, 1943.

Thạch Lam là một nhà văn có khuynh hướng xã hội thường mô tả đời sống của những người nghèo nàn cùng khổ bằng những nét chân thực đầy tình thương yêu nhân loại, ông thiên về bi kịch hơn Khái Hưng, Nhất Linh trong Tự Lực văn đoàn, tác phẩm của ông có giá trị cao về nhân bản được viết ra như một chút tình thương dành cho những kẻ lầm than cơ cực. Ông khâm phục và chịu ảnh hưởng Dostoievsky rất nhiều trong kỹ thuật mô tả tâm lý nhân vật, chú trọng về mặt hướng nội. Thạch lam cũng là nhà văn thuộc trường phái lãng mạn như các bậc đàn anh trong văn đoàn tuy nhiên các truyện tình của ông khác với các nhà văn kia ở tính chân thật, ngây thơ, thi vị.

Ông Phạm Thế Ngũ nhận xét về Thạch Lam như sau.

“Trong văn học mới nước ta các nhà phê bình thường đồng ý là Thạch Lam- cây bút Tự Lực đã đưa thể đoản thiên đến độ nghệ thuật cao hơn cả. Trong ba tập đoản thiên của ông mà ta xét trên ta đều thấy nhiều đặc sắc nghệ thuật”

Hoặc.

“Nhưng dù sao không ai phủ nhận được ông đã đưa đoản thiên Việt Nam đến một trình độ nghệ thuật rất cao. Tác giả Nhà văn hiện đại cũng công nhận những truyện trong Sợi Tóc là những đoản thiên hay nhất trong văn chương Việt nam”

Thật vậy, Thạch Lam là người chuyên về trước tác truyện ngắn và đã thành công nhiều trong thể loại văn chương này

Sợi Tóc là tập truyện ngắn giá trị và nổi tiếng của Thạch Lam do nhà xuất bản Đời Nay, Hà Nội ấn hành năm 1942, toàn bộ gồm năm truyện vỏn vẹn chừng năm sáu chục trang giấy nhưng nội dung thật là súc tích và vô cùng hiện thực, những đề tài khác biệt nhau như đóa hoa ngũ sắc rực rỡ cùng thể hiện một nghệ thuật tuyệt vời. Chúng tôi xin phân ra làm ba đề tài chính : Tâm lý: Sợi Tóc; Bi kịch: Cô Hàng Xén, Tối Ba Mươi; Tình cảm : Dưới Bóng Hoàng Lan , Tình Xưa và đề cập giới hạn bốn truyện chọn lọc : Sợi Tóc , Cô Hàng Xén , Tối Ba Mươi, Dưới Bóng Hoàng Lan.

 

SỢI TÓC

 

Một truyện ngắn chừng mười trang giấy thể hiện cái thiên tài hiếm có của Thạch Lam trong kỹ thuật mô tả tâm lý con người, có dư luận phê bình cho rằng Sợi Tóc có thể coi như ngang hàng với các đoản thiên giá trị trên văn đàn thế giới. Đó là truyện một anh chàng bị cám dỗ vì số tiền lớn của người anh họ, định lấy cắp nhưng rồi lưỡng lự đổi ý.

Thành có người anh họ rất giầu nhưng ngốc nghếch, Bân rất phục Thành là người sành đời, thạo ăn chơi, mỗi khi đi mua đồ đều hỏi Thành. Một hôm Bân rủ Thành đi mua đồng hồ, lúc hắn trả tiền Thành nhìn cái ví phồng và biết là nhiều tiền lắm, chàng thấy rõ cả những giấy trăm còn mới tinh, mua xong Bân rủ Thành đi ăn tiệm.

Bân cùng một cô nhân tình vào buồng nằm, hắn đem theo cả cái áo tây có ví tiền. Khi ấy Thành chán nản muốn bỏ về, chàng với lấy cái áo tây trên mắc thì ra là áo của Bân có ví tiền dầy cộm, Bân đã lấy nhầm áo của chàng vào buồng. Bân và các em đều muốn giữ Thành ở lại cho vui.

Khi ấy trong trí Thành rối bời cả lên vì nghĩ đến cái ví tiền , chàng định mở ví lấy vài trăm rồi đổi lấy áo của Bân vắt ở đầu giường hắn. Thành hút một điếu thuốc phiện rồi thờ thẫn nghĩ ngợi, chàng cho rằng Bân sẽ không biết chàng lấy mà nghi cho nhân tình của hắn.

Nhưng khi cho tay vào ví, Thành lại đắn đo suy nghĩ đờ đẫn cả người, tự nhiên chàng trả áo cho Bân và bảo hắn đếm tiền chi kỹ. Cuối cùng sau một cuộc giằng co, sự cám dỗ tội lỗi đã bị lương tâm đè nén, ranh giới hai bên chỉ là một sợi tóc.

Đây là một đoản thiên tâm lý sâu sắc nhất của Thạch Lam, của nền văn chương Việt Nam, xứng đáng được xếp ngang hàng với những truyện hay trên văn đàn thế giới. Ngòi bút thần sầu củaThạch Lam đã phô diễn được quá đầy đủ về bản chất con người, về cái biên giới mong manh như sợi tóc giữa thiện và ác, giữa lương tâm và tội lỗi. Cám dỗ bắt đầu xuất hiện khi Thành thấy ví của Bân lúc hắn trả tiền ngoái phố:

“Thoáng nhìn qua, tôi cũng biết ví nhiều tiền lắm: ngoài số tiền bạc lẻ hắn mang ra trả, tôi còn thấy gấp ở ngăn trên đến năm sáu cái giấy bạc một trăm nữa. Những giấy bạc mới màu còn tươi nguyên”

Và khi Thành lấy áo định ra về, cám dỗ lại tiến thêm một bước nữa:

“Vừa nói tôi vừa với cái áo tây của tôi treo trên mắc. Bỗng nhiên có cái gì chuyển mạnh qua tim tôi: tay tôi yên hẳn lại; tôi vừa mới nhận ra rằng cái áo tôi đương cầm không phải là cái áo của tôi. Thì ra lúc mang áo vào giường nằm, Bân đã mang nhầm áo. Hai chúng tôi cùng mặc một thứ hàng len giống màu, như vậy dễ lẫn lắm. Tôi ghé nhìn vào trong áo thấy cái ví tiền ở túi thò ra ngoài một tí. Cái ví tiền… mấy tờ giấy bạc”

Bằng lối diễn tả vô cùng khéo léo, Thạch Lam cho chúng ta thấy rõ những bước chân xâm lấn ghê gớm của cám dỗ:

“Những lời đối đáp ấy cứ tự nhiên buột miệng ra, tôi không để ý đến. Trước mắt tôi, mấy tờ giấy bạc một trăm gấp trong ngăn ví hiện ra rất rõ rệt. Lấy mấy tờ, độ hai tờ – tại sao lại hai? Tôi không biết – tôi cứ việc điềm nhiên với lấy áo, mở ví rút ra hai tờ. Rồi chọn lúc mọi người vô ý … tôi đổi lấy áo của tôi… thế là xong và gọn…

… dễ dàng quá, mà không còn sợ cái gì cả”

Bằng một nghệ thuật vô cùng hiện thực ông cũng cho ta thấy sự rối bời trong tâm trạng con người vì sự giằng co tranh chấp giữa lương tâm và tội lỗi.

“Lan để tay nhẹ nhàng lên người tôi, lẳng lơ đưa mắt hỏi. Tôi giả vờ cười không đáp, rồi soay người nằm ngửa, nhìn lên trần nhà.Trong người bứt rứt không yên”

Hoặc như:

“Tâm hồn tôi lúc bấy giờ thế nào tôi không biết rõ. Tôi đứng lên, ngồi xuống như một cái máy. Tôi chỉ thấy băn khoăn bứt rứt… và thời gian qua… tôi cảm thấy đi qua tâm hồn tôi từ bên này sang bên kia… như thế không biết bao nhiêu lâu…”

Và sau khi đã trấn áp được cám dỗ tội lỗi, Thành lại ngẩn ngơ một chút tiếc thương, thiện ác vẫn còn vẩn vơ trong trí.

“- Áo anh này , đây là áo của tôi…

… Anh đếm lại tiền đi và để cẩn thận vào trong ấy…

Tôi bước một bước lùi ra cửa. Thế là hết bây giờ không sao đụng đến cái ví được nữa. Tôi bần thần ngẩn ngơ”

Thậm chí đến lúc Thành lên xe về nhà, tâm trí rối mù, chàng ngẩn ngơ như người mất hồn, vẫn còn chút tiếc rẻ ngấm ngầm , dù chàng đã tỉnh táo rồi, cám dỗ vẫn còn vương vấn trong lòng.

“Tất cả những cái đó bây giờ xa quá. Tâm trí tôi giãn ra, như một cây tre uốn cong trở lại cái thẳng thắn lúc thường. Tôi cảm thấy một cái thú khoái lạc kỳ dị khe khẽ và thầm lặng rung động trong người, có lẽ là cái khoái lạc bị cám dỗ, mà cũng có lẽ cái khoái lạc đã đè nén được sự cám dỗ. Và một mối tiếc ngấm ngầm, tôi không tự thú cho tôi biết và cũng cố ý không nghĩ đến, khiến cho cái cảm giác ấy của tâm hồn tôi thêm một vẻ rờn rợn và sâu sắc”

Người đọc tưởng như mình đang chơi vơi giữa thực và mộng, giữa cái thú của cám dỗ và khoái lạc của lương tâm, lý trí đã trấn áp được cám dỗ. Song vẫn chưa hết, đến khi Thành đã tỉnh táo, đã lên xe về nhà mà cám dỗ vẫn còn vương vấn như một sự tiếc nhớ vu vơ. Thạch Lam đã dẫn chúng ta đi sâu vào tận đáy tâm hồn con người để ta chứng kiến được cái biên giới mong manh giữa thiện, ác, giữa ăn cắp hay không ăn cắp, cái địa giới chỉ mỏng manh như một sợi tóc.

 

CÔ HÀNG XÉN

 

Đây là một truyện ngắn nổi tiếng của Thạch Lam đã được nhiều người hâm mộ, ca ngợi tấm lòng hy sinh của người phụ nữ Việt Nam và cũng là một bi kịch cuộc đời không lối thoát.

Tâm gánh hàng từ chợ băng qua cánh đồng về làng, băng qua sân đình rồi về đến nhà, chia bánh kẹo cho các em. Cô được mẹ già và các em âu yếm săn sóc. Từ ngày gia đình sa sút, ông Tú mắt kém thôi dạy học, cô buôn bán tần tảo để nuôi mẹ và các em.

Tâm là người con gái xinh đẹp nổi tiếng cả một vùng, thời gia đình còn sung túc cô đã được cắp sách đi học, nhưng nay rời bỏ quyển sách để bước chân vào cuộc đời tần tảo hy sinh, không bao giờ nghĩ đến cuộc đời riêng của mình.

Những ngày phiên chợ, cậu giáo Bài trường làng thường hay lại mua hàng và để ý đến Tâm, khi lên giường ngủ cô cũng có lúc nhớ tới cậu giáo. Vụ gặt xong, cậu giáo nhờ người mối lái đến hỏi Tâm. Bà Tú gọi Tâm vào buồng nói chuyện ấy, cô muốn ở nhà buôn bán trông nom gia đình, thương con bà mẹ bảo cô phải đi lấy chồng.

Đám cưới cử hành trước tết, ngày về nhà chồng Tâm từ biệt các em. Về nhà chồng mấy hôm nàng lại sốc vác gánh hàng ra chợ. Nhà chồng nàng cũng nghèo, cậu giáo lương dăm bẩy đồng, nàng vừa phải gánh vác giang sơn nhà chồng lại lo cho các em ăn học. Em Lân lên học trường tỉnh, tốn kém hơn. Bà Tú nhắn người bảo nàng gửi tiền thêm, nàng lo quá: mẹ chồng, cậu giáo thường đay nghiến vì nàng không còn tiền đưa.

Hai năm sau Tâm đẻ con trai, nàng đã già đi nhiều, không còn đẹp như xưa. Tâm về nhà thăm cụ tú, các em. Lân xin một chục bạc, Tâm hốt hoảng vì chồng đã thôi dậy, nàng phải lo gánh vác bên nhà chồng. Lân giận dỗi, nàng đành phải lấy tiền đưa cho em rồi lo âu không biết lấy gì bù vào chỗ ấy. Cuộc đời nàng đen tối, khó nhọc như không bao giờ dứt.

Khác với Khái Hưng, Nhất Linh thường phơi bầy những sai lầm của nền luân lý cổ, ở đây Thạch Lam có khuynh hướng ca ngợi gia đình nền nếp nho phong, những cái hay cái đẹp còn rơi rớt lại của một nền văn minh tinh thần đã vang bóng một thời.

Hình ảnh cô Tâm gánh hàng xén ra chợ nuôi mẹ, nuôi các em ăn học để sau này đỗ đạt đi làm trên tỉnh giúp thầy mẹ già, không nghĩ đến cuộc đời riêng của mình tiêu biểu cho những cái đẹp tuyệt vời của nền nếp xã hội thời ấy.

“Tâm thấy vững vàng ở giá trị và lòng cao quí của mình. Nàng đã đảm đang nuôi cả một nhà”

Nàng cũng là thể hiện của sự chịu khó nhọc nhằn của những người phụ nữ Việt Nam đảm đang.

“Sáng sớm hôm sau, trong gió bấc lạnh, Tâm đã mở cổng gánh hàng lên chợ. Sương trắng còn đầy ở các ngõ trong làng . . .

…. tất cả cuộc đời nàng lúc nào cũng chịu khó và hết sức, như tấm vải thô dệt đều nhau. Có phải đâu chỉ một mình cô. Trong lũy tre xanh kia, bao nhiêu người cũng như cô, cũng phải chịu khó và nhọc nhằn, để kiếm tiền nuôi chồng, nuôi con, nuôi các em”

Tâm chỉ nghĩ đến sự hy sinh cho cha mẹ, cho các em không nỡ bỏ nhà đi lấy chồng, bà Tú thương con buộc nàng phải xuất giá. Cô hàng xén xinh đẹp nổi tiếng cả một vùng ngày càng dấn thân vào cuộc đời khó nhọc, một tấn bi kịch không lối thoát. Về nhà chồng được mấy ngày nàng phải quẩy gánh hàng đi bán ngay, cậu giáo Bài lương chẳng bao nhiêu, Tâm lại phải è cổ gánh vác giang sơn nhà chồng:

“Bây giờ gánh hàng đã trở nên quá nặng trên đôi vai nhỏ bé. Chiếc đòn càng cong xuống và rền rĩ. Ngoài giang sơn nhà chồng nàng phải gánh vác, Tâm lại lo sao kiếm được đủ tiền để gửi thêm cho các em ăn học. Trong sương muối sớm, xót và giá lạnh, nàng đã phải bước ra ngõ và đi chợ rồi… Đời nàng lại đi như trước, chẳng khác gì. Những ngày khó nhọc và cố sức lại kế tiếp nhau”

Thật là bất ngờ, một cô gái nết na xinh đẹp, nổi tiếng cả một vùng ngày càng dấn thân vào cuộc đời gian khổ. Đó là thân phận một người phụ nữ một cổ hai chòng, cuộc đời nàng chỉ toàn là hy sinh gánh vác: Mọi chi tiêu trong gia đình chỉ trông vào nàng: Bà Tú nhắn người bảo Tâm gửi thêm cho em, nàng phải đưa dấu vì mẹ chồng vàcậu giáo Bài đã bắt đầu nghi ngờ và đay nghiến nàng.

Nàng đã già đi, nhan sắc phai tàn, đâu còn là cô hàng xén xinh đẹp nổi tiếng cả một vùng, tre già măng mọc, nàng nay đã hết thời, đã có những cô gái khác mới lớn tươi tắn và rưc rỡ . . Tác giả cũng ngụ ý về số mệnh con người.

“Tâm lại nghĩ đến ngày trước kia, hình như đã lâu lắm, nàng còn là cô hàng xén má hồng, môi đỏ e lệ cúi mặt dưới cái nhìn âu yếm của cậu giáo Bài nho nhã và đứng đắn trong tấm áo lương. Thời ấy bây giờ đâu? Chị Liên may mắn đã lấy được chồng giầu, lên buôn bán trên tỉnh . Chị ấy vẫn trẻ đẹp như xưa. Tâm khẽ thở dài: bây giờ các chị em bạn cũ không còn ai ở lại để cùng chia sẻ những nỗi khó nhọc với nàng”

Tác phẩm như để ca ngợi tấm lòng hy sinh cao cả của người phụ nữ Việt Nam nhưng chủ đề chính là bi kịch về thân phận con người, về những cuộc đời gian khổ đáng thương điển hình là cô hàng xén .

“Cái vòng đen của rặng tre làng Bằng bỗng vụt hiện ra trước mắt, tối tăm và dầy đặc. Tâm buồn rầu nhìn thấu cả cuộc đời nàng, cuộc đời cô hàng xén từ tuổi trẻ đến tuổi già, toàn khó nhọc và lo sợ, ngày nọ dệt ngày kia như tấm vải thô sơ. Nàng cúi đầu đi mau vào trong ngõ tối”

Cô Hàng Xén, một trong những đoản thiên hay nhất của nền văn chương Việt Nam đã cho ta thấy giá trị hiện thực tuyệt vời trong nghệ thuật tả chân của Thạch Lam. Một tác phẩm văn chương nhỏ bé đã làm sống lại cả một xã hội còn đượm những giá trị hy sinh cao đẹp, di sản của một nền văn minh tinh thần nay còn đâu? chúng ta không khỏi bùi ngùi cho thân phận bi đát của con người và cảm thấy nuối tiếc cho những giá trị cao cả tuyệt vời của nền văn minh tinh thần ấy nay đã bị chôn vùi dưới lớp cát bụi của thời gian.

 

TỐI BA MƯƠI

 

Một truyện ngắn đặc sắc, cảm động đầy nước mắt về thân phận của những người cùng mạt tận đáy xã hội.

Liên và Huệ, hai chị em họ, bỏ nhà đã bẩy tám năm nay sống đời giang hồ trụy lạc. Liên mua đồ cúng giao thừa về khi Hậu còn đang ngủ. Họ dở các gói thức ăn ra, nào lạp xưởng, bánh chưng, dò lụa.

Huệ rớm nước mắt nhớ tới thời thơ ấu, nàng mặc áo mới ngày mồng một tết… nghĩ đến đấy tâm hồn nàng bỗng u ám nặng trĩu.

Họ bầy đồ cúng lên bàn: đĩa cam quít, bánh chưng, lạp xưởng rồi cắm hương lên tường cúng. Người bồi nhà chứa chào các cô về ăn tết, chỉ còn lại hai chị em trong căn nhà hoang vắng. Mùi hương tỏa ra khiến họ nhớ đến những ngày cúng giỗ ở nhà xa xưa.

Liên đứng trước bàn thờ một lúc rồi khóc nấc lên. Hai chị em tủi thân ôm nhau khóc trong tiếng pháo giao thừa nổ vang.

Đây là tấn bi kịch cuộc đời tội lỗi đáng thương của hai cô gái như đã bị xã hội bỏ quên trong khi mọi người đang tưng bừng đón giao thừa, đón những ngày thiêng liêng, vui tuơi nhất của một năm.

“Nàng nhìn quanh căn phòng bẩn thỉu. Dưới ánh ngọn đèn mờ, lỏng chỏng các đồ đạc quen thuộc; cái giường Hồng Kông cũ đồng han và rỉ sạm, cái bàn ghỗ ẩm ướt ở góc tường, hai cái ghế long chân. Liên nghĩ đến sự trơ trọi của đời mình. Tết đến nơi rồi. Tết đến thăm nàng ở đây, trong căn buồng nhà săm này cũng như đến những nơi thơm tho đầm ấm’’

Hai chị em họ xa nhà từ bao lâu nay; một người mẹ chết , cha lấy vợ khác không biết ở đâu, người kia còn cha mẹ nhưng không dám về, họ cô đơn trơ trọi đón xuân trong căn phòng lạnh lẽo này và trạnh lòng nghĩ đến thân phận hẩm hiu của mình.

“Cái vắng lạnh như mênh mông ra tận đâu đâu, ở khắp cả các phố Hà Nội đêm nay, Huệ tưởng đến những căn nhà ấm cúng và sáng đèn, then cửa cài chặt, mọi người trong nhà đang tấp nập sửa soạn đón năm mới trong sự thân mật của gia đình. Chỉ có hai chị em nàng xa cửa xa nhà”

Ở Thạch Lam ta thấy một sự hiện thực chua chát và tàn nhẫn, thật không còn gì cay đắng hơn.

“-Có gạo đây. Nhưng đổ vào cái gì bây giờ?

Hai chị em nhìn quanh gian buồng nghĩ ngợi, Liên bỗng reo lên.

- Đổ vào cái cốc này. Phải đấy, rất là…

Nàng im bặt dừng lại. Hình ảnh ô uế vừa đến trí nàng. Cái cốc bẩn ở góc tường, mà cả đến khách làng chơi cũng không thèm dùng đến, nàng định dùng làm bát hương cúng tổ tiên”

Sống trong một vũng bùn nhơ bẩn, họ tiếc thương quãng đời trong sạch đã mất đi mà không sao lấy lại được, tâm lý chung những kẻ đã mất quá khứ tươi đẹp của mình.

“Huệ nhắm mắt lại. Vì trông mưa bụi bay hay vì nàng khóc thật? Hình như có chút nước mắt vừa rớm ở mi nàng. Huệ chớp khẽ rồi nhớ đến cuộc đời mình, lúc trẻ thơ, lúc còn con gái ở nhà quê, một buổi sáng mồng một tết – Nàng không nhớ rõ năm nào, nhưng đã lâu lắm rồi thì phải – nàng mặc áo mới đứng trên thềm nhìn mấy bông hoa đào nở ở trước vườn”

Hoặc như:

“Khói hương lên thẳng rồi tỏa ra mùi thơm ngát đem lại cho hai nàng kỷ niệm những ngày cúng giỗ ở nhà, khi hai chị em còn là những cô gái trong sạch và ngây thơ”

Hai con chim lạc loài trơ trọi, lạc lõng giữa đêm giao thừa tưng bừng rộn rã khiến ta tưởng như họ là nạn nhân của cuộc đời, của xã hội và thấy xót xa cho cái thân phận cô đơn lạnh lẽo ấy đã bị đời khinh thị rẻ rúng.

“Nàng bỗng nấc lên rung động cả hai vai, rồi gục xuống ghế, tay ấp mặt. Những giọt nước mắt nóng chảy tràn mí mắt nàng không giữ được; Liên cảm thấy một nỗi tủi cực mênh mông tràn ngập cả người, một nỗi thương tiếc vô hạn; tất cả thân thế nàng lướt qua trước mắt với những ước mong tuổi trẻ, những thất vọng chán chường.

Huệ nhìn Liên rồi nhẹ nhàng đến gần, buồn rầu vỗ vai bạn:

-Liên khóc làm gì nữa buồn lắm.

Tiếng nàng cũng cảm động nghẹn ngào. Dưới bàn tay thân mật của bạn, Liên càng nức nở. Hai chị em giờ này cảm thấy trơ trọi quá. Liên ngửng mặt lên nhìn Huệ, cố gượng một nụ cười héo hắt:

-Chị cũng khóc đấy ư?

Huệ gục xuống vai bạn không trả lời. Nước mắt cũng ứ lên rồi lặng lẽ trào ra má. Nàng quàng tay ôm hết sức chặt lấy Liên”

Tấn bi kịch đầy nước mắt cuộc đời hai người con gái đáng thương lỡ sa chân xuống hố sâu tội lỗi, ngụp lặn trong bể khổ mênh mông, một tác phẩm tuy ngắn ngủi nhưng cũng chan chứa tình thương yêu đồng loại.

 

DƯỚI BÓNG HOÀNG LAN

 

Thanh nghỉ làm về quê thăm bà, bà cụ già tóc bạc phơ chống gậy mừng rỡ lại đón cháu, chàng rửa mặt. Thanh vắng nhà đã gần hai năm, cảnh vẫn y như cũ, bà chàng vẫn tóc bạc phơ, hiền từ. Căn nhà, thửa vườn là nơi mát mẻ hiền lành, bà vẫn đợi cháu trong tình thương trìu mến.

Chàng nằm nghỉ trên giường nhìn ra ngoài khung cửa sổ thấy cây hoàng lan cao vút, mùi hương thơm thoang thoảng đưa vào. Chàng cảm động vì bà yêu cháu quá.

Nga, cô gái hàng xóm thấy chàng về sang chơi, bà chàng mời cô ăn cơm. Cơm nước xong Thanh dắt nàng đi thăm vườn, chàng thấy tóc nàng thơm như hoa hoàng lan . Thanh và Nga vít cành hái hoa.

Hôm sau Thanh lên tỉnh, chàng gửi lời chào Nga và biết rằng nàng vẫn nhớ mong chàng như trước.

Đây là một áng văn tao nhã tuyệt vời chưa từng thấy trong nền văn chương Việt Nam, một thế giới vô cùng thi vị thanh tao đầy những hương thơm của hoa hoàng lan, thiên lý.

Một truyện tình cảm thật đơn sơ nhưng đậm đà, một tình cảm khác lạ, tình bà cháu dịu dàng trìu mến .

“Thanh bước xuống dưới giàn thiên lý. Có tiếng người đi, rồi bà chàng, mái tóc bạc phơ, chống gậy trúc ở ngoài vườn vào. Thanh cảm động và mừng rỡ chạy lại gần.

-Cháu đã về đấy ư?

Bà cụ thôi nhai trầu, đôi mắt hiền từ dưới làn tóc trắng đưa lên nhìn cháu, âu yếm và mến thương.

-Đi vào trong nhà không nắng cháu.

Thanh đi bên bà, người thẳng, mạnh, cạnh bà cụ chống gậy còng. Tuy vậy chàng cảm thấy chính bà che chở cho chàng, cũng như những ngày chàng còn nhỏ”

Thanh vắng nhà gần hai năm nay, chàng làm việc trên tỉnh và mong đến ngày nghỉ để tìm lại tình thương trìu mến của bà già mái tóc bạc phơ:

“Căn nhà với thửa vườn này đối với chàng như một nơi mát mẻ và hiền lành, ở đấy bà chàng lúc nào cũng sẵn sàng chờ đợi để yêu mến chàng”

Hoặc như.

“Nghe tiếng bà đi vào, Thanh vừa nằm yên giả vờ ngủ. Bà lại gần săn sóc buông màn…

…. Chàng cảm động gần ứa nước mắt. Bà yêu thương cháu quá, giờ chỉ có mình cháu với mình bà”

Chàng về quê cũng như để tìm lại tình cảm ngây thơ, trong trắng với cô em hàng xóm mà chàng đôi lúc tưởng như em ruột mình.

“Thỉnh thoảng chàng nhìn đôi môi thắm của Nga, hai má hồng và nụ cười tươi nở, nàng lại nhìn Thanh, một chút thôi, nhưng biết bao âu yếm.

Ngoài vười, trời vẫn nắng. Giàn thiên lý pha xanh một bên tá áo trắng của Nga. Những búp hoa lý non và thơm rủ liền trong giàn, lẫn vào đám lá. Gạch mát và phủ rêu khiến Thanh nhớ lại hai bàn chân xinh xắn của Nga ngày nào đi trên đó. Hai bàn chân nhỏ, lấm tấm cát, để dấu tự ngoài ao trở về”

Khác với không khí lãng mạn trong các tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng. Tình yêu của Thạch Lam ở đây thanh cao, chân thực và thơm tho như mùi hoa hoàng lan thoang thoảng đâu đây, nó vừa là tình yêu, tình hàng xóm, tình anh em và tình người.

“Bữa ăn xong, Thanh với Nga trở lại thân mật như khi còn nhỏ. Thanh dắt nàng đi xem vườn; cây hoàng lan cao vút, cành lá rủ xuống như chào đón hai người. Có lúc gần nhau, Thanh thấy mái tóc Nga thoang thoảng hương thơm như có giắt hoàng lan. Nhưng hoa lan chưa rụng, vẫn còn tươi xanh ở trên cành. Nga bảo Thanh.

-Những ngày em đến đây hái hoa, em nhớ anh quá.

Thanh chẳng biết nói gì, chàng vít một cành lan xuống giữ ở trong tay Nga để tìm hoa, rồi nhẹ nhàng buông ra cho cành lại cong lên. Nắng soi vào hai người, nhưng dưới chân, đất vẫn mát như xưa”

Dưới Bóng Hoàng Lan không phải một mối tình lãng mạn tha thiết, nhưng một tình yêu ngây thơ, trong trắng, chất phác, hồn nhiên trong cảnh thanh cao, thơm ngát của thôn quê khiến ta mơ mơ màng màng như lạc vào cõi thần tiên.

“Đêm ấy, một bà, một cháu với một cô láng giềng chuyện trò dưới bóng đèn mãi tới khuya. Khi trăng lên, qua vườn Thanh tiễn Nga ra đến cổng, đi qua hai bên bờ lá đã ướt sương. Mùi hoàng lan thoang thoảng bay trong gió mát. Không lưỡng lự, Thanh cầm lấy tay Nga để yên trong tay mình. Nga cũng đứng yên lặng. Lúc lâu Nga rút tay khẽ nói .

-Thôi em về!”

Căn nhà miền quê, thơm tho xinh đẹp tràn trề tình cảm là nơi Thanh trở về nghỉ ngơi sau thời gian làm việc để hưởng những ngày tươi đẹp.

Dưới Bóng Hoàng Lan, đoản thiên thanh tao và trang nhã nhất của Tự lực Văn Đoàn, của nền văn chương Việt Nam.

Tác giả Nhà Văn Hiện Đại đã dành cho tập truyện ngắn Sợi Tóc một địa vị rất cao trong văn chương Việt Nam, và cho tới nay chúng thấy hình như ít có tác phẩm nào sánh kịp. Các đề tài khác biệt nhau: xã hội, bi kịch, tình cảm y như đóa hoa ngũ sắc rực rỡ đã thể hiện cái thiên tài hiếm có của Thạch Lam, từ thanh cao cho đến ô trọc đều đã được ông diễn đạt một cách phong phú, sâu sắc. Nghệ thuật Thạch Lam mang nhiều ý nghĩa thâm sâu và sáng sủa, có lúc thật dễ thương, ngọt ngào tràn đầy tình cảm dạt dào, có lúc thật phũ phàng tàn nhẫn.

 

Trọng Đạt

 

Vết khắc

Sau ba năm hơn Lân mới có dịp trở lại Sài gòn, phi cảng Tân sơn nhất bây giờ thay đổi khá nhiều. Phòng chờ, quày vé, lối đi đều được mở rộng, đường bay nội địa cũng được tăng cường nhiều hơn. Rất tiếc là sự phát triển đó không hẳn do đất nước phồn thịnh mà do tình hình an ninh đường bộ mỗi ngày một tệ hại và nhiều bất trắc nên mọi người chọn đường hàng không để được an tâm. Lân tách rời đám đông, nhanh chân tìm lối ra vì anh thừa biết không ai đến đón mình, không như ngày nào ra đi, ngoài hai đứa em anh còn có người yêu và mấy người bạn đến đưa tiển. Một thoáng bùi ngùi chợt đến nhưng anh vẫn lặng lẽ bước theo đám đông cho đến khi gặp người tài xế taxi và nhờ ông ta xách hộ cho một trong hai cái túi quân trang, sau ba năm lăn lóc ngoài chiến trường gia tài anh chỉ có ngần ấy thứ.

- Thiếu úy Lân đi về đâu?

Lân hơi ngạc nhiên vì anh chỉ mặc bộ quân phục chứ không mang cấp bậc. Anh nghĩ không biết có phải một ông lớn tuổi nào đó ở cùng đơn vị, ông ta biết anh và nghỉ hưu về hành nghề Taxi để kiếm sống.

- Sao ông biết tôi?

Ông tài xế cười xòa:

- Tên và cấp bậc của Thiếu úy tôi đọc thấy trên ba lô.

Lân thấy mình vừa ngớ ngẩn lại thiếu thông minh. Để khỏa lấp ý nghĩ đó, anh vã lã với ông tài xế:

- Ờ nhỉ, ông cho tôi về đường Cao thắng.

Chiếc taxi từ từ nhập vào đường Công lý hướng về Sài gòn, Lân chăm chú nhìn phố xá hai bên đường. Bên này là cổng số 1 của Bộ tổng tham mưu, các anh Quân cảnh vẫn làm công việc của họ mỗi khi có xe cộ ra vào. Lân cũng nhận ra bên kia đường, bộ mặt mới của khu Lăng cha cả, tuy buổi trưa nhưng vẫn thấy ánh đèn xanh đỏ của các quán Bar ở khu đối diện với cổng Phi Long đường vào Bộ tư lệnh Không quân. Về đêm hẳn khu đèn màu này nhộn nhịp lắm, hai cái lỗ mũi của khu quân sự bậc nhất này chắc hẳn cũng đã ngửi thấy mùi rượu, mùi gái và mùi của mấy anh lính viễn chinh Mỹ bù khú với cái xanh cái đỏ trong các Bar.

Thấy Lân cứ mãi mê nhìn phố xá, ông tài xế lên tiếng:

- Thiếu úy rời Sài gòn lâu lắm phải không, chắc là chiến trường nào đó mới về?

Lân không dấu diếm:

- Tôi từ Miền trung đã ba năm mới trở về lại.

Thấy ông tài xế cũng vui tính, Lân gợi chuyện:

- Nghề taxi dạo này có khá không thưa bác?

Nghe Lân đổi sang giọng thân thiện, ông tài xế cũng thấy vui vui:

- Dạ, cũng kiếm sống qua ngày, những người trai trẻ như các anh đều ra mặt trận, hành nghề này chỉ có những người già như chúng tôi nên tà tà kiếm sống qua ngày.

- Tôi thấy phố xá xây mới khá nhiều, mọi người có vẽ làm ăn khá lên phải không bác?

- Vâng khá thì có khá đấy nhưng chỉ với những người làm sở Mỹ, buôn bán làm ăn với Mỹ chứ những người lao động chúng tôi, tuy có kiếm được thêm tiền so với trước đây nhưng vẫn không chạy theo kịp vật giá, cái gì cũng tăng. Mấy bà nội trợ kêu trời không thấu, đi chợ con cá chưa kịp trả giá lần thứ hai, ngó qua ngó lại con mẹ lấy Mỹ nó vớt mất ! Trở về căn nhà gia đình mua cho ba anh em Lân ở đi học, Mẹ anh hằng tháng vẫn tiếp tế cho một ít thức ăn trên quê. Chính căn nhà này người yêu anh cũng đã từng đến, khi thì đi chợ nấu hộ cho một bữa cơm để cả nhà cùng ăn, khi thì dọn dẹp các thứ bề bộn dưới bếp. Có lúc nàng cũng gặp Mẹ Lân, cả hai tỏ ra rất thân thiện. Trở về lần này tất cả chỉ còn là hoài niệm. Tố Nga đã lấy chồng sau hai năm không nhân được một dòng chữ nào của Lân cho dù một lời nhắn ngắn ngủi. Cậu em út trách anh “Trên nhà thỉnh thoảng chỉ được điện tín là anh vẫn khoẻ, tụi em chỉ biết anh ở Miền trung nhưng địa chỉ thư tín thì không có. Ngày chị Nga sắp lập gia đình có đến gặp Má, chị ấy khóc quá chừng chừng về thái độ của anh…” Vâng khóc đi Nga. Khóc cho ngày nào chúng ta cùng chung một mái trường, khóc cho những lần hẹn hò và nụ hôn đầu đời em trao cho anh. Khóc khi anh hoạn nạn, em tất tả ngược xuôi xoay sở cho anh trong lần bị bắt vào lính. Khóc cho tuổi trẻ thời chinh chiến, một lần đưa tiển là một lần vĩnh biệt và xin em hãy khóc hộ anh với quan niệm sống “là con trai phải làm một cái gì”… và rồi chính anh cũng khóc đây Nga ơi! Vì rằng “cái gì đó” cho đến giờ này anh vẫn chưa tìm thấy nó, chỉ thấy tuổi trẻ của mình mỗi ngày một mòn mỏi vì cuộc chiến, mỗi người hình như già đi trước tuổi. Có những lúc ngoài tuyến đầu anh đã xem thường mọi thứ, chỉ biết lăn xả vào trò chơi chém giết rồi cũng có lúc như người vừa tỉnh cơn say và tự hỏi có phải đó là cái mà anh đi tìm đây chăng? Thực tế đã trả lời, nó không khác gì những buổi hội thảo năm xưa, những cuộc xuống đường, những lần hoan hô hay đã đảo như dạo nào tại Sài gòn mà anh đã tham dự. Bây giờ nghĩ lại, tất cả chẳng qua là lòng hăng say, sự nổi loạn của tuổi trẻ nhất thời, dể tin theo lời tuyên truyền, xúi dại của nhóm người đứng phía sau, xô đẩy bọn trẻ vào trò chơi ‘xuống đường’. Con đường chính trị thì đầy dẫy những lọc lừa, phỉnh gạt. Nào là hãy đấu tranh, hãy hoan hô, hãy đả đảo nhưng anh Tổng hội trưởng này thì được ông Tướng cầm quyền tặng ba triệu và hứa cho đi du học, anh kia thì do phía bên ngoài cài đặt… trong khi đoàn viên nếu phải bị bắt, bị tù thì ráng chịu. Xét cho cùng, họ vì lợi ích cho dân sinh, cho xã hội thì ít, quyền lợi cá nhân phe nhóm họ thì lại nhiều. Hậu quả như em đã biết đó, anh không được tiếp tục hoãn dịch, không còn cơ hội đến trường lớp mà phải vào lính và những hành động nong nỗi ấy lại trở thành một án lệnh đối với chính anh , nó cứ bám mãi theo anh khiến anh hoài nghi phía bên này lẫn bên kia và ngay cả với chính mình. Tất cả những điều đó làm cho anh không còn thấy màu hồng trong cuộc sống. Vì thế có lúc anh quên đi bản thân, quên đi tình yêu và gia đình, lấy cả sinh mạng mình để thử làm một cái gì đó nhưng vô vọng, tất cả đều là trò chơi vô nghĩa và đáng ghét. Nó cũng chẳng khác gì trước đây, anh không thể vứt bỏ tất cả để thoát ly như một số bạn bè anh đã làm, vì rằng anh thấy viễn ảnh con đường ra đi sao nó quá mơ hồ trong khi bên anh còn có cha mẹ, còn có anh em và nhất là còn có em, có tình yêu mà em dành cho anh. Em lúc nào cũng đứng sau anh để hổ trợ, cho dù có lúc những việc làm của anh đã làm cho em phải rơi lệ. Anh cũng không thể là một kẻ cuồng tín, bị mê hoặc bởi một mớ lý thuyết xa dời và mơ hồ như một thằng bạn, một mình đứng lên hoan hô đã đảo giữa toà án để lảnh bản án đi đày Côn đão và rồi vượt ngục, đi theo con đường anh ta cho là lý tưởng nhưng chỉ một sớm một chiều, anh ta chưa kịp nhìn thấy cái lý tưởng đó thể hiện như thế nào thì bạn bè đã nhận được tin anh gục ngã trong bom đạn nơi chiến trường. Tuổi trẻ các anh là như vậy đó, không bên này thì bên kia, nếu cứ tiếp tục cái đà này rồi một ngày nào các anh cũng sẽ gặp nhau trong cùng cõi chết. Một điều thật phi lý nếu phải đem sinh mạng mình đánh đổi với những cái không ra gì đó là chiến tranh, những người gây ra chiến tranh, gây ra tội ác trên quê hương này.

Lân không muốn rời khỏi nhà, nơi đây đầy ắp những kỷ niệm giữa anh và Tố Nga. Từ thuở còn cùng nhau đến trường, từ cái bàn học hai đứa cùng ngồi ôn bài cho đến bộ ghế đơn sơ nơi phòng khách, khi rảnh rổi hai đứa ngồi tán gẫu hay bàn về tương lai. Dường như nơi đâu cũng có vết khắc của Nga và anh còn lưu lại. Anh muốn ôm ghì và siết chặc tất cả hình ảnh đó vào giấc ngủ và anh đã ngủ liên tiếp trong mấy ngày liền khi trở về lại Sài gòn.

 

—o0o—

 

Đến đầu tuần là phải trình diện quân trường anh được đề nghị theo học, mấy ngày còn lại Lân dành thăm một số bạn bè cũ, hầu như đa số lần lượt vào lính. Một số khác nhảy qua ngành sư phạm làm những ông giáo bất đắc dĩ để được hoãn dịch. Lân cũng đến thăm người bạn gái cùng xóm, một trong bộ ba những người bạn gái rất thân với Lân dưói cùng một mái trường trung học năm xưa. Chị ta phải rời nhà trường sớm theo học ngành sư phạm cũng như Tố Nga từ giả học đường đi làm công chức để phụ giúp gia đình, họ là những người con gái ngoan hiền và thật dể thương.

- Con chào bác, cô giáo Hương cuối tuần có về không thưa bác?

Mẹ Hương có cửa hàng bán bánh mì ngoài đầu ngõ, bà vừa bán hàng vừa nhìn Lân, mãi một lúc sau mới nhận ra:

- Cháu Lân! Mèng ơi đi đâu biệt tích giờ này mới quay về vậy cháu?

- Dạ ở tận ngoài Trung lận bác, cứ phải hành quân luôn khó mà xin được nghỉ phép về thăm nhà.

- Có hề gì không mà trông cháu khác lạ, người gầy lại xanh xao nữa, bác nhận không ra?

- Cháu… vừa bị bệnh sốt rét nhưng đã điều trị khỏi rồi thưa bác.

Lân không muốn nói mình vừa bị thương làm cho câu chuyện dài thêm ra nơi chỗ đông người trong khi Mẹ Hương, tay bà vẫn tiếp tục làm bánh mì dồi cho khách, bà bảo Lân:

- Vào nhà, vào nhà chơi đi cháu. Con Hương tuần này có về, nghe nói tụi nó chờ cháu về để hỏi tội gì đó, có lẽ… về cháu Nga thì phải.

Bà vừa nói vừa cười và không quên nói thêm :

- Tuổi trẻ các cháu bây giờ sao mà lắm chuyện phiền phức!

Lân trù trừ định nói đùa ‘chứ không như các bác ngày xưa, lớn lên cha mẹ đặt đâu con ngồi đó’, còn bây giờ… nhưng thấy bà quá bận trong buổi sáng cuối tuần, lại không có ai phụ giúp nên anh đành chào và xin phép vào nhà thăm Hương.

Con hẻm vào nhà Hương không sâu bên trong lắm nhưng theo lời Hương ở đó có biết bao gia đình, mỗi căn hộ là một tổ ấm hết thế hệ này sang thế hệ khác, không ai nghĩ đến việc bán buôn cho người khác. Mọi người quen biết nhau khi còn để chỏm nên trở thành thân thương, thân thương đến độ không ai muốn xa rời những người hàng xóm trong con hẻm này. Khi lập gia đình cho dù ở xa, một năm đôi lần người ta vẫn thấy họ về thăm lại xóm cũ. Nếu không còn cha mẹ thì cũng anh em và nhất là gặp lại bạn bè xưa. Theo vận nước, thành phố này cũng đã trải qua bao cuộc bể dâu nhưng người dân ở đây vẫn bám trụ. Họ chỉ là người dân lao động bình thường, họ làm đủ mọi ngành nghề, chính ở chỗ họ không làm nghề cao sang quyền quý nên ít khi muốn thay đổi từ chỗ ở cho đến cách sống mặc dù thế hệ về sau này, con cái họ học hành đỗ đạt, làm ăn khá hơn nhưng vẫn giữ nếp sống cũ căn nhà xưa.

Lân vừa đi vừa lan man nghĩ về những con hẻm đặc trưng của Sài gòn, nổi tiếng về nhiều mặt như ăn uống, vui chơi giải trí … có thể nói không nơi nào giống nơi nào. Ngay như con hẻm nhà anh và nhà Hương tuy cách nhau chỉ một con đường nhưng nếp sống bên này và bên kia khác nhau khá xa. Sự khác biệt phải chăng bên nhà anh, nhà cửa đổi chủ luôn nên thiếu sự thân thiện, cuộc sống mỗi gia đình gần như khép kín, mọi người chào hỏi nhau không hơn một cái gật đầu.

Trước mặt Lân là căn nhà khá thân quen, không thể quên được tuy mặt tiền mới sửa sang lại trông khá sáng sủa, cái cổng trước nhà bằng gổ nay được xây lại bằng gạch và có song sắt. Trong nhà không đóng cửa, từ bên ngoài thấy thấp thoáng bóng người dường như đang thu dọn hay bày biện cái gì đó. Lân tự mở cổng, vào tận cửa trong anh mới đưa tay lên gỏ mấy cái, người con gái xúng xính trong bộ đồ bộ quay ra kêu lên :

- Anh Lân!

Trước thái độ mừng rở của Hương, Lân bổng nhớ đến kỷ niệm xưa nên đùa:

- Sao khoẻ không “bà xã”!

Nhắc lại kỷ niệm này, có lẽ Hương vẫn còn thấy ngượng nên rũa Lân:

- Đồ quỷ! Vào đây, vào đây… ‘kẻ bạc tình’ nhưng trước hết cho biết sức khỏe thế nào, trông anh bệ rạc quá như là…

- … người về từ cõi chết! Lân cướp lời Hương và cho nàng biết tình trạng sức khỏe anh hiện nay.

Vừa ngồi xuống Lân đã nghe nàng nói một thôi một hồi, từ chuyện Tố Nga khổ sở thế nào đến chuyện cô ta lấy chồng làm sao và lấy ai, Lân nghĩ thầm “có lẽ cô giáo nào cũng mang chứng bệnh nghề nghiệp là nói nhiều”! Lân đành kiên nhẫn ngồi chờ và chịu khó lắng nghe, anh biết rồi cũng đến lúc nàng phải đi đến một kết luận nào đó chắc là không quá xa với chủ đề.

- Tụi này cứ ngỡ anh đi làm biệt kích, nhảy dù ra Bắc nên mới tuyệt tích giang hồ như vậy!

Lân phụ họa theo:

- Trong hoàn cảnh này tôi nghĩ nếu được cũng nên lắm!

Trong lúc Hương xin phép ra nhà sau làm thức uống, Lân nhìn theo bóng dáng người bạn tốt bụng và thân thương này, anh không làm sao quên được kỷ niêm ngày nào. Khi Tố Nga biết được tin Lân bị bắt và đưa vào Trung tâm 3 nhập ngũ, nàng tìm đến Hương để cả hai tính xem có cách nào giúp Lân không. Sau cùng mọi người chấp nhận phương cách, số là Hương có người anh họ, sĩ quan có cấp bậc khá cao đang làm việc ở Bộ tổng tham mưu. Sau khi bàn bạc với Nga và đưọc mẹ đồng ý, Hương nhận Lân là người yêu. Hai đứa chờ sau khi Hương tốt nghiệp cô giáo là làm đám cưới. Nhờ thế người anh họ Hương mới tận tình giúp đở cho cô em vốn mồ côi cha, nhiều năm qua mấy mẹ con sống đùm bọc lẫn nhau và cố giương lên tìm một chỗ đứng trong xã hội đầy khó khăn và nhiều bất trắc này.

Theo sự sắp xếp, sau khi thụ huấn ở Trung tâm huấn luyện Quang trung xong, Lân được chuyển về đơn vị trong Biệt khu Thủ đô đi dạy học ở một trường Văn hóa Quân đội. Nhờ thế Lân mới có thì giờ tiếp tục hoàn tất năm cuối chương trình Trung học cho đến khi có lệnh Tổng động viên, không có cách nào khác Lân đành xin chuyển sang sĩ quan trừ bị Thủ đức vì thời gian đi Quân dịch khi này được kéo dài thêm chứ không còn như trước đó. Mọi việc do sự sắp xếp từ bên ngoài, Lân không hề hay biết cho đến khi ông anh Hương đến tận nơi thăm viếng và báo cho Lân biết sự việc đang diễn tiến theo chiều hướng tốt đẹp, đặt Lân vào tình thế đã rồi tuy có làm cho anh khó chịu nhưng vẫn không quên sự tận tình giúp đở của nhiều người từ bên ngoài. Điều buồn cười và đáng nhớ nhất là Lân và Hương đóng cho trọn vỡ tuồng đôi tình nhân sắp cưói nhau, tay trong tay âu yếm trong suốt thời gian hai người đến thăm và cảm ơn người anh họ.

Hương trở ra với vài món ăn và thức uống, nàng vừa đặt lên bàn vừa đùa:

- Thức ăn và nước uống sẽ làm cho anh dể nuốt chứ không như những điều Hương sắp chất vấn anh đây:

- Anh có biết vì sao Tố Nga lấy Hùng không?

Thấy Lân vẫn lặng yên, nàng nói tiếp:

- Nếu nói trả thù anh thì có hơi quá đáng nhưng Hùng thì không xa lạ gì với anh, Hùng cũng đã từng theo đuổi Nga, từng làm cho anh và Nga có lúc giận nhau. Cái quan trọng là Hùng cũng phải vào Thủ đức sau anh mấy khóa. Điều này nói lên cái gì nếu không là Nga muốn chứng minh suy nghĩ và hành động của anh là sai. Đất nước trong giai đoạn này thanh niên bên này hay bên kia cũng đều đi lính, bọn con gái tụi em nếu lấy chồng thì lấy ai đây, chẳng lẽ lấy mấy ông cụ ở hậu phương hay lấy để hầu hạ mấy anh con nhà giàu trốn lính ở nhà ăn chơi phè phỡn? Ngay như Hương, người yêu của Hương bây giờ tuy là nhà gíáo nhưng cũng là sỉ quan biệt phái, một ngày nào đó khi quân đội cần thì anh ấy sẽ phải lên đường, Hương cũng đành chấp nhận thôi.

- Xin lỗi Hương, tôi nghĩ Nga lấy ai không còn là điều quan trọng trong lúc này, cái đáng nói ở đây là Nga có được hạnh phúc hay không. Thú thật tôi yêu Nga, tôi trân quý tình yêu Nga dành cho tôi và tôi lúc nào cũng muốn cho Nga được hạnh phúc nhưnng hoàn cảnh của tôi, cuộc sống rày đây mai đó, bản thân tôi chưa bao giờ thấy mình hạnh phúc thì còn nói gì đến chuyện mang hạnh phúc đến cho người khác.

- Anh Lân, đã bao năm rồi suy nghĩ của anh vẫn không thay đổi. Anh cứ mãi đi tìm cái tuyệt đối trong cuộc sống, cái lý tưởng anh theo đuổi cả đời này cho đến đời sau, chưa chắc anh đã tìm thấy. Tại sao anh không chấp nhận hoàn cảnh thực tại, thỏa hiệp với cuộc sống một cách bình thường như mọi người miễn là chúng ta đừng làm những điều phi nhân, vô đạo để phải hổ thẹn với lương tâm với người đời. Chiến tranh là mất mát là khổ đau nhưng chúng ta làm được gì đây, khóc thét kêu gào có ngăn chặn được nó chăng hay là chúng ta phải chấp nhận, bình tỉnh chấp nhận để tìm ở đó những mầm sống hay một huớng đi. Ngay như trong tình yêu anh cũng chỉ muốn cho mà không nhận lại, hành động một chiều này tự anh hủy diệt tình yêu, anh giết chết nó vì hành động đó không bao giờ đi đến một kết quả tốt cho một cuộc tình. Còn hạnh phúc trong lứa đôi cũng đâu chỉ có một người vung xén và bồi đấp mà cần phải cả hai. Thời nào và ở đâu cũng vậy, nếu người chinh phu xông pha nơi trận mạc thì người chinh phụ ở nhà làm lụng nuôi dạy các con, tuy xa cách nhưng lúc nào cũng thương nhớ và nghĩ về nhau, cho dù người chinh phụ đó có hóa đá cũng là điều hạnh phúc cho nàng!

Cô giáo Hương nhận xét về mình, Lân nghĩ cũng có phần đúng. Nếu trước đây không vì lỗi lầm hay đúng hơn là do sự thành thật khai báo về hoạt động trong thời kỳ sinh viên học sinh xuống đường, có lẽ sau khi mãn khóa ở trường sĩ quan Thủ đức, Lân sẽ được chọn đơn vị nào đó trong Miền nam thay vì bị bắt buộc ra Miền trung và những sự việc xảy ra tiếp theo sau đó, chắc không hẳn rơi vào tình huống như bây giờ.

Anh thở dài nói lời hối tiếc với Hương:

- Có lẽ chúng tôi có duyên nhưng không có phận!

Hương không phản đối và an ủi anh:

- Bạn bè thân thiết chúng mình không có mấy đứa, thú thật với anh, ba đứa bọn này từ đầu đều có cảm tình với anh, yêu cái tính gàn dỡ, bất cần đời của anh thì đúng hơn nhưng khi biết Nga tỏ ra khắn khít với anh nên hai đứa này phải rút lui mà không hề đố kỵ. Riêng với Hương, chắc hẳn anh còn nhớ những gì đã diễn ra khi anh bị bắt đi lính, Hương đã làm đủ mọi cách để cùng Nga kéo anh ra khỏi thời kỳ khủng hoảng đó. Tình bạn chúng tôi là như vậy đó, mong anh hiểu cho.

- Cám ơn Hương, tôi hiểu việc làm của Hương, tôi không bao giờ quên những gì các chị đã cho tôi từ tình bạn đến tình yêu. Tôi cũng hy vọng rằng dù trong hoàn cảnh nào chúng ta cũng cố giữ lấy nó. Tôi cũng mong các chị cũng nghĩ như vậy và giúp tôi xin Nga hãy tha thứ cho tôi.

Dường như nhớ ra người bạn nữa trong bộ ba các cô, Lân hỏi:

- Dạo này Dung thế nào rồi hả Hương?

- Chị ấy đang chuẩn bị lấy cho được cái bằng Cử nhân luật.

Lân đùa:

- May quá, nếu có chị ấy Công tố viên lại có thêm một người đứng ra buộc tội thì bị xử tử hình là cái chắc!

Hương lại ởm ờ:

- Sao có muốn gặp cô Cử không, cô ấy vẫn hỏi thăm anh luôn đó!

Lân cũng đùa lại Hương:

- Thực tế một chút có đưọc không, trước mắt đây không ‘gặp’ mà tìm ở đâu cho xa!

- Không dám đâu, mọi sự đã lỡ hết rồi người ơi!

 

(Một thời chinh chiến)

Vũ Linh

 

Tản mạn ca dao

(Tùy bút)

Ca-dao Việt-Nam là một thể loại văn-chương bình dân đại-chúng, phần nhiều

không dài, thường chỉ cần hai câu lục bát cũng đủ nói lên điều thiết yếu.

Không rõ bắt nguồn từ thời nào, ai là kẻ xướng xuất, thể tài này thông dụng khắp bờ cõi, từ ải Nam-Quan đến mũi Cà-Mâu, có thể từ đời Hùng-Vương mở nước, từ khi có tiếng nói…đến mãi bây giờ và chắc chắn còn kéo dài về sau, không hẹn mà cùng nhau, những bậc tao nhân mạc khách , hàng dân giả đa tình, mở miệng thành vần, buông lời hợp điệu, tạo ra những câu lục bát, tả tình, tả cảnh, vẽ nên những hình ảnh, để gửi gắm tâm sự, ước mơ…tràn lan trong không gian và thời gian.

Đúng như mọi người đều đồng ý, nó mang tính cách trữ-tình, tươi vui, nhiều khi đi đến hài hước, õng ẹo, ỡm ờ, dí dỏm, bình dị, phần lớn dễ hiểu, nhưng cũng có nhiều khi lắt léo, chữ dùng tùy địa phương kể luôn tiếng lóng.

Một điều không chối cãi được là thể thơ lục bát ngày nay vốn có nguồn gốc trong ca-dao dân gian từ xa xưa để dần dần đã trở thành thể thơ đặc biệt dân-tộc Việt-Nam khắp thế giới chẳng tìm đâu ra.

Nói vậy e rằng không đúng chăng? Vì người Mường, người Chàm cũng có thơ lục-bát! Ca-sĩ Chế-Linh đã trình bầy một điệu lục bát Chàm trong một cuốn băng nhạc nghe rất hay. Lại nữa, ta cũng tìm thấy trong sách vở những bàì lục bát Chàm như:

 

Nư lơi nư đí ca vanh

Kla mông pạt bạc pụ pành ten me

Nư lơi nư ránh đi me

Nư hia nư chó ngá kề hưa nư.

 

Vâng, đó là lục bát Chàm! Nhưng lục bát Chàm thì cũng là lục bát Việt-Nam vậy! Vì người Chàm, người Mường thì cũng là người Việt-Nam từ lâu, đương nhiên đang sống rải rác trên mảnh đất yêu qúy hình chữ S và hiện chỉ có một số rất ít quây quần ở vùng Bình-Thuận còn giữ mấy tập quán đặc thù làm tiêu biểu.

Những tập quán đặc thù này chỉ có tính cách địa phương, người ta thích nói thế, làm thế, thí dụ như vùng Sơn-Tây Bắc Việt có tục ăn tết lại, để kỷ niệm một thời chạy giặc, vứt bánh chưng xuống ao cất giấu, chờ khi tan giặc trở về, vớt lên, cùng nhau vui hưởng tiếp mùa Xuân…Vậy không nên vì thế mà gạt nó ra ngoài vòng quốc-gia, gây chia rẽ.

Thể thơ lục bát không có trong chương trình học vấn thuở trước. Về sau này các giáo sư có giảng qua ở bậc trung học, sách Văn-Học Việt-Nam của Dương-Quảng-Hàm cũng đề cập tới, nhưng có thể nói chẳng ai dậy ai, song chắc chắn đã là người Việt-Nam thì thể nào trong đời cũng ít nhất có đôi dịp nổi hứng làm một vài câu thơ lục bát và lục bát càng về sau càng được các tác giả thơ nôm chau chuốt thêm, nên khi đề cập tới tính dân tộc, để chứng minh điều này, Trần-Ngọc-Vượng đã nhận xét:”Đến Tản-Đà lục bát mới hoàn chỉnh.” Còn Phạm văn Diêu trong bài Ngôn Ngữ Và Giọng Điệu Thơ cũng đồng ý như thế khi viết “Sau Nguyễn-Du có lẽ Tản-Đà là nhà thơ lục bát đặc sắc nhất.” Thật là một điều rất hãng diện.

Tuy nhiên cần lưu ý một điều, thơ lục bát là thơ lục bát. Ca dao là ca dao. Lý do cũng dản dị: Bài thơ lục bát luôn kèm tên tác giả ở phần cuối, còn ca-dao thì không! Thật hãn hữu mới có trường hợp nhầm lẫn, hay nói đúng ra là sự không đồng ý, rõ ràng, thống nhất như dư luận đã đặt nghi vấn cho hai câu:

 

Hỡi cô tát nước bên đàng,

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

 

Người thì bảo đây là thơ của Bàng-Bá-Lân, kẻ lại nghĩ đó là ca dao vì hai câu không bị hơi hướng uyên thâm của văn chương bác học và nó đã nêu lên một hình ảnh vô cùng gần gụi, phổ biến, chỗ nào cũng gặp nơi đồng quê mộc mạc, người người đã thuộc và thường chỉ nhắc đi nhắc lại hai câu chẳng biết phía trên và tiếp theo sau nó còn có câu nào hay không.

Tuy xưa kia lục bát không có trong chương trình học vấn, tuy đã là người Việt -Nam ai nấy đều có hơn một lần là tác giả một vài bài thơ lục bát, nhưng ngày nay muốn làm thơ lục bát cũng có những luật lệ căn bản cần theo với những biến thể được giải thích, viết thành sách một cách cặn kẽ cho người ham học dễ bề nghiên cứu.

 

Bình : hai, sáu, tám. Trắc: tư

Phải lo giữ trọn, kỳ dư mặc tình.

Bằng không giữ được cho tinh,

Hai: trắc. Bốn: bình thế lại càng xuôi.

 

Mấy câu trên có thể là thâu gọn cách làm thơ lục bát cách căn bản, trích từ cuốn sách : Sơ Lược về Thể Lục Bát của Phạm văn Hải, in lần thứ hai 1994, ở miền Đông Hoa Kỳ.

Như vậy, tóm tắt, thử hỏi ca dao là gì nếu không phải lời ca tiếng hát của làng xóm thôn quê nước ta trải dài qua lịch sử giống nòi. Ca dao sử dụng hoàn cảnh nào, nơi nào cũng được, nó rất giầu nhạc tính, chẳng cần âm nhạc phụ họa. (Thuyết-Văn : Dao đồ ca tòng ngôn nhục thanh.) Người Việt-Nam thuở trước cả nam lẫn nữ thuộc ca dao rất nhiều, theo thiển ý không phải chỉ là để hát lên cho vui giữa lúc làm việc mệt nhọc qua các điệu hò, lý, ru con…và phổ thông nhất là nơi các điệu hát quan họ để giải trí trong những dịp hội hè lễ tết, tổng cộng có thể lên tới mấy ngàn điệu dân ca rải rác khắp thôn cùng ngõ hẻm.

Còn một điều thực dụng nữa là, cần học, cần hiểu ca dao để những khi giao tế sử dụng tiếng Việt cho dễ dàng, khúc triết khỏi ấp úng, khó khăn, dài dòng:

 

Chồng em như cột đình xiêu,

Như thân củi mục, còn yêu nỗi gì!

 

Lại nữa, người con trai khi nhìn thấy cô thiếu nữ xinh đẹp, muốn trêu ghẹo, hoặc muốn tính chuyện lâu dài trước hết đã thăm dò bầy tỏ lòng mình một cách dễ dàng và an toàn bằng cách dùng ca-dao :

 

Thấy ai anh muốn lại gần,

Cầu không tay vịn anh lần anh đi!

 

Hai câu ca-dao này có vẻ bâng quơ, hát lên như gửi vào không khí cho mây cho gió, vô thưởng vô phạt, và chắc chắn cô thiếu nữ, hiểu ngay đó là ca dao song lúc nghe chắc chắn cô lại nghĩ đó là câu nói được gửi tới cho cô, người trai hát lên là để bộc lộ nỗi lòng thầm kín với riêng cô, để rồi cúi đầu mỉm cười thẹn thùng, khoan khoái, tự hỏi thầm “Yêu em chăng?”

Thí dụ trên đây đưa đến một nhận xét lý thú, mọi người đều biết mình không phải tác giả, nhưng vẫn sử dụng ca dao y như mình là tác giả, còn về phía người nghe, cũng biết tỏng đó là ca dao nhưng cũng đinh ninh câu hát đó như thể “người ta” muốn nói với riêng mình…Chúng ta mơ màng tưởng tượng được như vậy là vì ca dao chẳng phải môn văn học VIẾT và ĐỌC mà là NÓI và NGHE.

Cũng vì ca dao là loại văn chương nói và nghe, văn chương truyền khẩu, nên ca dao không có tác giả và nó ít khi được sử dụng, trình bầy bởi một người hay một bên hát lên chẳng có người nghe, trong trường hợp “có người nghe” thì người nghe chẳng phải chỉ để…nghe mà còn để suy nghĩ xem mình sẽ phản ứng tham dự như thế nào, mình sẽ “trả đũa” bằng câu ca dao nào cho cuộc đối thoại.

Dù đang làm việc, dù đối diện, tuy gần mà xa, tuy xa mà gần, họ không nói chuyện bình thường, chỉ thay phiên hát lên những câu ca dao tựa như người viết lá thư, người nghe chính là người nhận thư và sau đó người nhận thư lại hát lên câu ca dao khác như là thư phúc đáp…

Một điểm khác, ca dao phát sinh, trưởng thành, di chuyển, biến hóa như sinh vật. Biến hóa vì nhớ không đúng một vài chữ trong câu văn nguyên thủy, biến hóa phần nào cho hợp với cảnh, tình, thủy thổ…ngõ hầu mang lấy hình thức, khung cảnh, tình thế đương đại…Bao đời ca dao được truyền khẩu từ người nọ qua người kia, vùng này sang vùng khác, đời trước tiếp nối đời sau như thế…từ xưa đến nay… không có gì trục trặc!

Để chứng minh cho sự kiện này xin dẫn ra đây tóm tắt chuyện kể nơi tập sách Phong Tục Miền Nam Qua Mấy Vần Ca Dao của Đào-Văn-Hội như sau:

Tiên-sinh Đào-Văn-Hội sinh trưởng ở Tân-An nên giới thiệu câu ca dao:

 

Ba phen quạ nói với diều,

Ngả kinh ông Hóng có nhiều vịt con.

 

Ông Hóng là một cự phú thời Nguyễn-Ánh còn bôn ba hồ hải, sông nước Đồng-Nai, một ngày kia chiến thuyền của ngài đến bỏ neo trên khúc sông Vàm-

Cỏ-Tây chẩy ngang tỉnh Tân-An. Nguyễn -Ánh thiếu lương thực, sai thị thần đến yêu cầu ông Hóng ở làng Bình-Lăng Tân An tiếp tế cho “một bữa cháo”

Ông Hóng mói đào một con kinh từ nhà ông ta thông ra sông Vàm-Cỏ đặng thuyền của ông có thể chở lúa gạo ra sông tiếp tế cho chúa Nguyễn. Con kinh ấy về sau được dân trong vùng gọi tên là kinh Ông Hóng.

Nhưng một người khác ở tỉnh An-Giang nói nơi ấy có câu:

 

Ba phen quạ nói với diều,

Cù lao ông Chưởng còn nhiều cá tôm

Cù lao này nằm trên sông Hậu Giang chẩy ngang tỉnh An-Giang…Chưa hết! Trong quyển Hương Hoa Đất Nước tác giả Trọng-Toàn lại kể ra một câu khác, tương tự nhưng có tính cách tổng quát, chung chung, không nhất thiết nói tới riêng một địa phương nào:

 

Ba phen quạ nói với diều,

Vườn hoang cỏ rậm thì nhiều gà con.

 

Qua ba trường hợp trên chẳng thể nói câu nào sai, câu nào đúng. Ba câu đều đúng! Cũng không thể nói câu nào “đạo văn” của câu nào.Chẳng biết câu nào có trước câu nào có sau Chẳng biết ai là tác giả, nhưng nó phải từ một câu rồi sau đó dân điạ phương mới cương thêm vài chữ để cho đúng thực tế. Có lẽ nhờ đặc điểm phóng khoáng dễ dàng như vậy nên ca dao đã phổ biến rộng rãi cũng như sống mãi cùng người dân hiền hòa đời nọ sang đời kia.

Tới đây chợt nhớ hai câu thơ của Dương-Khuê nơi bài Hà-Nội Tức Cảnh do học giả Thái-Văn-Kiểm trình bầy trong một buổi diễn thuyết:

 

Phất phơ cành trúc trăng tà,

Tiếng chuông Trấn-Võ, canh gà Thọ-Xương.

 

Chuông Trấn-Võ ở trong đền Quan-Thánh đầu đường Cổ-Ngư bờ Hồ-Tây Hà-Nội, ở Hà-Nội cũng có huyện Thọ Xương, giữa thành phố gần khu Nhà Thờ.

Tiện thể ghi lại, và xin đừng nhầm với hai câu ca dao vô cùng thơ mộng của vùng sông Hương núi Ngự.

 

Gió đưa cành trúc la đà,

Hồi chuông Thiên-Mụ canh gà Thọ Xương.

 

Và nhiều phần có thể từ hai câu ca dao bất hủ này mà về sau ta lại nghe phát hiện hai câu na ná, áp dụng cho một vùng trời mãi tận… “đàng trong”

 

Gió đưa cành trúc la đà

Tiếng chuông Xá-Lợi canh gà Thủ-Thiêm.

 

Như trên đã giới thiệu, tính chất của ca dao gồm cả ỡm ờ, dí dỏm. Nó dí dỏm, ỡm ờ cả trong những câu đề cập tới “chuyện người lớn” một cách thật tài tình.

 

Một rằng thương, hai rằng thương,

Có bốn cái chân giường gẫy một còn ba.

 

Trên phương diện này xin đặc biệt đề cập tới bài ca dao rất phổ biến mà tin chắc là ai cũng thuộc.

 

Trên trời có đám mây xanh,

Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng

Ước gì anh lấy được nàng,

Để anh mua gạch Bát-Tràng về xây!

Xây dọc anh lại xây ngang,

Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

Có rửa thì rửa chân tay,

Chớ rửa lông mày chết cá ao anh.

 

Về tám câu ca dao rất phổ thông trên đây, tôi có mấy thắc mắc từ lâu, thắc mắc vì chẳng hiểu tại sao câu thứ sắu đang nói xây hồ, mà câu thứ tám lại là ao

Thắc mắc vì rửa chân tay thì được mà rửa lông mày thì lại chết cá ao anh?

Một vị cao niên người khô như con mắm nhưng làm thơ ướt át như mới vớt dưới nước lên, trong lúc trà dư tửu hậu, nói với tôi đại ý, hồ hay ao cũng là một chỗ đất chũng có nước, hồ có khi lớn hơn ao, nhưng cũng có khi nhỏ hơn ao, mà dù to dù nhỏ thì cũng được thôi, văn chương bình dân đâu có ai khắt khe bắt lỗi…hơn nữa về phương diện âm điệu , chữ ao nơi câu tám đắc địa hơn chữ hồ, mới lại biết đâu đó chẳng qua là người xưa muốn tránh…điệp tự!

Lời phát biểu chứng tỏ tính dễ dãi, chin bỏ làm mười, dĩ hòa vi quý…đúng là một nhà thơ, chẳng lấy làm quan trọng hai chữ “Chính danh “ làm nghe tới đây tôi chợt nhớ đến bài tiểu luận nói về Khuất-Nguyên và tết Đoan-Ngọ mới đọc ngày nào đại ý…

Sử ký Tư-Mã-Thiên khi chép chuyện quan tả-đô nước Sở là Khuất-Nguyên

(343 – 277 trước Công Nguyên) tự tử ở sông Mịch-La lúc thì viết đeo đá (bội thạch) khi thì tả ôm đá

(Bảo thạch) ông vô tình cũng không “nhất trí “ quan tâm đến ngữ nghĩa dù chỉ là hai từ nhỏ làm cho Tiêu-Dĩ-Cự, một nhà nghiên cứu sử thời Mạt Minh đặt thành Mịch La nghi án! Cho nên nhiều khi xin chớ coi thường lỗ nhỏ, lỗ nhỏ cũng làm đắm thuyền và lời phát biểu của vị cao niên kia chỉ xin ghi nhận như một ý kiến cá nhân rất đáng quý, có tính cách tham dự tích cực vào việc cùng nhau thảo luận tìm giải thích cho một thể tài chung, gây hào hứng.

Còn vấn đề “Đừng rửa lông mày chết cá ao anh” thì một vị cao niên khác, uyên bác Hán học, luôn gọi tôi là tiên sinh, mặc dù tôi đã từng gõ cửa học hỏi ba điều bốn chuyện nhiều phen, cũng bữa đó cho hay, bài ca dao này thực ra còn hai câu chót

 

Có chết thì chết cá mè ranh,

Đừng chết cá trắm, chép mà anh bắt đền!

 

Tôi hơi ngạc nhiên vì chưa nghe bao giờ. Trong cuốn Ca-Dao Hài-Hước của Đào-Thản tái bản hồi tháng 8 năm 2001 ở trong nước, bài này cũng chỉ có 8 câu. Ông bạn vong niên còn lưu ý, trong hai câu cuối này, nêu lên toàn những loài cá mầu trắng, thân hình như chiếc lá, giống như cá diếc! Rất gợi hình, ví von, chúng khác hẳn loại cá xộp, cá quả, cá trê… mình tròn. Phải hiểu ngầm, ý tại ngôn ngoại, ngôn ngữ, nhất là văn chương, đôi khi không nói ra được… “sự thật phũ phàng!” Hơn nữa, đôi khi ngôn ngữ lại có nhiều nghĩa khác nhau, thí dụ, lấy ý từ tập Cửu Chương, chương Tư-Mỹ-Nhân, của Khuất-Nguyên, Tô-Đông-Pha đã viết câu thơ dưới đây và chữ “Mỹ nhân” là để chỉ “nhà vua” chứ không phải người đẹp.

Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương.

Một thí dụ khác, đọc câu ngạn ngữ “Mèo mả gà đồng” và câu ca dao “ Măng non nấu với gà đồng, chơi nhau một chuyến xem chồng về ai” thì “gà đồng” nơi câu ca dao là con ếch chứ không phải con gà như trong câu ngạn ngữ.

Nói về đám mày râu, thì trong truyện Thúy Kiều, khi tả Từ Hải “Vai năm tấc rộng thân mười thước cao”. Đọc qua thấy vóc dáng gì kỳ quái thế, mỗi thước là 0,425 mét. Vậy cha nội này chẳng đi cà-khêu mà cao hơn 4 mét! Cao quá! Kềnh càng, khác người quá! Nhưng phải tả khác thiên hạ như thế mới nói lên được cái tài năng khác thiên hạ, ý của tác giả là thế, giống như trong truyện Tam-Quốc Chí cũng vậy tác giả La Quán Trung đã áp dụng phương pháp khoa trương, phóng đại để tả hình dáng nhân vật: “hình dáng Lưu Bị mình cao bẩy thước rưỡi, hai tai chấm vai, tay dài quá đầu gối” Văn chương đâu phải khoa học mà cần rõ ràng như hai với hai là bốn, nói vậy mà không phải vậy Ca – dao cũng vậy. Hãy nghe câu ca dao dưới đây nào ai đi hỏi “Thế cái tỉnh tình tinh là cái gì?”

 

Người xinh cái bóng cũng xinh,

Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn!

 

Vâng, văn chương chẳng phải khoa học, Khoa học là rất khó và văn chương cũng chẳng dễ đâu. Mấy điều nhận xét trên đây là những đóng góp, tham dự thật hào hứng, quý báu, biết đâu, chả có qúy vị cao minh đây đó biết rành sự thật, để ý chỉ vẽ, góp ý thêm cho tác giả sau này thì “chúng tôi” thật là hoan hỷ và vô vàn cảm tạ.

Mặt khác văn chương truyền khẩu, đại chúng, tác giả phần lớn là những người bình dân ít học, ít thông hiểu chữ Hán như các vị túc nho, sáng tác ca dao Việt-Nam được vậy cũng là tuyệt vời, làm sao bì được với “kẻ sĩ”, “Văn như Siêu, Quát…” mà các vị này gặp trường hợp nói đến các chữ tục, thì lại biểu diễn, thường dùng chữ nghĩa cao siêu cho nó thanh thoát nhẹ nhàng bớt, chẳng hạn: hậu môn, tiểu tiện, cửa mình, “em ngồi bên cửa mình em!”(thơ NPL) Trong quá khứ ta cũng còn thấy nhiều vị đã phô diễn tài năng diễn tả những điều khó nói ấy trong văn thơ một cách độc đáo, tuyệt vời:

 

Đầu sư chẳng phải gì bà vãi,

Bá ngọ con ong bẽ cái lầm.

Hồ-Xuân-Hương.

 

Tuy nhiên với tinh thần cầu học, tôi chẳng muốn giữ thái độ “Biết thì thưa thì thốt, chẳng biết thì dựa cột mà nghe.” Xin mạo muội trình bầy thêm mấy ý nghĩ thô thiển, dù đúng dù sai, cũng là đóng góp phần nhỏ vào bài Tản Mạn… cho thêm hào hứng vì “Tới đây chẳng hát thì hò, Chẳng phải như cò ngỏng cổ mà nghe.” Và có điều gì không phải ước mong các vị am tường điều chỉnh cho.

Trước hết, đọc bài ca-dao trên đây ta thấy mạch văn không liền từ đầu đến cuối. Hình như có một người xướng xuất sáu câu đầu và một người khác bổ túc những câu sau. Hai người này có thể ở những vùng đất khác nhau, ở các giai đoạn thời gian khác nhau như trường hợp câu “Ba phen quạ nói với diều” Song cũng có thể cùng nhau hiện diện một lúc để cùng “tán tỉnh” cô gái trước mặt.

Dây chỉ là sự phỏng đoán vì câu thứ sáu chẳng thấy vần với câu thứ bẩy và giọng văn của sáu câu thứ nhất tao nhã, bóng bẩy, văn vẻ, trang trọng…chẳng như những câu còn lại, lời nói nôm na, thực tế gần như “toạc móng heo”, thiếu hoa mỹ. Lại nữa, chữ thứ hai của mỗi câu đều là vần trắc, hơi lạm dụng luật “Bình : Hai, sáu, tám. Trắc : Tư.”

Xin đọc lại một lần nữa hai câu này:

 

Có rửa thì rửa chân tay,

Chớ rửa lông mày chết cá ao anh.

 

Câu trên thấy hai danh từ chỉ định những phần thân thể có thể đem rửa dưới ao là chân và tay. Chân tay,nhất là chân tay nhà nông, thường díinh bụi bậm, đất cát không thải ra những chất gây cho cá chết. Vì vấn đề cân xứng, câu dưới nếu có hai danh từ chỉ định những phần thân thể không nên rửa ở dưới ao thì câu ca dao lý thú hơn. Do đó tôi nghĩ, có lẽ, xin nhấn mạnh chữ có lẽ, lông mày không phải là một danh từ, chúng là:hai danh từ riêng biệt: Lông mày và Mày! (như mắt phượng, mày ngài, truyện Thúy-Kiều có câu “Làn thu thủy, nét xuân sơn, dịch từ câu chữ Hán, Nhỡn quang như thủy, my tự xuân sơn nghĩa là mắt trong như nước mùa thu, mày như núi mùa xuân.) Vì khuôn khổ hạn hẹp luật lệ trong câu thơ nên không thể đặt “Đừng rửa lông mày và mày chết cá ao anh.” Nên ở giữa lông mày tối thiểu cần phải có một dấu phẩy, chết nỗi ca dao không phải là văn chương viết và đọc, mà là nói và nghe vậy thì làm sao đặt dấu phảy vì đặt dấu phẩy ở đâu bây giờ?

Thông thường ta hiểu tạo hóa ban cho mỗi người hai cái mày ở trên cặp mắt Trên mày có những sợi lông gọi là lông mày, giống như trên my có lông thì gọi là lông mi… Lông mày tương đối thẳng, cứng, ngắn… Phái nữ thường tô, vẽ, tỉa cho thêm phần hoa mỹ, việc này các nàng thường tự làm một mình trong phòng kín đáo, trước gương soi, ít ai có diễm phúc được săn sóc bởi người tình của mình như người đẹp Triệu-Minh trong tác phẩm võ hiệp của Kim-Dung thuở trước.

Mặt khác, nơi cuốn tùy bút của nhà văn lão thành Võ-Phiến lại thấy nêu hai câu thơ trong truyện Tây Sương Ký của Trung-Hoa được Nhượng-Tống dịch như sau:

 

Mày xanh lồ lộ vẻ xinh,

Nõn nà bộ ngực xuân tình đây vơi!

 

Hai câu thơ dịch thật là gợi cảm. Tiếp theo trong khi đầu óc còn đang lơ mơ về hai câu thơ dịch này, còn đang mường tưởng mày xanh lồ lộ song chúng nằm ở đâu cơ chứ! Thì một người bạn khác, nghe được, bèn sốt sắng bầy tỏ thêm ý kiến, nhưng cũng không dám cả quyết lắm.

Theo đó, phân tách lông mày thành hai danh từ lông và mày cũng chưa chắc đúng. Mày có thể là nhân vật chỉ định từ để cho câu ca dao mang ý nghĩa: “Chớ rửa lông của mày mà chết cá ao anh.”

Có thể lắm chứ! Tuy nhiên chữ “mày” và chữ “anh” ở đây đi với nhau quá gượng ép nên người bạn đáng kính của tôi cũng cẩn thận rào đón là tất cả những “phân tách triệt để” kia cũng chỉ là có thể. Ai mà đoán trúng được tim đen của cái anh chàng tính xây hồ bán nguyệt này, mấy câu ca dao tuy bình dân nhưng thâm sâu, hiểm hóc ghê vậy đó!

Hy vọng biết rõ ràng nghĩa của “lông mày” ta sẽ hiểu tại sao rửa lông mày ở dưới ao sẽ làm cá chết nhưng tới đây, rút cuộc thì mấy thắc mắc của tôi cũng chưa được giải thích thỏa đáng, mấy vị cho ý kiến thật là đáng quý, và mấy điều tôi trình bầy tôi chắc chắn cũng còn nhiều hời hợt, thô thiển, tôi mới chỉ nêu lên được vấn đề để suy nghĩ, tôi đã lúng túng, loanh quanh, sơ sài…như đám lính công thành bất lực, như đang ngứa lưng nhờ người gãi, mà chỉ gãi bên ngoài áo bông chẳng “đã” chút nào.

Tôi biết còn nhiều thiếu sót, có khi cả nhầm lẫn… vậy xin kể đây như mớ tài liệu gom lại chưa kịp gạn lọc, san định đàng hoàng…Như trên đã nói có điều gì không phải ước mong các vị am tường điều chỉnh, bổ túc cho.

Chưa đạt mục đích hữu ích thôi thì bài tản mạn ca dao này xin coi là để mua vui vậy, và, rất tiếc, dù chỉ mua vui nhưng cũng chẳng kéo được “Một vài trống canh.”

 

Nguyễn Phú Long

Biển cả

Mỗi lần ra phố, Luân đến duy nhất cái quán này, anh nằm dài trên ghế xếp, đọc sách báo và chờ ngắm hoàng hôn là cái thú duy nhất trong thời gian, theo anh, đây là lúc dưỡmg thương sau khi tham chiến mặt trận bắc Bình Định hơn là theo học bấc cứ khóa học quân sự nào.

Lần nào cũng như lần nào, ánh nắng chói chang từ từ chuyển sang màu tím, xa xa từng đàn chim nối đuôi nhau bay về tổ ấm, những chiếc thuyền đánh cá cũng quay về bến đậu sau một ngày vất vả kiếm ăn. Tất cả là những nét chấm phá của bức tranh hoàng hôn trên biển cả, thật lung linh và sinh động.

Trên bãi biển có những cặp trai gái thật yên bình vẫn tay trong tay, thỉnh thoảng họ dừng lại, nghịch ngọm chọc phá những con dã tràng đang ra sức xe cát. Trên đoạn đường đi qua, họ cũng để lại phía sau những dấu chân, những tiếng cười nhưng chỉ một đợt sóng là biển cả xóa sạch. Điều đó thật dễ dàng với biển cả nhưng vết khắc tình yêu đối với con người thật khó, không thể xóa đi trong một sớm một chiều. Mới hôm nào đây cũng một lần ra biển, Luân say khước đến độ quên cả giờ giấc trở về quân trường. Trong lúc đi tìm nhà trọ anh bất ngờ gặp lại Diễm, người học cũ năm xưa là cô giáo. Bố mẹ chỉ là chủ nhân của những nhà trọ dành cho khách qua đêm, trong lúc nhắc lại chuyện xưa chị không ngờ cuộc tình giữa anh và Tố Nga lại kết thúc như vậy. Diễm không bằng lòng với lối suy nghĩ của Luân, trước sau anh vẫn đổ lỗi cho chiến tranh.

Sự có mặt thường xuyên của Luân, bà chủ quán trở nên thân quen. Mỗi khi xuất trại anh đều mặc quân phục nhưng không bao giờ mang cấp bậc khi đến đây, thế mà bà chủ quán vẫn biết. Có lúc vui miệng anh hỏi và được bà giải thích: “Nghề nghiệp cho biết cứ nhìn lên khuôn mặt, nhìn vào cổ áo, thấy mỗi bên có mấy dấu khuyết là biết ngay, nếu có là Chuẩn úy cứ gọi Thiếu úy thì đã sao!”

Thấy Luân nấn ná chưa ra về, bà chủ vui vẻ hỏi:

- Hôm nay đầu tháng mới lảnh lương, Thiếu úy Luân định đốt cho hết tiền mới chịu về trường hay sao, có uống gì thêm không nào?

Luân ngồi vào quày rượu và gọi thức uống, anh ngẫm nghĩ “mấy bà này lỗ mũi thính thật, đánh hơi tiền không sai một ly, nếu mấy anh tình báo ngoài mặt trận moi tin tức được như mấy bà bán bar thì tổn thất về nhân mạng của ta có lẽ sẽ giảm thiểu không ít!”.

Nhìn vào bên trong, anh thấy có cô bé vóc dáng xinh xinh đang đứng thập thò, Luân đánh tiếng hỏi bà chủ:

- Cô bé đó là người làm mới phải không chị?

- Dạ không, nó là cháu gọi bằng Dì, cháu chỉ đến chơi thôi.

Luân đùa:

- Chà, chắc tôi phải đổi cách xưng hô, gọi bằng Dì tiện hơn là chị!

- Thôi đi ông Tướng, ngày mai cháu đi lấy chồng rồi.

Luân tinh nghịch nói một câu trong truyện chưởng mà anh đã đọc qua:

- “Lại chậm mất một bước” để em phải sang ngang, thôi thì đành hẹn lại kiếp sau…

Cô bé từ bên trong có lẽ cũng đã nghe thấy nên không nhịn được cười:

- Dì ơi! ông ấy sắp xuống “vọng cổ” đó!

Luân cười đùa:

- Tôi chỉ biết “cắt cổ” chứ đâu chỉ có “dọng cổ dọng họng” làm gì. Sợ cô bé không hiểu anh giải thích thêm, anh vừa nói vừa đưa tay lên cổ để minh họa:

- Ngoài chiến trường đối với địch tôi ít khi đánh mà chỉ biết… khẹt một cái là toi mạng!

Cô bé nghe qua câu nói tếu của anh, không biết cô ta có tin hay không nhưng vừa làm một cử chỉ rùng mình vừa nói: “ghê quá!”.

Bà chủ quán bỏ vào bên trong từ lúc nào để Luân vừa nhâm nhi ly Martell vừa trò chuyện với cô bé:

- Ngày mai bé đi lấy chồng thật à?

- Ngày mai “em đi lấy Mỹ!”

Luân nhìn sửng cô bé từ đầu đến chân, không biết vì tiếc rẻ hay vì tự ái dân tộc, anh hớp một ngụm rượu vừa nghiêm túc vừa nhỏ nhẹ hỏi:

- Bé nói thật đấy chứ?

Cô ta có lẽ khó chịu về thái độ và cách xưng hô của Luân nên phản đối:

- Ông tưởng ông già lắm hay sao mà cứ gọi người ta là cô bé, đã trên 18 rồi đó nhá, lại sắp lấy…

- … lấy Mỹ phải không?

Cô bé giải thích với vẻ khó chịu:

- Em thấy dường như… các anh có vẻ cay cú với việc lấy chồng Mỹ, thật ra anh ta là người Úc làm việc trong phi trường này. Số là em có người Dì thầu Câu lạc bộ trong đó, năm vừa qua em lại thi rớt cả hai kỳ Trung học, ba em nổi xung làm cho một trận nên thân. Chịu không nổi, em quyết định bỏ học đi “bụi” nhưng chẳng được bao lâu đành phải ra đây làm việc cho người Dì. Em gặp David, sau thời gian tụi em tìm hiểu và đi đến quyết định lấy nhau. Mới đây anh ta đã làm xong thủ tục xin cưới em, sau khi hết hạn quân dịch tại chiến trường VN, anh ta và em sẽ về Úc sống nơi trang trại của gia đình anh ấy.

Câu chuyện tuy bình thường và đơn giản nhưng có một cái gì đó chắc chắn là chưa phải do rượu, nó làm cho Luân xót xa, anh nốc hết phần rượu còn lại và lần này thì anh không còn nhận ra mùi vị của rượu mà là sự cay đắng từ đầu lưỡi dẫn lên tận tim óc anh. Trong lúc nửa tỉnh nửa say, Luân bốc đồng gạ gẫm:

- Lấy Úc hay lấy Mỹ có khác gì đâu, hay là… hay là cô em có thể đi chơi với anh đêm nay rồi mai hãy đi lấy chồng cũng không muộn? Ơ, mà em tên gì nhỉ?

Cô bé dường như đã quá quen thuôc với những lời tán tĩnh của khách trên bàn rượu hơn nữa đây là khách quen biết với người Dì nên vẫn dịu giọng trả lời:

- Em tên Nga, còn việc đi chơi với anh hãy…

Nghe đến tên Nga, Luân giật thót người, anh như tỉnh hẳn và mãi một lúc sau anh mới ú ớ:

- Lại… tên Nga, …chắc hẳn không phải… Tố Nga chứ?

- Không, Ngọc Nga.

- Này Nga cho anh hỏi thật một câu, tại sao em lấy chồng người nước ngoài mà không lấy một anh chàng nào đó người VN?

Nga cười lớn tiếng và trêu anh:

- Chẳng hạn như… lấy anh phải không?

- Xin lỗi anh, em đã từng thử qua rồi!

Không đợi cho Luân nói thêm và với giọng trầm buồn Nga kể cho anh nghe về môt quảng đời của nàng. Với cái tuổi 17, còn đang theo học dưới mái trường Trung học, do đua đòi, một phần do bạn bè rủ rê, cuối tuần họ thay nhau tổ chức party, một phong trào thịnh hành trong giới học sinh, sinh viên lúc bấy giờ, họ tổ chức nhảy nhót dù chỉ năm bảy cặp khi tại nhà khi ở vũ trường. Ban đầu chỉ uống nước chanh, nước ngọt lâu dần một chút, uống Gin cho thơm miệng để nhở “có hôn nhau” cũng không đến nổi. Bên cánh con trai thì cũng thế, tập tành một chút whiskey, một chút cognac cho hợp với thời đại mà rượu và các thứ khác, các cửa hàng PX Mỹ tuồng ra bằng nhiều cách khác nhau, đầy dẫy trên thị trường miền Nam với giá phải chăng. Cho đến một lần, những người con trai phần đông là anh em gần xa của những người bạn nàng, đồng thời cũng là kép nhảy. Họ nói với nhau về cuộc chiến, một ngày không xa họ phải ra chiến trường. Nếu lấy được cái bằng tú tài có phải ra đi cũng vào được Thủ đức, ra làm quan dù sao vẫn hơn là đi Đồng Đế hay Quang Trung, ra trường với cái “cánh gà” nơi tay áo!

Trong khi đó, ngoài mặt trận, tin tức đưa về hằng ngày, hết chiến trường này đến chiến trường khác, từ báo chí đến đài phát thanh, không ngày nào thiếu tin chiến sự. Từ nhà quàn của Quân vụ thị trấn đến đội Chung sự các Nghĩa trang quân đội, lúc nào cũng đầy ắp tử sĩ từ các chiến trường đưa về. Hậu phương thì thanh niên học sinh, lúc nào cũng mang tâm trạng âu lo, không biết “Lệnh nhập ngũ” sẽ đến với mình lúc nào, tâm trí đâu để làm ăn hay học hành. Sống và hưởng thụ vội vàng, nó trở thành phổ biến trong giới thanh niên học sinh. Và cái ngày người bạn trai của Nga phải lên đường, bạn bè tổ chức đưa tiễn, trong lúc say với men rượu và men tình, Nga cao hứng tặng người bạn trai của mình tất cả cuộc đời người con gái để tỏ lòng chung thủy với người tình trước ngày anh ta lên đường. Mấy tháng sau chưa kịp làm đám cưới như anh ta đã hứa, từ mặt trận Miền Trung người ta đưa xác anh về với gia đình.

Nga khóc, khóc cho tình yêu, cho thân phận người con gái mới 17 tuổi đầu đã trở thành góa phụ, khóc cho tuổi trẻ VN và rồi nàng không còn tâm trí đâu để học, thi rớt là điều không thể tránh khỏi. Trước sức ép của gia đình, Nga đành bỏ nhà ra đi, nàng đến sống với những người quen đang làm nghề vũ nữ. Nàng gia nhập vào đạo quân “cái xanh cái đỏ”, sống với những cái ticket tương đối lương thiện được chia chác hằng đêm. Đến một lúc Nga nhận ra mặt trái của nghề này, nàng không thể dấn thân xa hơn nữa và tìm về làm việc cho người Dì.

Kể cho Luân nghe một giai đoạn trong cuộc đời nàng đã trải qua, Nga kết luận:

- Nếu cuộc chiến này cứ kéo dài, bên này lẫn bên kia mỗi người con gái như tụi em phải lấy bao nhiêu lần chồng để không trở thành góa phụ?

Luân không tìm thấy câu trả lời và cũng không ngờ những suy nghĩ của Nga, những người con gái tuy ở hậu phương nhưng chiến tranh cũng đã làm cho suy nghĩ của họ già đi trước tuổi. Và anh chưa biết phải trả lời thế nào. Nàng lại nói:

- Vì thế anh đừng trách, mọi người đừng trách tại sao có một số con gái nếu có cơ hội là lấy chồng người nước ngoài. Tuy rằng trong số những người này có cùng một hành động nhưng không hẳn suy nghĩ giống nhau. Người ta lấy Mỹ, lấy người nước ngoài rất có thể vì hoàn cảnh, vì chiến tranh làm cho bản thân và gia đình họ nghèo đói nhưng cũng có thể vì nhiều lý do khác. Riêng Nga, nhìn vào những người thân, bạn bè và cứ phải từng ngày đếm xác họ từ ngoài mặt trận mang về. Nga buồn nản quá, muốn xa rời quê hương, từ bỏ một đất nước mà chiến tranh cứ mãi kéo dài hết năm này sang năm khác, hết thế hệ này sang thế hệ khác, để tìm đến một nơi nào đó thật an bình cho dù phải vất vả để kiếm sống.

Luân tiếp tục đốt hết điếu thuốc này sang điếu khác, nghĩ về những gì người con gái tên Nga này nói, cho đến lúc nàng nói lời sau cùng:

- Thôi nhé ông Tướng, cho dù có “đi chơi với anh đêm nay để ngày mai đi lấy chồng” thì câu chuyện anh sẽ nói với Nga cũng không ngoài vấn đề chiến tranh, chuyện người lính ngoài chiến trường bởi vì chính những thứ đó đã làm cho tâm hồn, cho trái tim mỗi chúng ta chết dần chết mòn. Cho nên không còn gì để mà mơ mộng hay để nói lời yêu đương đúng nghĩa của nó. Và nếu Nga phải nói với anh thì cũng chỉ nói ngần ấy, còn đúng hay sai thì tùy anh suy nghĩ và phán đoán. Dù sao em cũng đã từng là vũ nữ, ngoài những bước nhảy đẹp còn biết cách nói cho vừa lòng khách phải không anh?

Trên đường về tuy thấm mệt nhưng Luân muốn bước thật nhanh để đến một nơi nào đó gặp lại Diễm, gặp lại Hương và cả Tố Nga nữa, trả lời câu hỏi của những người bạn này đã đặt ra về tình yêu và chiến tranh.

 

Vũ Linh

 

 

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013