Thi Ảnh

Văn

Văn

Về Quê * Trần Văn Lương

Về Quê
 
Hôm đó là ngày thứ năm. Phải, ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11, ngày lễ Tạ Ơn của nước Mỹ. Tôi không phải đi làm, suốt cả ngày hết ăn rồi lại nằm, hết nằm rồi lại xem Ti Vi, cố gắng tận hưởng những giờ phút nghỉ ngơi hiếm hoi ở cái đất nước văn minh cơ khí này. Chợt nhìn đồng hồ thấy đã gần 5 giờ chiều, tôi vội vàng đi thay quần áo để ra bờ biển làm thủ tục chạy bộ hàng ngày. Cách đây mấy tháng, từ lúc bà xã tôi tình cờ phát giác ra cái vòng số hai của tôi càng lúc càng lớn ra và tôi càng lúc càng có triển vọng đoạt giải nhất cuộc thi lực sĩ "bụng nở ngực thon", thì bà ấy, ngoài việc cấm tôi ăn các đồ béo, lại còn âu yếm ra lệnh cho tôi mỗi ngày: sau khi từ sở làm về, phải ra bờ biển gần nhà chạy bộ ít ra là 4 dặm để tiêu đi bớt mỡ. Tôi kính cẩn tuân lời (các cụ dạy rằng: "Có 3 loại tội bất hiếu, không tuân lời vợ là tội lớn nhất". Tôi xin chép lại nguyên văn chữ Hán để quý vị tiện đường tham khảo: "Bất hiếu hữu tam, bất tuân thê lệnh vi đại"). Và từ đó, bất kể nắng mưa sáng tối, cứ vào khoảng 5 giờ chiều là những người đi dạo tại bờ biển Newport Beach lại thấy một anh chàng Việt nam ỳ à ỳ ạch bê cái thùng nước lèo của mình từ Newport Pier tới Balboa Pier và trở lại. Đoạn đường chiến binh dài đúng 4 dặm!
Bà xã tôi thấy tôi bước ra cửa bèn nhẹ nhàng bảo:
- Hôm nay là ngày Lễ Tạ Ơn, em cho phép anh nghỉ ở nhà một bữa.
Tiếc công mặc quần áo và thoáng thấy mấy rổ đồ giặt mới lấy từ máy sấy ra chưa kịp gấp, tôi vội vàng vừa đi vừa bảo:
- Thôi em ạ, thể dục phải chuyên cần mới có kết quả. Nghỉ được một ngày thì sẽ nghỉ mãi. Anh ra chạy chừng một tiếng sẽ về ngay.
Bà xã tôi dặn với theo:
- Anh ráng về sớm để ăn cơm với các con.
Tôi hấp tấp gật đầu và dong xe đi ra bờ biển.
Thực tình trong bụng hôm nay tôi cũng muốn ở nhà cho khoẻ, nhưng không hiểu có một mãnh lực nào thôi thúc tôi phải cương quyết đi cho bằng được. Chả lẽ... vì bà cụ chăng ? Không có lý! Tôi vừa lái xe vừa thắc mắc mà không tìm ra câu trả lời. Có một điều gì đó mà sau này tôi mới hiểu được.
Vừa đặt chân xuống bờ biển, tôi đã thấy ngay bóng bà cụ đổ dài trên bãi cát sát chân trạm cấp cứu số 13. Trạm cấp cứu này nằm giữa đoạn đường chay bộ của tôi. Tôi thở phào nhẹ nhõm, lòng bỗng thấy mừng thầm mà không hiểu tại sao. À, thế là hôm nay bà cụ cũng ra hóng gió.
Không biết bà cụ đã bắt đầu mỗi chiều ra ngồi ở chỗ đó từ ngày tháng nào. Tôi chỉ biết là kể từ lúc tôi thực hiện chương trình thể dục bất đắc dĩ này thì tôi đã thấy cụ ngồi đó rồi. Mỗi ngày cụ đều đến trước tôi, và khi tôi ra về thì cụ vẫn còn ngồi đó.
Đó là một bà cụ Á châu vào khoảng trên dưới 80 tuổi mà tôi nghĩ là người Việt nam. Tôi chỉ đoán thế dựa trên cách ăn mặc của cụ vì chưa bao giờ tôi được cụ mở miệng ban cho một câu, hoặc nhìn một cái. Mỗi ngày lúc chạy ngang qua cụ tôi đều nhìn cụ gật đầu chào, mong có cơ hội làm quen, vì nhìn cụ, tôi lại liên tưởng đến mẹ tôi cũng cỡ tuổi như cụ đang còn ở tại quê nhà. Đáp lại, cụ chỉ lạnh lùng khẽ gật đầu, mắt vẫn đăm đăm nhìn ra xa như muốn tìm kiếm cái gì bên kia bờ Thái Bình Dương. Cái gật đầu thật là nhẹ, phải để ý lắm mới thấy được. Và cũng chưa bao giờ tôi chạm được ánh mắt cụ. Cặp mắt buồn xa xôi dưới vầng trán nhăn nheo luôn luôn hướng ra khơi. Nhiều lúc tôi muốn tìm cách gợi chuyện với cụ nhưng cuối cùng lại thôi vì tôn trọng sự kín đáo của cụ. Mối liên hệ giữa tôi và cụ chỉ có thế, giới hạn trong hai cái gật đầu trong lần đi và trong lần về. Nghi thức xã giao này được lặp đi lặp lại mỗi ngày trong mấy tháng trời qua.
Hôm nay cũng thế, khi đến gần cụ tôi lại nhìn cụ cúi đầu chào, hai chân vẫn tiếp tục chạy.
- Chào cậu!
Tôi nghe như bị điện giật, hai chân khựng lại. Tôi vội quay nhìn cụ và ấp a ấp úng:
- Kính chào cụ. Cụ là người Việt nam? Cụ nhìn tôi khe khẽ gật đầu, nét mặt vẫn lạnh lùng không lộ chút tình cảm nào. Nhưng khi cụ nhìn tôi, tôi thoáng thấy trong ánh mắt cụ ẩn hiện một chút hóm hỉnh như có vẻ giễu cợt sự ngây ngô của tôi: người ta đã nói "Chào cậu" mà mình lại còn hỏi "Cụ là người Việt nam?"
Tôi lúng túng tần ngần chưa biết phải làm gì thì cụ đã bảo:
- Cậu ngồi xuống đây mình nói chuyện một chút. Hôm nay tôi có ý đợi cậu.
Tôi rón rén ngồi xuống cát, cách xa cụ độ một sải tay. Tôi đi từ ngạc nhiên này qua ngạc nhiên khác, không biết bà cụ đợi tôi có chuyện gì.
Như hiểu ý tôi, cụ ôn tồn bảo, giọng nói đã bớt đi một tí lạnh lùng:
- Cậu ngạc nhiên lắm phải không? Cậu ngạc nhiên là phải vì điều này hơi đột ngột đối với cậu. Tôi muốn gặp cậu chiều nay để từ giã cậu và cám ơn cậu đã chào hỏi tôi trong mấy tháng qua. Hôm nay là ngày cuối tôi ra đây. Mai tôi về quê.
Tôi nghĩ thầm trong bụng, bà cụ có vẻ nhà quê nhưng lại thông minh đáo để và nhận xét người hết sức sâu sắc. Bây giờ mới có dịp quan sát kỹ cụ, tôi bỗng thấy nét mặt cụ có vẻ quen quen, nhưng không nhớ ra là đã thấy cụ ở đâu trước khi gặp cụ nơi bờ biển này. Tôi vội vàng hỏi:
- Cụ về Việt nam?
Tôi lại hỏi một câu ngớ ngẩn nữa. Cụ chậm rãi gật gù , mắt không thèm nhìn tôi:
- Vâng, về quê... về Việt nam... về làng... về Hải Dương... Cậu có biết Hải Dương ở đâu không nhỉ?
Và không đợi tôi trả lời, cụ nói tiếp:
- Hải Dương là quê của tôi đấy. Ngày mai người con cả của tôi sẽ đưa tôi về đấy. Tôi xa quê từ năm 54, bây giờ mới có dịp về. À, cậu trông thấy tôi quen quen phải không ? Bà cụ của vợ cậu lúc còn sống thường hay đi chùa với tôi và tôi nhớ hình như có thấy cậu đôi lần lúc cậu lên chùa đón cụ ... Ông nhà tôi ngày xưa làm Tuần phủ nên mọi người đều gọi tôi là cụ Tuần, mãi rồi tôi quên hẳn tên thật của mình.
À ra thế. Cụ Tuần. Hèn gì thấy mặt bà cụ quen quen. Và tôi cũng nhớ ra lúc còn sống, mẹ vợ tôi cũng có nhắc đến tên các bà bạn đi chùa của cụ, trong đó hình như có tên cụ Tuần. Tôi bỗng thấy hơi gờm bà cụ. Sao cụ biết tôi thắc mắc như thế mà trả lời? Tôi bèn đưa đẩy:
- Thảo nào mà cháu thấy cụ quen quen. Hóa ra cụ là bạn của mẹ cháu. Thế thì mình là người nhà cả.
Cụ cười nhẹ:
- Chính vì thế mà tôi muốn gặp cậu hôm nay để nói chuyện lần cuối và từ biệt cậu, kẻo mai kia cậu lại thắc mắc không biết cái bà cụ mặt mày lạnh lùng khó đăm đăm kia đi đâu mất rồi.
Tôi đỏ mặt, không ngờ bà cụ lại nói đúng ý nghĩ của tôi. Quả thật trước kia, sau mỗi lần chào cụ và chỉ nhận được một cái gật đầu như gió thoảng của cụ, tôi hay lẩm bẩm trong bụng: sao mặt mày bà cụ lại lạnh lùng khó đăm đăm thế!
Cụ nhìn tôi tiếp tục:
- Tôi theo thằng con cả qua đây năm 75, tính đến nay đã được 20 năm. Ngày mai là lần đầu tiên tôi về quê. Và tôi sẽ ở luôn bên Việt nam, không qua đây nữa. Ấy, cậu đừng hỏi tại sao. Lá rụng về cội. Người già nào cũng muốn được chôn xác ở quê cha đất tổ. Tôi đã muốn về từ mấy năm trước cơ, nhưng vì công việc làm ăn kỳ này con trai tôi mới đưa tôi về được. Muộn còn hơn không ...
Rồi cụ thao thao kể cho tôi nghe về gia đình cụ, về cụ ông, về cậu con trai, về đời sống của cụ tại Hoa kỳ, về việc cụ mỗi chiều ra bờ biển vọng về phía bên kia bờ đại dương để nhớ tới quê nhà ... Trong câu chuyện, hình như cụ đoán trước được các câu hỏi tôi định đặt ra và cụ đã trả lời trước khi tôi kịp mở miệng. Thành ra trong suốt hơn một tiếng đồng hồ tôi không chen vào được một chữ.
Cụ bỗng chép miệng, thở dài và bảo:
- Thôi trời tối rồi, cậu về nhà đi, vợ con cậu đang chờ cơm. Câu chuyện tôi định kể cho cậu hôm nay chỉ có thế. Chúc cậu ở lại Mỹ mạnh giỏi, mai tôi về quê. Cậu về trước đi. Tôi nán lại thêm một tí rồi sẽ về sau.
Tôi ngỏ ý muốn đưa cụ về nhà nhưng cụ từ chối. Tôi đứng dậy từ giã cụ, miệng lí nhí nói ít lời cầu chúc cho cụ thượng lộ bình an. Nhìn thấy vẻ bùi ngùi lưu luyến của tôi, cụ cười bảo:
- Cậu đừng buồn vì nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại nhau . Mọi sự trên đời đều không có gì đi ra ngoài chữ "duyên". Nếu còn có duyên với nhau thì cậu sẽ có dịp gặp lại tôi, e rằng lúc đó cậu lại không thích.
Cụ đưa tay khoát vẫy tôi đi. Không dám nói gì hơn, tôi nhìn cụ lần cuối và từ từ quay đi về hướng đậu xe, lòng cảm thấy hơi bùi ngùi khi phải chia tay với cụ.
Và kể từ lúc đó, chẳng bao giờ tôi thấy lại bà cụ nữa trong những lần chạy bộ của tôi. Hy vọng cụ sung sướng ở quê nhà.
 
---o0o---
 
Một năm sau, cũng vào dịp lễ Tạ Ơn, một người Việt nam mới vào làm chung hãng với tôi có nhã ý mời các đồng nghiệp người Việt trong sở tới nhà để chung vui nhân dịp sinh nhật 16 tuổi đứa con gái đầu lòng của anh. Bà xã tôi vì bận việc nên tôi được phép đi dự tiệc một mình.
Vì tới đúng giờ nên tôi là người khách đầu tiên. Chủ nhà niềm nở đưa tôi vào phòng khách nhâm nhi tí rượu trong khi chờ đợi các vị khách Việt khác điều chỉnh đồng hồ của họ. Căn phòng khách được trang hoàng một cách đơn giản nhưng rất lịch sự và tươm tất. Thoáng ngửi thấy mùi hương, tôi quay nhìn về phía cuối phòng và choáng váng khi thấy bức ảnh trên bàn thờ ẩn hiện sau làn khói mỏng của nén hương. Tôi sững sờ vì rõ ràng đó là hình bà cụ tôi gặp ngoài bờ biển. Vẫn khuôn mặt "lạnh lùng khó đăm đăm" đó, vẫn cái nhìn xa vắng pha lẫn một tí giễu cợt đó, không thể nào sai được. Tôi vội hỏi anh Phong, người chủ nhà:
- Có phải đó là hình của cụ Tuần không?
Anh Phong gật đầu:
- Vâng, đó là hình của mẹ tôi, ở chùa người ta hay gọi cụ là cụ Tuần, vì ngày xưa ông cụ của tôi làm Tuần phủ. Sao anh lại biết mẹ tôi?
Tôi vội vàng nói chữa:
- Tôi biết cụ vì ngày xưa cụ cùng đi chùa với bà cụ mẹ vợ tôi.
- À ra thế! Thì ra mình là người nhà cả, anh hân hoan gật gù.
Tôi chết điếng trong lòng, không ngờ mới gặp nhau năm trước mà cụ đã mất rồi. Tôi lắp bắp:
- Cụ mất lúc nào vậy anh Phong?
- Cũng được hơn 5 năm rồi đó anh.
Câu trả lời của người chủ nhà làm tóc tai tôi muốn dựng đứng hết cả lên. Tôi lặp lại như một cái máy:
- 5 năm . . .
Không để ý đến vẻ khác lạ của tôi, người chủ nhà kể tiếp:
- Phải, mẹ tôi mất cách đây cũng đã hơn 5 năm, mà mãi đến năm ngoái sau ngày Lễ Tạ Ơn tôi mới có dịp đem tro của cụ về an táng tại quê nhà ở Hải Dương, đáp ứng được nguyện vọng cuối cùng của cụ.
Tôi tái người nhớ lại lần nói chuyện giữa tôi và cụ đã xảy ra vào đúng ngày lễ Tạ Ơn năm ngoái, một ngày trước khi con trai cụ đưa tro cụ về Việt nam.
Chúng tôi hai người im lặng giây lát như để tưởng niệm người quá cố. Chủ nhà chầm chậm ngước mắt nhìn về phía bàn thờ. Và lần này thì đến phiên anh ngạc nhiên hốt hoảng. Anh lẩm bẩm:
- Quái lạ, ai thay bức hình đấy nhỉ ?
Tôi quay đầu lại nhìn bức hình và cũng ngạc nhiên không kém. Rõ ràng là ít phút trước đây nét mặt người trong hình lạnh lùng nghiêm nghị, môi mím chặt thế mà bây giờ trong hình bà cụ đang cười tươi, để lộ gần nguyên hàm răng đen bóng, hai con mắt lá răm hiện đầy vẻ tinh nghịch.
Người chủ nhà hướng về phía vợ đang lui cui trong nhà bếp hỏi lớn:
- Em ơi, có phải em thay hình của mẹ trên bàn thờ không ?
Người vợ lên tiếng nói vọng ra trong khi vẫn tiếp tục làm đồ ăn:
- Em đâu biết hình ảnh gì đâu. Anh là người giữ các bức ảnh mà.
Người chồng hừ nhỏ một tiếng trong cổ, nét mặt đầy vẻ bối rối băn khoăn. Khi mắt anh chạm phải tia nhìn dọ hỏi của tôi, anh vội giải thích:
- Anh biết không, khi mẹ tôi mất, chúng tôi có phóng lớn và làm khung hai bức ảnh của cụ vì lúc đó phân vân không biết chọn bức nào để thờ. Một bức có hình cụ tươi cười như anh đang thấy đây, và bức kia thì mặt cụ nghiêm trang không cười. Sau khi cả gia đình hội ý với nhau, chúng tôi chọn bức không cười để đặt trên bàn thờ và cất bức kia vào tủ. Tôi là người phụ trách bàn thờ và giữ hai bức ảnh vì tôi là con cả. Tôi nhớ là chỉ có chưng bức hình không cười lên bàn thờ mà thôi. Không hiểu tại sao hôm nay lại biến thành bức hình này như thế.
Tôi vội nhìn lên bàn thờ và quan sát kỹ lại bức ảnh. Không biết tôi có tưởng tượng hay không nhưng rõ ràng tôi thấy trong ánh mắt của cụ hiện lên một vẻ tinh nghịch hân hoan đượm nét ngây thơ của trẻ con pha lẫn một chút dịu dàng từ ái của lòng mẹ. Tôi định lẩm bẩm trách thầm cụ trong lòng rằng cụ đã bảo với tôi năm ngoái là cụ về quê thế mà giờ này cụ còn ở đây nghịch phá. Nhưng ý định trách móc vội tan biến ngay khi tôi chợt nhớ lại lời nói cuối cùng của cụ với tôi về chữ "duyên" : "Mọi sự trên đời đều không có gì đi ra ngoài chữ "duyên". Nếu còn có duyên với nhau thì cậu sẽ có dịp gặp lại tôi, e rằng lúc đó cậu lại không thích". Tôi vội vã nói thầm lời xin lỗi cụ. Trong khi đó, người chủ nhà vẫn lộ vẻ thắc mắc bất an.
- Anh Phong này ....
Tôi buột miệng định kể cho anh chủ nhà biết sự tao ngộ ly kỳ giữa tôi và bà cụ của anh, nhưng vội nín bặt khi thoáng thấy ánh mắt can ngăn của bà cụ trong bức hình.
- Gì thế anh? người chủ nhà vội hỏi.
Tôi bèn tìm lời khỏa lấp:
- Tôi nghĩ là có thể một lúc nào đó anh đã thay bức hình và quên bẵng đi. Với tuổi tác bọn mình bây giờ, làm trước quên sau là chuyện thường.
Người chủ nhà lịch sự gật đầu đồng ý, nhưng có vẻ không tin tưởng lắm vào lời giải thích.
Những người khách Việt giữ đúng truyền thống giờ cao su đang lục tục kéo đến, và chúng tôi đành bỏ dở câu chuyện để đi chào đón mọi người. Lợi dụng lúc đông người lu bu, tôi chuẩn bị chuồn êm sau khi đã nhờ một người bạn chuyển lời cáo lỗi của tôi tới chủ nhà, viện cớ là bỗng dưng tôi không thấy khỏe. Quả thật là tôi bắt đầu cảm thấy rờn rợn mỗi khi nhìn lên bàn thờ và chạm phải ánh mắt tinh nghịch của người trong ảnh. Không dám nhìn thẳng vào bức ảnh, tôi thầm nói lời từ biệt với cụ và lẳng lặng lách mình ra cổng. Không ngoái cổ nhìn lại, tôi cắm đầu rảo bước như bay đến chỗ đậu xe. Trong tiếng gió thoảng của một chiều cuối thu, mường tượng như có ai nói khẽ vào tai tôi hai tiếng: "Chào cậu".
 
Trần Văn Lương

Bên Này...* Mh. Hoài Linh Phương

Bên Này Trời Tây,
Mùa Thu Nhìn Lại Bóng Mình
 
Mùa bắt đầu bằng những đêm xào xạc gió. Tôi nằm nghe tiếng lá bên thềm như lời ca nào xưa cũ, dấu yêu. Tôi cố ru tôi cho hồn mình đừng khóc. Nhưng nước mắt ở đâu đã chực chờ nghẹn ứ, mặn môi.
Phải không Khôi An, Oác Hương có phải đâu là con búp bê biết khóc, biết cười, một cái đồng hồ tic-tac chạy theo guồng máy xứ người không bao giờ ngưng nghỉ. Cái máy đâu biết buồn những khi trời nổi gió, đâu biết đau trong nỗi chia biệt, lìa tan. Ngày xưa anh nói, không biết bao giờ Oác Hương mới bước ra được khỏi cái tháp ngà của mình. Phải chi bây giờ anh trở về, để thấy Oác Hương đã đi hia ngàn dặm.
Không có anh đã phải vững chải một mình, chống chọi với bão táp trùng dương. Đã bao năm như thế rồi. Em không biết nữa. Quên tuổi tên mình, để tập làm một con người khác, sống bằng những ân tình vay mượn qua mau.
Tôi khép kín lòng mình, sống xa lạ với thế giới bên ngoài, tưởng như mình không còn ai thân thuộc. Không có chút xẻ chia. Không có bếp lửa hồng trong đêm Giao-Thừa, quây quần ngồi chờ năm mới. Chị Như Nguyện cười cười bảo tôi : “ Cô nhỏ này chẳng những khép cửa, mà còn đóng cửa, lock cả bên trong lẫn bên ngoài. “ Một lời nói đùa vui, nhưng bỗng làm tim tôi đau nhói.
Nếu thực sự tôi làm được như những điều chị Như Nguyện cợt đùa, thì chiều nay tôi đã không khóc lặng khi nghe tin Wagner không còn bên tôi nữa, và sắp sửa rời xa tôi. Chút niềm vui nhỏ nhoi còn lại sau cùng sau những cơn địa chấn kinh hoàng, giờ cũng lặng lẽ ra đi. Sao tôi chưa tập được cho lòng mình băng sơn, lạnh giá. Tôi yêu quý Wagner như với một người thầy, cái điểm tựa vững vàng mang hình ảnh một người cha, một người anh đã bao trùm đời sống tôi trong những ngày quay về với sách vở. Hình như bên Wagner, tôi không bao giờ buồn được. Hơn nữa cái tế nhị, sâu sắc của Wagner luôn dõi theo trong từng tiếng tôi cười, trong từng lời tôi khan trầm, đục giọng. Vì là coach của tôi, Wagner luôn khuyến khích những khi tôi thất chí, nản lòng bởi con đường tôi đi đâu phải lúc nào cũng đầy hoa thơm cỏ lạ.
Wagner ngoéo tay tôi. Nhất định Wagner sẽ khao tôi một chầu Ishiban trong ngày tôi tốt nghiệp, và Wagner luôn mong mỏi để nhìn thấy ngày này. Tôi có một background, tương lai đang chờ tôi phía trước.
Những lúc đón tôi đi học, hay đưa tôi đến sở làm, ngồi trên xe Wagner, tôi thường yên lặng. ( Theo quy định, mỗi người coach phải làm việc ít nhất với sinh viên của mình mỗi tuần một giờ. Có những lúc bận, Wagner phải sắp xếp giờ giấc sao cho thuận lợi cả hai bên, nên việc đưa đón sinh viên là một việc rất bình thường của những người huấn luyện.) Wagner hay hỏi tôi đang nghĩ gì vậy, chọc cho tôi cười, và trêu ghẹo ... hay là “ thi sĩ “ đang làm thơ. Đôi khi tôi đã quên hẳn Wagner là một người Mỹ, hoàn toàn khác hẳn với tôi trong quan niệm, trong cách nhìn cuộc sống. Chẳng qua, vì Wagner đã hiểu tôi hơn bất cứ người Việt Nam nào mà tôi tưởng chừng họ thực sự đã chia xẻ cùng tôi. Tôi đã kể cho Wagner nghe về Khôi An, về một cánh chim đại bàng đã gãy, về những mộng ước đầu đời tôi đã cất dấu trong một ngăn khuất nhất riêng tư. Một mình mình biết. Một mình mình hay. Tưởng như thế sẽ mãi mãi trôi đi, nhưng hôm nay vẫn còn có người nghe cho con Oác Hương bước ra khỏi cái vỏ của mình ngậm ngùi, kể lể.
Và tôi đã tự hỏi ta yêu người, hay ta yêu ta một thuở bên người. Chỉ biết không còn ai mong chờ một người đã mất dấu 25 năm. Một chặng đường dài, cho tuổi hồng tôi héo úa. Một đoạn đời qua, còn ai nhìn lại bao giờ? Nhưng tôi vẫn hoài hoài quay đầu ngoái lại. Những giấc mơ kín đầy môi mắt yêu thương, hương thuốc Bastos xanh thơm nồng, quyến luyến cho tôi tưởng như một đời chồng vợ với Khôi An. Mộng ước nhỏ nhoi, nhưng làm sao lớn quá, đã ra ngoài và khuất hẳn một tầm tay. Wagner ngạc nhiên khi nghe tôi nhắc về một chuyện tình buồn như cổ tích, nhưng giọng tôi trầm trầm như chuyện mới hôm qua. Rất gần và rất mới. Rất xa và rất hôm nay. Môn học Empowerment hình như vẫn không nhồi nhét được trong đầu. Tôi vẫn còn những xúc động bàng hoàng, không thể chế ngự mình để dễ lãng quên, thay đổi cách nghĩ, cách nhìn giống y như một người Mỹ.
* hai.
Quán ăn nằm ở đường Lexington, được trang trí theo lối kiến trúc cổ của Pháp. Tôi đến nơi này lần đầu tiên cách đây 5 năm. Lúc đó tôi như một con sâu còn nằm trong ổ kén. Quà thưởng Noel của tôi là một phiếu tặng ăn tối trị giá một trăm đồng, từ nơi tôi làm việc……………...  Ngày tháng ấy, hồn tôi như một trang giấy mới. Rất trong lành, và rất đổi ngây ngô. Trở lại trường làm cô sinh viên nhỏ, những giờ học đầu đời ở xứ người vụng dại và thật dễ thương. Sau trường là Loring Park, tôi thường ngồi dựa vào gốc thông trên đồi cỏ mịn , nhìn những con thiên nga lội nước quanh hồ vào những ngày không có lớp. Hay nằm trên lá vàng, thở nhẹ trong cỏ ướt hương hoa. Pho tượng đồng đen của người nghệ sĩ kéo đàn violin với khuôn mặt trầm tư, chìm xuống, vẫn theo đuổi tôi trong những bước lang thang xạc xào dưới chân lá vàng quấn quít. Eâm đềm và thơ mộng. Như gió. Như mây. Nhẹ như sương mai và thơm tho như quả ngọt đầu mùa………….. .
Và tôi đã đến đó .. với Toàn. Những ngọn nến lung linh không soi sáng đủ mặt người. Mừng sinh nhật tháng giêng của tôi chỉ có hai người. Tĩnh lặng nhưng đầm ấm. Bây giờ trở lại nơi đây theo lời mời của Wagner – thầy tôi, để ông chúc Tết Việt Nam, tôi vẫn còn mang theo cảm giác hạnh phúc vô ngần về một nơi bình yên chim hót.
Chúng tôi uống rượu chát đỏ. Tôi ngập ngừng giây lát, vì bất chợt nhìn thấy bức tranh “ Rừng Thu “, gợi nhớ năm tháng nào tôi bé bỏng bên cạnh Khôi An, cho tôi cuống quít mắt môi một trời kỷ niệm. Mười sáu tuổi, chân rón rén những chiều hẹn hò, những ngày mưa, sáng nắng. Một thuở yêu người thánh thiện, hồn nhiên. Khu vườn Continental trong mát như thạch vào buổi sớm mai. Mùi hương hoa cau thơm nồng ngan ngát. Tiếng muỗng khuấy café của Khôi An nghe lanh canh cho ly café tôi đậm đà tình nhớ. Wagner hỏi tôi sao không nghĩ đến việc có một người nào đó cho riêng mình. Tôi cười trong mắt ướt. Không phải dễ để tìm được một Mr. Right, một người khuấy được những ly café xưa. Wagner ngạc nhiên sao tôi còn sống với kỷ niệm nhiều quá, khi thực tế của ngày tháng Mỹ kỷ niệm làm sao giúp được tôi giải quyết những khó khăn của đời cơm áo, trong những khổ lụy, xót xa, khi thiếu một người xẻ chia, vỗ về, an ủi.
Ở một góc nào đó, Cung vẫn còn vô vọng chờ tôi bên trời Tây Bắc. Ở nơi làm việc, Peter vẫn yêu tôi lặng lẽ như đã thầm lặng tự bao giờ. Tôi không tin người Mỹ có thể ấp ủ mãi một tình yêu câm nín. Cuối cùng thì Peter cũng đã bày tỏ khi nghe tôi quyết định rời bỏ công việc của mình. Những bông hoa tulip vàng từ tay Peter mùa đông lạnh giá vẫn không làm nên định mệnh. Tôi vẫn là con Oác Hương mong manh, gầy guộc của Khôi An, của người lính đã dám vượt ngục để tìm đường sống trong cái chết vì những lằn đạn của kẻ thù săn bắt, đuổi theo. Tôi không biết Khôi An chết ngày nào, tháng mấy, chỉ nghe bạn bè Khôi An kể ở Suối Máu, và anh là một trong những người tù trốn trại đầu tiên sau hai năm bị giam cầm. Và bởi vì tôi không thấy, tôi không chịu tin Khôi An đã chết. Anh vẫn còn sống trong tôi, và anh sẽ trở về. Chắc chắn như vậy. Tôi vẫn còn mơ thấy anh trong giấc ngủ, những giấc mơ thật đẹp và thật hiền, như tình tôi ngày xưa trẻ dại, như anh yêu tôi bằng nỗi nhớ của giòng sông quê hương mà anh đã rời bỏ từ một thuở ấu thơ. Anh mong ước tôi là một nơi chốn trở về của anh bình yên một đời, suốt kiếp. Hay có phải những ước ao đó đã trở thành một lời nguyền để tôi trở thành đá sỏi ngu ngơ, không còn xúc động được ở những mối tình sau, để giữ tôi lại là của riêng anh cho linh hồn anh có một chỗ để trở về nương náu. Tôi cũng không dám nghĩ tôi sống cô quạnh nghĩa là tôi chung thủy với anh. Nhưng có lẽ một điều thật nhất, những gì tôi cần, không thể nào tìm thấy nữa ở những bước chân qua, ở những cuộc vui chỉ là thoáng chốc, ở những môi cười dịu ngọt, điêu ngoa………………..
Tôi không phủ nhận bên những ngôn từ gọi mời giả trá, tôi vẫn còn những bến đời vắng im, lặng lẽ chờ tôi, chờ con tàu tôi quay lại. Nhưng tình yêu có phải là một cái gì không thể tự nói với mình: “ Ừ, thôi cũng được! “, mà phải là những xúc động đích thực của trái tim.
Làm sao tôi quên được, Cung đã riêng dành cho tôi một thứ tình yêu từ một thời tuổi ngọc, với những mơ mộng ngất trời. Cung luôn nhắc nhở trong những trang thư: “ Anh sẽ đưa em về Dalat, và mình sẽ sống một đời bình yên ở đó, với nông trại, với nương khoai.. Và Oác Hương, em sẽ bỏ hết thơ văn, bỏ hết những rong chơi của một thời con gái. Bên anh, hạnh phúc nhỏ nhoi nhưng có thật. Vì em yêu thành phố sương mù ấy, nếu ta cưới nhau, anh muốn gió lạnh và thông ngàn sẽ là những sợi chỉ hồng giam giữ chân em để chỉ còn lại những đứa con mắt trong ngời sáng….. “
Cung miên man trong mơ ước, nhưng Cung quên hẳn một điều tôi thân với Cung bằng một thứ tình học trò ăn chưa no, lo chưa tới. Lí lắc, nghịch ngợm như một tên bạn trai, chứ không phải là một người tình nhỏ. Nếu tuần trước, Cung rủ tôi đi nghe Lệ Thu hát “ Mùa thu chết “ ở Ritz của Jo Marcel thì sau đó lãnh tiền thưởng của ông cụ tôi, tôi ới Cung: “ Oác Hương sẽ bao anh đi coi “ Tuổi Đôi Mươi “ – phim Nhật, có Reiko Dan dễ thương mắt cười trong nón ở Hồng Bàng, chịu không?
Cung lắc đầu: “ Để dành tiền mà ghé ô mai me Bích Lan ở Tân Định, không thì lại ngủ gục trong giờ “ Luật Hiến Pháp “ của thầy M.”
Ngày tháng đó, quanh tôi có biết bao nhiêu bạn bè thân thiết, và có cả Khôi An nồng ấm, yêu thương. Tôi kể tỉnh bơ cho Khôi An nghe tôi đi ciné và nghe nhạc với Cung bằng giọng rất đổi hồn nhiên. Rất cao ngạo và đầy bản lĩnh, Khôi An dặn dò tôi: “ Thằng bé nào yêu em, hôm nào em dắt nó lại thử cho anh coi, nếu anh thấy nó yêu em chân thật là anh gật đầu liền. Và em, muốn đi với bất cứ ai phải hỏi anh, anh sẽ đưa em đi đến tận đó, rồi anh về. Nhớ không? “ . Tôi suy nghĩ một hồi rồi gật đầu.
Và khi tôi nhận ra được Khôi An là bóng mát che rợp kín đời tôi, là lúc chúng tôi sắp sửa mất nhau. .. Khi tôi biết đợi chờ, là đã đến lúc đứa con gái bỗng dưng thành góa phụ, để năm tháng trôi qua lụi tàn đời thiếu nữ..
* ba.
Wagner đi rồi! Nhắn lại cho tôi một mail, nhớ check mailbox.
Cầm lá thư viết bằng tay của Wagner, tôi quay lưng bỏ chạy. Văn phòng làm việc của Wagner trống lốc. Bàn trơ bên ghế ngồi. Lẳng phong lan không còn nữa. Quyển lịch Việt Nam “ Một thời áo trắng “  tôi cho, Wagner ân cần treo trên tường bên cạnh tấm tranh sơn mài  “Mưa đêm “ cũng đã theo người ở tận chốn trời xa. “Không phải dễ để nói lời từ biệt với tôi, bởi tôi – người sinh viên Việt Nam đã cho Wagner những cảm tình sâu đậm. Wagner học được ở tôi là tấm lòng tình nghĩa, là tận tụy, thủy chung của người châu Á.. Hãy giữ tất cả những thứ đó với tôi để làm hành trang trong cuộc đời. “
Lá thư rơi khỏi tay tôi, bay nhòa trong gió..
Mùa thu còn dài quá, mà nỗi buồn không phải dễ để nguôi ngoai. Từ một sự quỵ ngã nào, anh Nguyên đã dìu tôi đứng dậy, tôi đã bắt đầu bước đi được để tiếp tục nhìn lại bóng mình sau những năm tháng ngủ vùi trong cơn ác mộng của văn chương. Những hệ lụy mà mỗi khi nghĩ về vẫn không sao cầm được những giòng nước mắt. Cái vẹn toàn đầy ắp của anh Nguyên đã cho tôi thật nhiều ái ngại. Bởi anh đã cho tôi những gì hơn cả lòng tôi mong mỏi. Bởi tôi bây giờ, như con chim bị đạn, luôn luôn bàng hoàng sợ hãi trước những lằn tên, không muốn bước theo dấu mòn của một vết xe đã đổ.  Nhưng anh Nguyên vẫn xác quyết với tôi: “ Anh là một con người xã hội, anh luôn chia xẻ những âu lo với tất cả mọi người.”
Tôi cũng mong như vậy. Tôi không có gì đặc biệt, anh không dành gì cho tôi một sự khác biệt nào hơn những người anh đã biết, đã quen, để tôi và anh không có một ngày phải nói với nhau những điều cay đắng, không phải nhìn nhau xa lạ, hận thù như tôi đã có với anh Kha.
Tôi tự dỗ dành mình đừng khóc nữa trong chiều lộng gió, trong hương thu buồn trời ẩm đục mù sương. Những cơn mưa muộn màng hình như vẫn còn về ngang đâu đó..
Nửa khuya, khi tôi rời công việc, bên ngoài như thác lũ. Cơn trốt từ Saint Cloud vần vũ kéo sang. Tôi đẩy cửa bước ra, tiếng của Aimee gọi vói theo: “ Oác Hương đừng về, nguy hiểm lắm! “
Nhưng mà không kịp nữa. Sức gió thổi thốc, sức nước quất vào mặt như những ngọn roi, và mưa gió đã cuốn tôi đi, đã xô tôi ngã, đã cuốn tôi trôi về một bờ bến nào. Có phải bờ bến đó có Khôi An chờ tôi mòn mỏi, có Bố tôi mở rộng vòng tay chờ đợi đứa con xa..
Trả hết cho người những oan khiên, nghiệp chướng. Trả cả những yêu thương đã biến thành thù hận vì dối gian, lừa bịp cho nhau...
Tôi nhẹ tênh bay trong môi cười vụt tắt, trong cỏi người lận đận, long đong. Cho tôi về, về với quê hương tôi – một nơi tôi vẫn hằng mong một ngày nhìn thấy lại………….. …..
 
Mh. Hoài Linh Phương

Dư Âm * Hồ Thụy Mỹ Hạnh

Dư Âm
 
Tôi mở rộng cánh cửa, ánh nắng yếu ớt của một buổi chiều sắp tàn hắt qua thềm, người thanh niên vừa gõ cửa đứng trước tôi. Tôi biết đó là người hàng xóm trọ ở căn nhà đối diện nhà tôi. Dù con hẻm cách chừng chục mét nhưng tôi chưa bao giờ trò chuyện, thậm chí là chưa chào hỏi xã giao.
Trong tay anh ta cầm một thứ gì đó như tấm bìa cứng hoặc một tấm hình, tôi gật đầu chào vừa đưa mắt dò hỏi. Anh ta ngập ngừng:
- Đây là một việc có thể làm cô không hài lòng nhưng tôi đã trót thực hiện, chỉ có điều tôi nên giao nó cho cô hơn là tôi giữ, nếu cô vui lòng thì xin hãy xem đây là một quà tặng…
Anh ta vừa nói vừa chìa ra một bức tranh, tôi liếc nhanh, một khung cửa sổ với một người con gái có mái tóc dài buông xõa trên vai và hoa, và lá.
Tranh vẽ bằng bút chì, tôi nghĩ thế và hiểu ngay đó là tôi dù chỉ giống nhất mái tóc và cặp kính cận .Hơi bất ngờ, tôi tròn mắt hỏi:
- Anh đã vẽ tôi ư? Lúc nào vậy?
Anh ta mỉm cười:
- Những buổi chiều, khi tôi tình cờ trông thấy…
 
Một cảm giác thú vị len vào tôi. Tuy nhiên tôi thấy bối rối chưa biết xử trí ra sao? Nếu là một thứ tặng vật nào khác từ một người mà cả cái tên tôi còn chưa biết thì chắc chắn rằng tôi không nhận, nhưng đây lại là chân dung của tôi, nếu không nhận có nghĩa là muốn anh ta phải giữ. Tôi còn đang phân vân thì bức tranh đã được đặt vào tay, tôi chưa kịp nói lời cám ơn cho phải phép, anh ta đã quay bước, một người ít lời, tôi nghĩ thế
 
Từ hôm đó cánh cửa nhà tôi luôn khép lại và tôi cũng ngại đứng bên cửa sổ ngóng nhìn trời đất như thói quen. Anh ta ít nhiều đã gây cho tôi sự chú ý. Giờ thì tôi biết anh ta làm việc gì, làm ở đâu, đi , về khoảng mấy giờ và cả cái tên Thụy dịu dàng như tên con gái.
Sau lần mang tranh tặng tôi, anh ta không hề có biểu hiện gì tỏ ra muốn tìm cách làm quen với tôi. Căn phòng “bên ấy” cũng thường xuyên khép cửa.Tôi và anh ta lại không tình cờ gặp nhau ở đâu cả, nên sự xa lạ vẫn như lúc ban đầu. Còn bức tranh anh ta vẽ cùng với những suy đoán trước đây của tôi, được tôi cất vào một góc suy nghĩ chờ lãng quên.
Và khi tôi không còn quan tâm đến người hàng xóm ấy nữa thì có một đêm tôi thức giấc vào giữa khuya. Trong không gian yên tĩnh, tiếng guitar từ đâu văng vẳng vọng đến bên tôi, tiếng đàn quyện vào tiếng hát trầm ấm, cô đơn và lời ca buồn đến se lòng. Tôi bật dậy lắng nghe, chuổi âm thanh mơ hồ như không thực kéo tôi đi về phía cửa sổ, tôi mở hé cửa nhìn ra ngoài, dưới hiên nhà đối diện có một người đang ngồi đàn trong bóng tối, tôi không biết đó là ai vì trong căn nhà ấy có mấy người cùng trọ. Tiếng đàn và giọng hát trầm ấm kia như có ma lực cuốn hút tôi.
“… Thôi xin ơn đời trong cơn mê này gọi mùa thu tới, tôi đưa em về chân em bước nhẹ trời buồn gió cao , đời xin có nhau dài cho mãi sau…”
Tiếng đàn và sự cô quạnh của đêm khuya dễ gây cho người ta nỗi buồn và cảm giác đó truyền vào tôi rất nhanh . Ai đàn vậy nhỉ? Tôi mở tung cánh cửa ra, ánh sáng trong phòng hắt ra thềm. Tiếng đàn lẫn tiếng hát chợt im bặt. Tôi như tỉnh trước hành động vô thức của mình, nên lại vội vàng đóng sập cửa. Trở lại giường nằm, tôi rủa mình vô duyên.
 
Mặt trời hừng lên bên kia đồi, bầy chim sẻ ríu rít, rộn ràng trên mái ngói. Buổi sáng mùa thu trời đầy mây trắng, một ngày sẽ lạnh hơn mọi ngày. Những chiếc lá rụng bay đầy trước sân hôm nay được tôi quan tâm hơn bằng những nhát chổi chậm chạp, thật khó giải thích tại sao tôi chờ đợi, tiếng đàn lúc khuya vẫn như văng vẳng bên tai, tôi cảm thấy hồi hộp trước cái giờ mà tôi biết căn nhà đối diện sẽ mở cửa, và…
- Uyên
Tiếng gọi khẽ như sợ người được gọi nghe thấy, dù có ý chờ đợi cuộc gặp gỡ này song tôi không khỏi giật mình.
Thụy đang tiến về phía tôi, dáng đi của anh trầm tỉnh, lẳng lặng. Tôi hơi ngẩn ra, nghĩ mãi để tìm một câu nói mở đầu sao cho thật tự nhiên, nhưng Thụy đã lên tiếng trước.
- Có phải hồi đêm tiếng đàn của tôi đã phá giấc ngủ của Uyên?
Tôi ngạc nhiên hỏi lại:
- Là anh đàn ư?
- Vâng! Và tôi đang tự hỏi tại sao cửa sổ nhà Uyên hồi đêm chợt mở ra rồi đóng sập lại đầy vẻ bực dọc?
Tôi nở nụ cười thân thiện:
- Anh đã hiểu nhầm, thật ra bài hát của Trịnh Công Sơn hay quá, chỉ tiếc rằng tôi không được nghe hết…
Thụy thở phào:
- Vậy mà tôi cứ tưởng…
- Anh tưởng tôi là một người không biết thưởng thức một giai điệu hay như thế ư?
- Tôi không nghĩ như vậy, nhưng được biết Uyên không khó chịu vì điều ấy thì tôi yên tâm rồi
Tôi biện minh:
- Tôi đã vụng về trong hành động, cử chỉ của mình, thật ra tôi mở cửa vì muốn tiếng đàn kia vọng sang rõ hơn và cũng muốn biết ai đàn… bên ấy! Anh biết không tôi rất “mê’’ bài Hạ trắng…
Lần đầu tiên tôi nhìn thấy nụ cười của Thụy, anh lộ vẻ vui, dường như ở con người này mọi nỗi niềm biểu lộ nhiều qua ánh mắt hơn là lời nói.
***
Thụy mang đến tặng tôi bài Hạ trắng chép tay, những dòng nhạc kẽ cẩn thận và nét chữ nắn nót bằng mực tím, có minh họa một cô gái tóc dài đứng trên đồi thông, tà áo bay hứng đầy hoa nắng và ở mặt ngoài có trích ghi dòng chữ “Áo em bây giờ mờ xa nẻo mây, gọi tên em mãi suốt cơn mê này…”
Từ đó những khi nghe tiếng đàn của Thụy ngân lên, tôi bèn mở hờ cửa sổ tỏ một tín hiệu lặng lẽ rằng tôi đang lắng nghe. Ở “bên kia” bài Hạ Trắng được dạo lên nhiều lần, tiếng đàn trầm và luôn luôn tôi có cảm giác Thụy đang buồn.
Về mối quan hệ của Thụy và tôi, tôi thật sự khó hiểu, không biết Thụy nghĩ sao về tôi, vì có lúc anh tỏ ra quan tâm, thân thiện với tôi, lại có lúc anh như muốn lánh tôi và thật lạnh lùng. Phần tôi cũng tự chất vấn mình, đó chỉ là một sự ngưỡng mộ trước một người có nhiều biệt tài, hoặc có hơn thế thì đó là một thứ tình cảm chưa thể đặt tên bây giờ , vì xét cho cùng tiếng đàn tiếng đàn của Thụy gần gũi với tôi hơn là anh.
Nhưng bỗng nhiên tiếng Guitar không còn cất lên trong nhiều đêm, tôi chợt thấy trống vắng. Bản tính e dè không cho tôi sang “ bên ấy” xem Thụy ra sao. Căn nhà đối diện vẫn còn những người ở cùng Thụy ra vào, chỉ vắng anh. Một tuần, rồi một tháng vẫn biền biệt. Như vậy là Thụy đã đi khỏi đây, vậy mà anh không hề nói với tôi một lời từ biệt. Tôi tự nhủ “một người vô tâm , nên quên đi là hơn!”
 
Tôi sẽ không còn bận tâm và nhớ về Thụy như một ám ảnh nếu tôi đừng biết thêm một điều gì nữa về anh . Một thời gian không lâu sau đó, tôi tình cờ gặp người bạn trọ chung nhà với Thụy, tôi không nén được lời trách cứ về việc Thụy chuyển đi mà tôi không hay biết. Người bạn ấy mới tiết lộ câu chuyện mà tôi cho rằng họ đã cố tình giấu kín. Trước khi đến đây Thụy đã lập gia đình, nhưng đó là một cuộc hôn nhân không hoàn hảo, cô gái ấy không có lỗi gì nhưng hoàn toàn không phù hợp với tính cách của anh, không hạnh phúc. Với đời quân nhân đây đó Thụy luôn xa nhà. Rồi do yêu cầu của công tác Thụy đã đến đây, không ngờ nơi dừng chân này trái tim anh đã rung động trước một người con gái nhưng ý thức việc anh đã có gia đình, Thụy phải giấu kín tình cảm của mình.
 
Tình yêu là một thứ không thể hỏi tại sao khi nó đến với người này thì lại dịu dàng, êm ả mà với người khác lại nghiệt ngã, trắc trở . Thụy đã trải qua những ngày mà tâm tư luôn nặng nề, u uẩn. Và trong một đợt tăng cường cho một đơn vị tác chiến Thuỵ đã hăng hái lên đường, cũng để không vướng vào một lầm lỗi mà anh chắc mình sẽ không tránh được, đó là khi tình yêu của anh sẽ không còn là mối tình đơn phương. Thụy ra đi khi trái tim anh đã hằn sâu một một ánh mắt, một dáng hình và hơn cả là người con gái ấy có một sự đồng cảm với tâm hồn anh. Nhưng Thụy đã không bao giờ trở về được nữa, anh mãi mãi nằm lại nơi chiến trường…
Tôi lặng đi, bàng hoàng trước một cảm giác như có một cái gì đó quí giá vừa rơi khỏi tay mình và đã tan, đã vỡ….
 
Đã nhiều năm trôi qua, khuôn mặt Thụy không còn rõ nét trong trí nhớ của tôi, nhưng mỗi khi bất chợt nghe đâu đó vang lên giai điệu của bài Hạ Trắng thì trong tâm hồn tôi lại gợi lên một sự tiếc nhớ rưng rưng . Mãi mãi tôi không quên được một hình ảnh đẹp mà Trịnh Công Sơn đã vẽ lên bằng lời nhạc, và Thụy là người tô điểm, đặt nó vào trái tim tôi.
 
Hồ Thụy Mỹ Hạnh

Con Sâu Đỏ

Con Sâu Đỏ
 
Gốc gác gia đình của cậu Hai Say là nhà nông, nhưng cậu ít khi ngó ngàng đến ruộng nương. Mùa màng cấy gặt, cậu giao hết cho vợ trông nom. Còn cậu, cứ tà tà đi tán dóc, coi cuộc đời như chốn rong chơi. Đầu thôn cuối xóm, ai cậu cũng quen. Ra đường, gặp nhau chào hỏi mệt nghỉ. Chào mãi đâm nhàm, chỉ cần nhìn mặt, nhếch mép cười là đủ.
Có một thời cậu theo cách mạng vô bưng biền. Công cuộc kháng chiến trường kỳ, cần nhiều hy sinh gian khổ, không hợp với cái tính ưa hưởng nhàn của cậu. Cậu bỏ về, mang theo căn bệnh sốt rừng. Da cậu tái nhợt như tàu lá chuối non. Thầy thuốc Nam bảo, cậu ăn uống nhiều vật thực mang tính âm hàn, nên sinh ra dị chứng. Phải xổ độc để tống khứ nhiễm khí rừng thiêng. Cậu uống bao nhiêu thang thuốc Nam, vẫn không xổ hết chất độc. Mợ Hai, vợ cậu phải bán một bồ lúa, đưa cậu ra tỉnh thành trị bệnh. Bác sĩ nói, cậu bị sốt rét kinh niên. Nếu không chữa trị kịp thời, để con vi trùng xâm nhập vào gan thì bỏ mạng. Sau một thời gian dùng thuốc Tây, cậu khỏi bệnh. Và từ đó, cậu lấy chữ nhàn làm gốc.
Cái tên của cậu, làm tôi thắc mắc. Cậu là Hai Say hay Hay Say? Cách phát âm của người miền tôi, không phân biệt giữa Hai với Haỵ Và Say có phải là tên thật của cậu, hay người ta thấy cậu thường có hơi rượu, rồi gán cái biệt danh Say? Tôi còn nhỏ, không dám hỏi về điều này. Mà có hỏi, cũng chưa chắc cậu trả lời thật. Bởi tính cậu, xưa nay vẫn hay thêu rồng vẽ rắn, chuyện thật như đùa, chuyện đùa như thật, biết đâu mà lường.
Trước cửa nhà tôi, có con đường đất. Cậu Hai Say thường đi trên đường này, mỗi ngày. Đang đi, cậu ghé vào nhà này, nói năm ba câu trên trời dưới đất. Tạt vào nhà kia, bàn chuyện thời tiết nắng mưa. Không bao giờ nghe cậu đặt vấn đề làm ăn sinh kế. Cậu nói cậu là ông tiên ở trên trời bị đoa. xuống trần gian, và đọc:
Có chồng say như trong chay ngoài bội
Ngó vô nhà như hội Tầm Dương
Có chồng ghiền như ông tiên nho nho?
Ngó vô nhà đèn đỏ đèn xanh
Đã là tiên thì đâu cần phải làm gì. Cậu rong chơi, chờ ngày mãn kiếp về trời.
Nhà tôi là nơi cậu thường vào nghỉ chân sau một chuyến đi rảo quanh làng, hoặc lừng khừng sau khi lai rai vài ba xị đế. Cậu đến nhà tôi, người lớn không cần phải bận tâm đón tiếp. Quen thân quá, hoá lờn. Không ai vô công rồi nghề để ngồi nghe cậu nói chuyện Nam Tào Bắc Đẩu. Cậu cũng rất tự nhiên, nằm trên cái võng giữa nhà, đưa qua đưa lại, miệng phì phà điếu thuốc. Anh chị em tôi rất thích cậu Hai Saỵ Cậu có cả một kho tàng chuyện lạ, kể hoài không hết. Muốn nghe cậu kể chuyện, chúng tôi phải thay phiên đưa võng cho cậu lấy hứng. Đưa võng cũng phải có nghệ thuật, cậu nói, đưa mạnh quá làm nôn ruột, đưa nhẹ quá dễ buồn ngủ. Thế thì phải đưa thử, đến lúc nào cậu bảo được, là giữ nhịp võng ấy mà đưa hoài. Mỗi khi cậu chấm dứt một câu chuyện kể, phải biết ý cậu, đưa mạnh hơn để tán dương và phụ hoa. cho tiếng cười được phơi phới lên cao. Không phải lúc nào cậu cũng chịu đưa võng. Những khi trời nóng nực, phải quạt cho cậu mát. Quạt mạnh quá, cậu nói ngộp thở. Nhẹ quá, cậu bảo không mát. Phải quạt vừa vừa, đều đặn. Cậu nằm phanh áo, bày ngực và bụng. Quạt từ trên mặt, quạt dài xuống bụng. Cái quạt lớn làm bằng mo cau, tôi phải cầm hai tay, quạt mới xuể.
Những chuyện kể của cậu Hai Say, mấy mươi năm qua rồi, tôi không nhớ hết. Sau đây là một trong vài chuyện mà tôi còn nhớ được.
Thời cậu còn theo kháng chiến làm cách mạng. Cậu đã đi rất nhiều nơi, từ chốn bưng biền cho đến miền rừng sâu núi thẳm. Một hôm cậu ngang qua một vùng núi non hiểm trở, bỗng nghe tiếng động ầm ầm dữ dội, như tiếng của Thần Rừng Thần Núi giao tranh. Cậu hoảng hồn, mau chân chạy tránh xa nơi nguy hiểm. Cả năm sau, cậu có dịp hộ tống Bác Hồ, ngang qua vùng ấy nữa. Cậu thấy hai con vật khổng lồ: con rít chúa và con mãng xà vương nằm chết, xác đã rữa mục rồi. Bấy giờ, cậu mới hiểu ra rằng tiếng động ầm ầm mà cậu nghe năm ngoái, là do hai con vật đánh nhau. Cái đuôi của chúng vùng vẫy làm gãy đổ cây cối cả một vùng rừng rộng lớn.
Con mãng xà vương chết, còn lại bộ da, trải dài như con đường lát gạch. Bác Hồ là người thông minh, có nhiều sáng kiến lạ, Bác bảo mỗi người cắt vài miếng da mãng xà để làm dép râu. Và Bác đã mang đôi dép này đi suốt "Đường Kách Mệnh". Đôi dép râu bằng da mãng xà, bền chắc vô cùng. Khi Bác lên làm chủ tịch nước, người ta đưa đôi dép râu này vào trưng bày trong viện bảo tàng. Các nhà khoa học lừng danh của Liên Xô có đến chiêm ngưỡng, và dùng phương pháp khoa học tối tân để phân chất, nhưng vẫn không khám phá ra đôi dép làm bằng nguyên liệu gì. Đó một bí mật mà nhà nước ta giấu kín, không công bố cho nước nào biết, dù là nước xã hội chủ nghĩa anh em cũng vậy. Tất cả những gì liên quan đến Bác, đều được truyền miệng một cách hư hư thực thực như huyền thoại. Để từ đó, người ta nhìn thấy Bác là một siêu nhân.
Con rít chúa chết, còn lại cái vỏ. Vỏ rít có nhiều đốt, nối lại như một đường ống dài. Lúc ấy, trời bỗng đổ mưa tọ Bác Hồ bảo mọi người chui vào cái vỏ rít mà trú mưa. Mưa to, thế mà không ai bị ướt.
Bác Hồ nói: "Lấy cái vỏ rít này, dùng làm nóc hầm trú ẩn hoặc làm địa đạo, có thể chống được bom đạn."
Đấy lại là một sáng kiến độc đáo nữa. Có người rút nhật ký ra ghi chép lời Bác.
Anh tôi hỏi: "Ghi chép làm gì?"
Cậu nói: "Để sau này, Bác dùng làm tài liệu viết ký sự "Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện", dưới cái tên giả Trần Dân Tiên."
Cậu tiếc rằng, ở giữa vùng rừng núi xa xôi, không thể khiêng vài cái đốt của rít chúa về xóm làng.
Anh tôi lại hỏi: " Khiêng về làm gì?"
Cậu nói: "Để bán cho người ta làm mui xe bò. Mỗi đốt làm được một cái mui xe, rất chắc. Xài cả đời cũng không hự"
Chị tôi hỏi: "Cậu từng phục vụ cho Bác Hồ. Cậu thấy Bác ra sao?"
"Ồ, đẹp lắm. Trông Bác có cái dáng vẻ tiên phong đạo cốt, dưới càm phơ phất một chòm râu."
Tôi hát: "Mong Bác Hồ cho chúng cháu xin, đôi sợi râu làm dây thân ái." Và hỏi. "Sao cậu không xin Bác một sợi râu?"
"Dễ gì? Bác chỉ có một chòm râu, mà trẻ em cả nước đứa nào cũng muốn xin một sợi. Lấy đâu cho đủ? Nhưng cậu cũng tìm cách để có được một sợi râu của Bác."
"Khi Bác ngủ. Cậu lén nhổ râu hả?"
"Không. Nhổ râu Bác cũng giống như vuốt cái vảy ngược dưới cổ con rồng."
"Vuốt cái vảy ngược của rồng thì sao?"
"Thì chết chứ sao? Tương truyền, rồng là một linh vật, chúa tể của muôn loài. Vảy rồng mọc xuôi về phía sau, nhưng dưới cổ nó, có một cái vảy mọc ngược về phía trước. Ai chạm phải cái vảy ấy, nó giết liền. Người có chân mạng đế vương, thường được ví với rồng. Vì thế, mỗi sợi râu của Bác được coi như một sợi râu rồng, người đời thường gọi là long tụ Nhổ long tu của Bác, chẳng khác nào chạm cái vảy ngược của rồng."
"Nguy hiểm như vậy, làm sao cậu lấy được râu Bác?"
"Mỗi buổi sáng, cậu có bổn phận bưng thau nước vào cho Bác rửa mặt. Khi xong, cậu đem đi đổ. Trước khi đổ, cậu quan sát thật kỹ, những mong có được một may mắn. Và cậu đã may mắn thật, trong thau nước rửa, có một sợi râu rụng của Bác. Cậu giữ lại sợi râu quý này, làm kỷ niệm."
"Cho tụi cháu xem thử đị"
"Ngồi yên! Nghe cậu kể. Người ta nói cọp chết để da, nhưng không ai nói cọp chết để râu. Vì mỗi lần hạ được một con cọp, việc đầu tiên phải làm là đốt ngay bộ râu."
"Sao thế?"
"Nếu kẻ ác lấy được sợi râu cọp, họ sẽ dùng vào việc giết người."
Anh tôi thắc mắc: "Râu cọp mà có thể giết người được sao?"
Cậu Hai Say giải thích: "Họ nhét râu cọp vào mụt măng. Cháu biết măng là gì không?"
Chị tôi nhanh miệng: "Măng là mầm non của tre trúc mới nhú lên khỏi mặt đất."
"Đúng rồi. Nhét sợi râu cọp vào mụt măng. Lâu ngày, sợi râu sẽ hoá thành con sâu màu đen. Cứt của con sâu này là một thứ thuốc độc ghê gớm. Chỉ cần cho một viên cứt sâu nhỏ bằng đầu cọng tăm vào lu nước. Ai uống phải nước này, sẽ ngã ra chết liền."
Chúng tôi rúc cổ le lưỡi: "Ghê quá!"
"Im! Bình tĩnh, nghe cậu kể tiếp. Râu Bác Hồ như râu rồng. Cậu nghĩ, nếu đem nhét vào mụt măng, nó sẽ hoá ra con gì? Vì tò mò, cậu đã làm thử."
"Cháu nghĩ nó sẽ hoá ra một con rồng nhỏ." Chị tôi nói.
"Không. Chẳng phải rồng mà là một con sâu đỏ lòm, cháu ạ."
"Thế, cậu làm gì với con sâu ấy?"
"Chẳng làm gì cả. Thấy con vật lạ thì nuôi chơi vậy thôi. Cậu nhốt nó trong một chiếc hộp nhỏ, đi đâu cậu cũng mang theo bên mình. Nhưng nó không chịu ăn, lừ đừ gần chết, cậu không biết làm sao để có thể nuôi nó lâu dài. Có lần, cậu vô ý làm đứt tay, một giọt máu tươi rớt vào trong hộp. Nghe mùi tanh của máu, nó như được hồi sinh và hút sạch giọt máu. Thế là cậu khám phá ra, con sâu đỏ này chỉ có thể nuôi bằng máu."
"Cậu làm sao đủ máu mà nuôi nó hoài?" Anh tôi hỏi.
"Phải có cách chứ. Đâu thể trích máu của cậu mãi được. Đi với Bác lâu ngày, cậu cũng khôn ra. Nghĩa là tận dụng mọi thứ chung quanh, mà không hề làm tổn hại đến mình. Cậu bắt con đỉa hút no máu con trâu. Xong cậu cho con đỉa vào hộp. Con sâu đỏ hút lại máu từ con đỉa. Đỉa là loài sống rất dai, cho nên có câu "sống dai như đỉa". Thế mà sau khi bị con sâu đỏ hút máu, con đỉa chết luôn. Điều này cho cậu biết rằng, con sâu đỏ là một độc vật ghê gớm nhất trên đời."
Chị tôi nói: "Sao không giết nó đi, nuôi chi một con vật gớm ghiếc?"
"Cậu đã nói, thấy con vật lạ, thì nuôi chơi. Mãi sau, có người biết được, tố giác chuyện này lên Bác Hồ. Bác ra lệnh tịch thu con sâu đỏ. Cậu giao nạp con sâu, nhưng vẫn còn sợ bị khép tội ăn cắp râu Bác Hồ, nên trốn về, không theo cách mạng nữa."
"Rồi Bác giết nó hay nuôi?"
"Nếu giết nó thì đỡ khổ cho dân lành rồi. Bác nuôi mới chết người chứ!"
"Không lẽ Bác nuôi nó bằng chính máu của Bác?"
"Bác đâu có dại. Máu của nhân dân thiếu chị"
"Nhưng Bác nuôi nó làm gì?"
"Làm gì, ai biết? Mọi hành vi của Bác đều được giữ bí mật. Trong thời kỳ cải cách ruộng đất, và thanh trừng thành phần trí phú địa hào bất mãn, có hàng vạn người bỗng ngã lăn ra chết bất đắc kỳ tử. Cậu nghi, họ bị đầu độc bằng cứt của con sâu đỏ này."
Sau mỗi chuyện kể của cậu Hai Say, thường là những tiếng cười vui thích thú. Nhưng sau chuyện này, cậu không cười, và chúng tôi thì sợ.
 
***
Mùa Xuân năm Ất Mão, tôi tơi tả trở về làng cũ. Cậu Hai Say bây giờ, đã già lắm rồi.
Cậu bảo: "Hãy chạy đị"
Tôi hỏi: "Sao cậu không chạy?"
"Với số tuổi của tao, bỏ thây không tiếc"
"Cậu thường hay nói chơi. Không biết lần này cậu nói chơi hay nói thật. Nhưng đất nước vừa chấm dứt chiến tranh, không ở lại mà hưởng thái bình, còn chạy đi đâu?"
Cậu ngước mặt lên trời, than: "Người ngu mắc nạn, thường hay đổ thừa cho thiên mệnh."
Mười năm sau nữa, tôi ra khỏi tù, lại trở về làng cũ. Nghe nói, cậu Hai Say được cách mạng mời đi dự tiệc mừng Đại Thắng Mùa Xuân. Và cậu đã chết ngay sau khi rời khỏi bàn tiệc. Tôi chợt nghĩ đến con sâu đỏ. Chẳng biết cái chết của cậu, có liên quan gì với cứt của loài độc vật này hay không?
 
Lâm Chương
 
Mời Xem Những Bài Viết Khác Của Lâm Chương Ở Trang Văn Xuôi

Kẻ...* Hồ Thụy Mỹ Hạnh

Kẻ Khó Ưa
 
Tôi gọi nhà trọ của Trà và Quỳnh là  “tổ quỷ” vì nó cũng gần như vậy, ở đó cứ bước chân vào là y rằng bị lôi kéo vào những trò nghịch ngợm, phá phách không tách ra được .
Tất cả chúng tôi cùng ở quận lên thành phố học. Tôi tốt số hơn là được tá túc ở nhà bà con, nhưng tôi thường xuyên đến đó, để tâm sự về nỗi nhớ nhà, để trao đổi học tập và khi đầu óc không còn muốn tiếp nhận chữ nghĩa nữa thì một trò “mới lạ” được bày ra. Hôm nay. . .
Trà rỉ  tai cả bọn :
- Căn nhà đối diện của mình vừa xuất hiện một tên, tên đó đang ngồi trước hiên . . .
Quỳnh gạt phắt, lườm Trà :
- Kệ tển, thấy con trai là tươm tướp !
-  Bởi vì trò chơi của chúng ta hôm nay có liên quan tới tên đó, mày nói tao tươm tướp thì mày nghĩ ra trò gì đi. Thôi được, cho mày nói .
Trà hắng giọng :
- Một đứa trong chúng ta sẽ qua bển . . . làm quen !
Tôi xía vô :
- Lãng xẹt ! Mày thích thì mày qua, mắc mó gì kéo tụi tao vô . . .
- Vì đây là “trò chơi ” thách đố  xem ai dám đi, tất nhiên có thưởng, phạt hẳn hoi
Tôi hiểu ra ý nó :
- Mấy lần trước thua, tụi mày chưa trả nợ cho tao, thắng mà cứ bị treo giải cũng chán lắm .
Quỳnh phân bua :
- Có ngân khoản là thanh toán ngay, thề đó. Còn bây giờ ai xung phong ?
- Mày đi đi
- Mày !
- Mày !
Thêm một con vịt, căn phòng của chúng tôi sẽ thành cái chợ. Cuối cùng phải chỉ định bằng cách bóc thăm. Số phận đen đủi trúng ngay tôi. Vì không muốn bị xem là nhát gan, tôi hăng hái vào cuộc .
Tôi lững thững băng qua đường, còn mấy bước nữa là đến “mục tiêu”, người thanh niên đó đang ngồi trước hiên nhà, dán mắt vào tập sách dày trên tay. Tôi quan sát kỹ “đối tượng” và hơi lúng túng vì không biết mở lời làm sao ? Bản tính hơi gàn của tôi thúc đẩy  “Cứ  hỏi vớ vẩn vài câu rồi biến, anh ta có biết mình là ai mà sợ ”
Vậy là tôi mạnh dạn đặt tay vào cánh cổng sắt lắc nhẹ, người ấy ngẩng lên nhìn, rồi hiểu rằng tôi đang muốn gọi liền đứng lên ra cổng, lỡ phóng lao rồi, tôi liền nói ngay để tránh sự bối rối :
- Xin lỗi phải quấy rầy anh, nhưng tôi . . .tôi có việc rất cần ạ . . .
- Không có chi, nhưng tôi sẽ giúp được gì cho cô ?
Tôi liếc nhìn lại Trà và Quỳnh, tôi biết họ không bỏ sót một cử chỉ nào của tôi .
Tôi cố thật tự nhiên :
- Anh có thể  cho tôi vào trong chứ ?
Anh ta nép sang một bên :
- Mời cô.
Tôi bước hẳn vào sân nhà , anh ta giúp tôi mở lời :
- Bây giờ cô có thể nói cô cần gì ?
Tôi ấp úng, đứng thộn ra như người bị bắt quả tang đang làm việc gì xấu . Nụ cười ranh mãnh của anh ta càng làm tôi bối rối, và không kịp suy nghĩ tôi thốt nhanh :
Anh đừng tưởng là tôi có ý muốn làm quen với anh đó nhé, thật ra tôi sang đây là vì bởi . . . là vì bởi. . .
Tôi nuốt nước bọt một cách thật khó khăn. Con mắt biết cười của anh ta nheo lại :
-  Tôi chưa kịp “tưởng” như vậy thì cô đã nhắc. Tôi có quyền  “tưởng”  bất cứ điều gì nếu cô không giải thích được cô sang đây là bởi vì sao . . .
Tôi biết tôi đang gặp một tay chẳng vừa gì :
-  Thật ra hai người bạn của tôi họ đang đứng bên  kia, thách tôi có dám sang đây để . . . hỏi chuyện với anh không ? Và sợ gì mà tôi không dám chứ.
Anh ta bật cười :
- Vậy là ngoài cô ra, tôi biết thêm còn có hai người nữa đang “để ý ” đến tôi.
Tôi  cảm thấy nóng bừng hai má :
-  Tôi mà để ý đến anh à ? Tôi chỉ muốn thắng cuộc  và để thấy điều anh nói là sai, anh đừng hòng gặp tôi lần thứ hai.
-  Tôi cũng đâu có nói mong gặp lại cô lần thứ hai đâu nhỉ ? Nhưng quan trọng là tôi phải biết tên cô , để nhỡ cô sang đây không như lời cô giải thích , mà là để dò xét chi đó để  rồi  . . . hãm hại tôi thì tôi còn biết tên mà truy -  cứu-  trách-  nhiệm  chứ .
Trà và Quỳnh vẫn còn đứng đó, tất nhiên họ không biết tôi đang nói gì, lát nữa kể lại tôi tha hồ mà bịa. Giờ thì tôi cũng không biết đối đáp làm sao, lối nói của anh ta dễ làm tôi nổi cáu :
- Chắc anh ưa gây thù chuốc oán với người khác lắm nên có tư tưởng nghi ngờ mọi người sẽ hại mình ! Thôi chào anh, dù sao cũng cám ơn anh đã dành thời gian tiếp tôi .
Anh ta chép miệng :
- Tự nhiên cô sang đây để chỉ nói rằng cô không muốn làm quen với tôi, không muốn gặp tôi lần thứ hai . Cô làm tôi thấy bất an, buổi chiều đang đẹp thế này mà tôi phải nói chuyện với một người thật khó hiểu . . .
- Vì anh là người . . . khó ưa !
Tôi quay nhanh ra cổng , mặc anh ta ngơ ngác nhìn theo .
Về đến tổ quỷ, Trà và Quỳnh hè nhau khai thác, anh ta nói chuyện có duyên không ? Nói tiếng miền nào ? Tâm sự gì mà đến . . .năm phút ! Cuối cùng thì sổ nợ ghi Trà và Quỳnh thiếu tôi thêm hai tô phở !
oOo
Tôi không dám đến tổ quỷ vì sợ gặp gã hàng xóm của Trà, Quỳnh .Tôi ngẫm nghĩ thấy trò đùa của mình thật vô duyên, nó không phù hợp với một đứa con gái. Liệu anh ta sẽ nghĩ sao về tôi ? Thôi thì tạm lánh mặt cho anh ta có đủ thời gian quên hẳn bản mặt tôi đã .
Tôi cầu trời nếu ở trọ thì anh ta mau chóng dời đi nơi khác, là chủ nhà thì cũng mau chóng .bán nhà !
Tôi nhớ tổ quỷ lắm dù rằng mấy đứa tôi ngày nào cũng gặp nhau trên giảng đường .
Lời cầu nguyện của tôi thật linh nghiệm . Một hôm tôi nhận được thông báo :
- Tên hàng xóm của chúng ta đi đâu biệt mấy hôm nay rồi chẳng rõ . . .
Thế là tôi có dịp trở lại căn phòng thân thương sau hơn một tháng rã đám .
Và cũng như mọi lần chúng tôi lại góp tiền để “Bồi dưỡng” sau buổi ôn tập , lần này tôi được trả nợ, nên xem như liên hoan mừng gã hàng xóm . . .đi khỏi xóm! Bữa liên hoan có đủ các vị mặn, ngọt, chua, cay. Tôi được quyền chọn món gì tôi thích và vì vậy tôi là người nhận nhiệm vụ đi  mua, quán cóc ngay đầu đường.
Buổi trưa dìu dịu nắng và tâm hồn tôi thênh thang chẳng vướng bận điều gì , tôi chỉ có một việc là cố sao nhồi nhét vào cái đầu không mấy thông minh của tôi những gì đã được học để không phụ lòng cha mẹ, ngần đó thôi cũng đủ tôi chẳng còn thời gian đâu mà mơ mộng.
Dòng tư tưởng bị cắt ngang khi tôi bị chặn lại vì một người vừa trờ tới :
- Chào cô bé !
Tôi bị bất ngờ nên bèn kêu “trời ơi !” rõ to khi nhận ra đó là ai, chính là người hàng xóm của Trà:
Anh ta thản nhiên :
- Cuối cùng thì tôi cũng gặp lại cô bé, cho nên người ta nói trái đất tròn. . .
Tôi nhăn mặt :
- . . .Nhưng tui với ông chẳng ai mong gặp lại, dù sao tui cũng không quên ông đã nói không muốn gặp lại tui lần thứ hai .
Là hôm ấy tôi thấy vậy, nhưng  sau đó thì tôi cứ suy nghĩ, không biết một cô gái lạ hoắc ở đâu chẳng rõ sang gặp tôi với thái độ khó hiểu, rồi biến mất, bây giờ gặp lại đời nào tôi lại không hỏi cho ra lẽ. . .
Tôi bước nhanh, không nhìn anh ta :
- Cũng tại ông, nếu ông đừng ở cái nhà đối diện thì tui đâu có bị thách qua đó làm gì.
Anh ta bật cười và dường như có ý trêu tức tôi :
- Cô bé nói khẽ một chút, người ta nhìn họ tưởng tôi và cô bé đang cãi nhau.
- Ông đừng nói nữa tui sẽ im .
Anh ta vẫn bước song song bên tôi :
- Đừng kêu tôi bằng ông nghe già lắm.
- Không già sao kêu tui là cô bé ?
- Vậy kêu tên là gì ?
- Tui hổng có tên, ông muốn kêu gì tùy ông. Tui bắt đầu im đây .
Tôi cũng xin chào cô bé và cả hai cô bạn kia. Hôm nay tôi về lấy hành lý để đi nơi khác, hẹn gặp lại .
- . . . Còn lâu ! (Tôi lầu bầu trong miệng)
Tôi rẽ về tổ quỷ, còn anh ta  về chỗ của mình, Trà đã nấp sau cánh cửa :
- Bây giờ thì hãy thật thà khai báo, tình cờ gì mà đi với nhau như . . .như . .
Quỳnh xen vào :
- . . . như người dưng vậy ?
- Trông xứng đôi lắm, xem ra có chuyện để nói rồi đây.
Hai đứa thay nhau nói làm tôi điếc con ráy .
Buổi chiều hôm ấy tôi về nhà với cái dạ dày đầy me, xoài, cốc, ổi hòa với nước đá chanh và chè đậu, cũng ngay chiều hôm đó tôi . . . lâm trọng bệnh !
Bụng bị co bóp dữ dội, trong ruột tôi như có một cuộc nổi loạn làm tôi vã mồ hôi, sợ bị rầy nên tôi không dại gì khai đã ăn . . . tạp ! Và để được quan tâm hơn, tôi giả vờ như sắp đứt hơi, cả nhà không biết tôi bị làm sao, bệnh viện cũng gần nhà, vậy là tôi bị đưa đi . . . cấp cứu !
Sau khi khai rõ “bệnh tình”, bác sĩ khám xong và bắt đầu kê đơn thuốc. Tôi ngồi đối diện với bác sĩ, lúc này ông bác sĩ mới giở khẩu trang ra . Tôi lại kêu lên “Trời ơi !” khi nhận ra đó là ai.
Con mắt biết cười trên một khuôn mặt nghiêm trang :
- Hy vọng lần này cô bé kêu trời không phải do gặp lại tôi .
Tôi mím môi, sao đi đâu tôi cũng gặp anh ta vậy kìa ?
- Họ tên là gì ? (anh ta bắt đầu hỏi)
Tôi đáp lí nhí :
- Dạ Nguyễn Thị Hà ! (Tôi nghĩ bụng vậy là thua 1 - 0. Ai ngờ có lúc tôi lại ngoan ngoãn ngồi trước mặt anh ta trong “hoàn cảnh” này)
- Tuổi ?
- Dạ  hai mươi hai (thua 2 - 0)
- Nghề nghiệp ?
- Dạ sinh viên (Thua 3 - 0)
- Địa chỉ ?
- Dạ . . . đường Thi Sách ạ ! (Thua 4 - 0)
Người ngồi trước mặt tôi nở nụ cười hóm hỉnh :
- Để gần nơi làm việc, tôi cũng mới dời đến ở con đường này .
Bây giờ thì tôi kêu thầm “Trời ơi !” trong bụng, vậy là từ nay anh ta không phải là hàng xóm của Trà và Quỳnh nữa, mà là hàng xóm của . . . tôi !
Có thể nói tôi đã thua trắng, không gỡ  nổi một bàn danh dự .
 
Hồ Thụy Mỹ Hạnh

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013