Thi Ảnh

Văn

Văn

Chim...* Phạm Tín An Ninh

Chim Bay Về Biển
 
Một mai chim bỏ bay về biển
Ta đứng một mình ngó nhánh sông
Ta khóc nhìn theo giòng nước chảy
Nghe trăm ngọn sóng vỗ trong lòng
(Sương Mai)
 
Một cánh chim vừa bay ra biển, nhỏ dần rồi mất hút giữa mênh mông. Tôi mơ hồ như hình ảnh của chính mình đang tìm về quê cũ. Hình dung đến thành phố Nha trang xưa, nơi mà nếu không có biển sẽ không còn lãng mạn để người ta nhắc nhớ, đắm say, cũng có thể làm nhẹ đi ít nhiều tiếc nuối của nhưng người Nha trang xa xứ.  Bờ biển cát từng chôn giấu những hang động tuổi thơ và ôm ấp dấu tích của bao cuộc tình thơ mộng, nước biển đã cuốn trôi đi, nhưng không thể xóa mất trong ký ức của nhiều cặp tình nhân mà bây giờ tóc ai cũng bạc. Âm thanh những ngọn sóng rì rào đã dệt nên những bài thơ, những bản tình ca từng làm khuấy động bao trái tim người, mà dư âm dường như vẫn còn vang vọng mãi.
 
Nha trang đẹp đẽ, hiền hòa và thơ mộng đó bây giờ đã không còn nữa. Đã trở thành một Nha trang xa lạ, như thuộc về ai đó chứ không phải của mình. Đó là cảm nhận xót xa của đám bạn bè tôi, không chỉ người đã rời xa mà cả những người vẫn còn ở lại với Nhatrang, sống với Nhatrang gần trọn một đời.
Nhà văn Nguyễn xuân Hoàng, một đồng môn huynh trưởng cùng trường Võ Tánh, sau 15 năm trở lại Nhatrang, đã viết:
“Mười lăm năm sau ngày ra khỏi nước, tôi quay trở về như một người xa lạ. Thành phố tôi đã ở thời tuổi nhỏ như nhỏ lại, những con đường quen đã xa lạ, tiếng sóng biển vọng lại âm thanh đều đặn kỳ quái của một vùng biển chết nào. Bãi cát không còn cái màu của thời tôi mới lớn và rừng dương đã bi xóa khỏi bản đồ trái tim.
… tôi trở về nhìn lại biển xưa thấy không còn lại chút dấu vết nào của những ngày trốn học, những buổi trưa hạnh phúc nằm trên bãi cát, gối đầu lên hai cánh tay, đấp mặt bằng cành lá dừa, ngủ một giấc chờ đến giờ tan học lủi thủi trở về”( trích trong “Nhà Từ Đường” tháng 5.2013- trên VOA)
Một chị bạn , hiện định cư ở thành phố Seattle bên Mỹ. Năm 1954 là một cô bé 7 tuổi, di cư theo gia đình từ Hà nội vào Sài gòn. Ông bố là quân nhân, được bổ nhậm ra một đơn vị ở Nhatrang. Cô rất vui mừng được theo cha ra sống ở thành phố biển. Thi đậu vào lớp đệ thất  trường Võ Tánh. Nhưng chỉ mấy năm sau lại bịn rịn bỏ lại bạn bè, theo bước chân cha ra tận Quảng Nam, rồi Huế. Sau này trở thành cô giáo trung học, lên cao nguyên sống với phố núi và đám học trò Kinh - Thượng, giữa chiến tranh vây bủa, may mắn sống còn trong lần di tản kinh hoàng trên con đường Tỉnh Lộ 7B.Vậy mà một thời tuổi thơ ngắn ngủi ở Nha trang lại là mảng quá khứ đẹp đẽ nhất. Trong ký ức và cả trong trái tim, chị đã dành ngăn lớn nhất cho Nha Trang . Sang Mỹ định cư khá lâu, chị háo hức trở về thăm Nha trang, để rồi “chỉ thấy lòng buồn rười rượi, bởi đang đi trên đất Nha trang mà cảm giác như mình là  kẻ lạ, không tìm thấy bóng dáng Nha trang của mình ngày trước”.
 
Hai người bạn học cùng lớp với tôi. Sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên và gần trọn một đời sống với Nhatrang. Trước 75 đều là thầy, cô giáo trung học, giờ chỉ âm thầm nhìn đời từng ngày trôi đi vô vị, viết những bài thơ buồn trước bao điều đổi thay ngao ngán. Họ ở lại với Nha trang cho đến hôm nay, sau bao nhiêu lần tưởng chừng Nha trang đã hất hủi, đuổi xô, không còn chỗ cho họ dung thân. Hai người bạn của tôi rất chí tình với bạn, sống chết với quê, vậy mà đã bao lần than thở: “không ra đi như mi, tớ ở lại với Nhatrang mà vẫn không tìm ra Nhatrang của bọn mình ngày trước! Không có gì đau hơn là sống trên chính đất nước mình mà cứ mãi hoài vọng một quê hương!” Và họ chỉ còn gặp lại Nhatrang trong ký ức, trong những bài thơ họ viết về một thời quá khứ, nghe chừng đã rất xa xưa như trong tiền kiếp:
chiều quá chén nửa đêm tỉnh giấc
mảnh trăng khuya vòi või chờ ai
trong cỏ ướt dế buồn thao thức
giữa quê nhà sao mãi hoài hương.
Từ buổi ấy đồng thu cỏ biếc
nghe âm u gió tạt mùa xa
người đứng giữa trời không - luyến tiếc
nghĩ ngợi gì tóc rủ sương pha.
….
Bao năm tìm lại con đường
nẻo xanh ngần ngại nghe chừng rất xa
chiều thu xứ ấy mù sa
tình thu thuở ấy cũng là chiêm bao.
(đ.ư.v)
 
Đám học trò bọn tôi thưở ấy, giờ tóc ai cũng bạc. Sau cuộc thăng trầm quá lớn, nhiều khi tưởng mình giờ là một người nào khác. Dù còn sống ở quê nhà hay lưu lạc tha phương, ai cũng đã phải trải qua một cuộc đổi đời bi thảm. Vết thương lớn, nhỏ trong lòng dường như vẫn chưa lành.
Lần trở lại Nha trang duy nhất để tìm bốc mộ thân phụ bên ngoài một trại tù “cải tạo”, cách đây đúng mười năm, tôi đi một mình trên những con đường xưa, nghe tiếng sóng vỗ xa xa mà trong lòng chỉ còn dội lại những dư âm ngày cũ.
Tôi may mắn gặp lại vài ba người bạn học. Nhưng dường như tất cả đều nở nụ cười không trọn. Vui đó rồi buồn đó, bởi mỗi người một số kiếp long đong.
Một thằng bạn rất thân,cùng học ba năm cuối ở trường Võ Tánh. To con, đẹp trai và học giỏi. Sau này cũng là bạn lính. Ở tù hơn bảy năm nên bạn bè ai cũng nghĩ là nó đã đi diện HO và đang nổi trôi nơi nào trên nước Mỹ, không ngờ tôi còn gặp lại nó ở Nhatrang. Mặc dù bây giờ nó không được phép ở lại trong ngôi nhà và thành phố Nha trang xưa của nó.
 
Sau sáu tháng vào tù, căn nhà nhỏ của nó ở Nha trang bị tịch thu, cô vợ “Bắc Kỳ nho nhỏ” mang ba đứa con (mà đứa lớn nhất mới vừa năm tuổi) giao cho bà nội ở trên Thành, Diên Khánh, rồi sang sông…về đâu đó, không bao giờ trở lại. Bà nội thì già, mấy đứa nhỏ bấu víu vào ông chú, vừa tốt nghiệp kỹ sư Nông Lâm Súc, nhưng bởi có ông anh là “ngụy đang cải tạo”, nên đi làm phụ hồ cho một ông thợ nề là bác họ. Trong lúc phụ hồ sửa sang một bệnh viện, anh làm quen được một chị đầu bếp. Không biết tài ăn nói thế nào mà anh làm cô động lòng trắc ẩn, thương cảm hoàn cảnh mấy đứa cháu dại không mẹ không cha. Cô sẵn sàng làm mẹ nuôi. Với tất cả tiền bạc và tấm lòng, đã cưu mang ba đứa bé không thua gì một người mẹ. Ba đứa nhỏ lớn lên cứ tưởng cô là mẹ. Cái tình mẫu tử này sao mà hiếm hoi và bi tráng quá. Thì ra trong cái thời nhá nhem tình nghĩa ấy vẫn có những tấm lòng còn hơn cả những chữ Từ Bi viết trong mấy ngôi chùa.
 
Bảy năm sau, thằng bạn tôi được thả về, cúi mình trước người con gái ân nhân để xin nói một lời tạ ơn. Cô nắm tay ngăn lại. Đúng giây phút ấy, bốn mắt nhìn nhau và cùng rơi lệ. Họ ôm nhau, yêu nhau rồi lấy nhau. Hôm gặp chị, tôi tò mò hỏi lý do nào chị lại yêu và lấy thằng bạn khốn cùng của tôi trong lúc chị còn con gái. Chị bảo vì không thể rời xa ba đứa nhỏ mà chị xem như con ruột của mình. Chính cái tình thương và sự gắn bó ấy mà chị trở thành vợ của ba nó. Còn tôi thì lại mơ màng suy ngẫm đến hai chữ duyên nợ của đất trời. Sau này chị làm đầu bếp cho một nhà hàng ở bờ biển Nha trang. Thằng bạn tôi và mấy đứa con vẫn sống trên Thành, vì với cái lý lịch đen, không thể xin được cái hộ khẩu trở về thành phố cũ. Còn chị vợ thì tiếc cái hộ khẩu ở thành phố, mà không muốn chuyển lên vùng quê Diên Khánh.
 
Cũng chính vì Nha trang đã tạo nên cái hộ khẩu mỗi người mỗi nơi ấy, mà khi thằng bạn của tôi được gọi phỏng vấn xin đi theo diện HO, bị phái đoàn Mỹ từ chối, trả lại hồ sơ và sỉ vả một trận, vì nghĩ chị vợ tốt bụng này chỉ là vợ giả, trả tiền cho nó để được bỏ nước ra đi. Chuyện tình ngay mà lý gian ấy cũng đã làm vợ chồng tốn kém và khốn khổ một thời. Sau mấy lần khiếu nại, cái ân sủng cuối cùng là: chỉ có người cha và ba đứa con được ra đi vào đợt cuối HO. Còn chị vợ sẽ vĩnh viễn không bao giờ được bước chân đến Mỹ.
Bạn tôi quyết định ở lại với người vợ ân tình, mà anh coi như ông trời đã sai xuống dương trần này để gánh vác cho mấy cha con.
 
Bây giờ ba đứa con đã là người lớn. Thằng bạn tôi ở nhà chăm sóc ngôi từ đường, nuôi mấy con heo và nấu cơm cho con cho vợ. Chị ấy vẫn làm ở khách sạn dưới Nha Trang, tối lại chạy về Diên Khánh!
Hôm đứa con gái lớn lấy chồng, chị khuyên mãi thằng bạn tôi mới báo tin cho bà mẹ ruột bạc tình, bây giờ đang lấy một ông chồng người Thụy Sĩ. Bà ấy cũng vác bộ mặt đầy son phấn trở về. Nhưng đứa con gái chỉ cho bà đến nhà hàng dự tiệc mà từ chối sự hiện diện của bà trong hôn lễ. Con bé bảo rằng, bà chỉ là một cái máy đẻ ra tôi, nhưng mẹ tôi chính là vợ của ba tôi bây giờ.
 
Tôi rót một ly rượu mừng cho cả cái vô phúc lẫn cái diễm phúc của thằng bạn cũ, nhưng rót đến hai ly để mời vợ nó. Một ly mừng và một ly để nói hộ giùm tôi lòng biết ơn và ngưỡng mộ.
Tôi quay sang bảo thằng bạn:- Dường như chính phủ Mỹ vừa cho mở lại diện HO, mày thử nộp đơn lại xem sao.
Nó xua tay:
- Tao chẳng cần đi đâu nữa, vì ở đâu có bà vợ tao đây là ở đó có thiên đường.
Tôi đùa:
- Mày nói còn hay hơn mấy ông linh mục trong nhà thờ.
Tôi choàng tay ôm vợ chồng nó mà nước mắt trào ra. Tôi nghĩ, nó vẫn còn tác phong của một thằng lính. Khi chia tay, nó ôm vai tôi buồn bã:
-Mày thấy không, cái thành phố Nha trang mà tao sống cả một thời đẹp đẽ, giờ cũng phụ bạc tao, gây cho gia đình tao bao khốn khó! Từ ngày thuộc về bọn CS, Nhatrang với tao là một vùng đất xấu, lạ lẫm. Mày còn nhớ tác phẩm tiếng Pháp “Le domaine maudit” của ông thầy Cung Giũ Nguyên?
Tôi thực sự chưa hiểu, chỉ thấy mơ hồ có một điều gì đó không ổn trong cách suy tư của nó. Nhưng tôi cảm được nỗi đau của nó.
 
Một cô bạn học từ những năm đệ ngũ, đệ tứ bên trường Văn Hóa. Một lần sang Mỹ thăm cô con gái là sư cô ở một ngôi chùa vùng Los Angeles, bất ngờ đọc được bài viết của tôi trong Đặc San Liên trường Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha Trang, trong đó tôi có nhắc đến tên nàng, rồi lần mò tìm ra tông tích của tôi. Ngày xưa là một cô bé khá xinh và học giỏi. Sau này có thời làm phóng viên chiến trường. Ông chồng gốc Võ Bị Đà Lạt, chết một tháng trước ngày có chuyến bay theo diện HO, nên nàng và hai cô con gái không được đến Mỹ. Dắt con lưu lạc khắp nơi, với một số vốn liếng của mẹ cha để lại. Nàng bảo nhiều lúc nhớ Nhatrang lắm, thử quay về, nhưng rồi thấy lạc lõng, mọi thứ chỉ mới đây thôi mà sao giờ trở thành xa lạ quá.  Cuối cùng, mẹ con quyết định mua một căn nhà bên cạnh Quan Âm Tự ở Sài Gòn xa lạ. Cô con gái út vừa học đại học vừa tu học trong chùa. Còn nàng thì tu tại gia và cũng là một nhà thơ. Hôm ngồi trên máy bay trở lại Bắc Âu, tôi đọc hết hai tập thơ của nàng ký tặng lúc chia tay. Có nhiều bài tiếc nhớ Nhatrang xưa. Nha trang của nàng và của đám bọn tôi. Nàng làm thơ Đường thật hay và cảm động. Tôi nghĩ, nếu Đức Phật mà đọc được thơ của nàng chắc cũng phải rơi nước mắt xuống tòa sen.
 
Một thằng bạn khác cùng học trường Võ Tánh. Sau này gặp nhau trong cùng một đơn vị lính. Đánh giặc rất lì, nhưng luôn bị “đì” bởi bản tính ngang tàng không nể mặt cả cấp chỉ huy. Trong khi đang ở tù ngoài Bắc, chị vợ ở nhà chán chường cuộc sống, lội xuống biển Nha trang tự vẫn, để lại một thằng con trai năm tuồi. Nơi người ta tìm ra thi thể của chị, chính là bờ cát dấu tích yêu đương hẹn hò, thưở hai người mới quen nhau.
 
Ra tù, không thể sống trên thành phố quê hương một thời đẹp đẽ giờ chỉ còn là mảnh đất thê lương tang tóc, mỗi ngày phải ám ảnh bởi cái chết đau đớn của người vợ trẻ đẹp dấu yêu, nó dắt mẹ già và đứa con thơ vượt biển. Sang Mỹ, nhờ mẹ chăm sóc cho đứa con, nó vừa đi làm vừa đi học. Được bạn bè khen, nó bảo: “chẳng phải tao siêng năng chăm chỉ gì đâu, nhưng vì không muốn còn có chút thì giờ rảnh rang nào để nghĩ ngợi mông lung, hồi tưởng về một quá khứ đau lòng”. Nó chưa bao giở về lại Nhatrang. Bạn bè ai cũng phục khi nó lấy được bằng Cao học Tâm Lý ( Master of Psychology) và có công việc làm lương cao, ổn định. Trong đám bạn bè bất hạnh, nó là đứa thành công nhất. Bỗng một ngày được tin nó chết. Chết đau đớn. Thuê phòng trong một khách sạn ở gần nhà, rồi đến đó dùng súng bắn vào đầu mình tự sát, để lại mấy lá thư. Tôi nhận được lá thư nó viết cho tôi, được cảnh sát giao lại, nét chữ đẹp đẽ ngay ngắn, chứng tỏ nó rất bình tĩnh trước khi tự kết liễu đời mình.
“Xin lỗi mày, tao đi trước mà không kịp chia tay với mày. Bọn mình rồi sẽ như những con chim đã đến lúc phải bay về với biển. Mày đừng nghĩ là tao buồn. Tao vui lắm đó. Thôi thì tao đi trước để dọn chỗ cho bọn mày, đám bạn bè thân thiết nhất của tao. Chỉ có một điều tao tiếc và ân hận là đã không được chết ở chiến trường như bọn thằng Lâm, thằng Bê, thằng Pho, anh Tài, Đức”.
 
Đọc xong thấy lòng đau đớn như có nhiều vết chém, vậy mà không biết vì sao tôi không khóc được.
Những người tiễn đưa nó hôm ấy, hầu hết là bạn bè cùng đơn vị xưa, và một số bạn học cùng trường Võ Tánh Nha trang.
 
Năm ngoái, một chị bạn cùng trường Võ Tánh, cùng học Ban C sau tôi một năm, định cư ở Canada, cũng đã ra đi, sau hơn hai năm chống chọi với căn bệnh ung thư. Tôi và có lẽ hầu hết bạn bè Võ Tánh rất mến phục cô bạn có tấm lòng và rất khí khái này từ những năm 1962-1963. Mọi người đã ưu ái tặng chị biệt danh “Nữ hoàng xuống đường”. Luôn sống hết lòng với bạn bè và quê hương đất nước. Quyết liệt, kiên cường trước những bất công, bạo lực. Những ngày lâm bệnh, sớm ngộ Đạo Đất Trời, chị buông bỏ tha thứ hết những hờn giận ân oán riêng tư. Một thời gian trước khi mất, chị vẫn  liên lạc trao đổi với tôi về những kỷ niệm Nha Trang, về tình hình chính trị ở quê nhà với  nhiều hy vọng, và tiếc là không thể sống lâu hơn để chứng kiến ngày chế độ Công sản man rợ độc tài cáo chung trên quê hương. Chị ra đi, để lại bao thương tiếc cho gia đình, người thân và tất cả bạn bè. Chị mong muốn và dặn dò, sau khi chị mất xin gia đình hỏa thiêu và mang tro cốt của chị rải ở ngoài khơi Thái Bình Dương để hương linh của chị theo biển trôi về quê nhà, bên kia bờ đại dương, ở đó có bãi biển Nha trang thơ mộng, nơi chị sống cả một thời tuổi thơ và lớn lên với những vui buồn, vinh nhục.Tôi hình dung đây không phải là cánh hải âu mà là một cánh đại bàng hùng vĩ, đẹp đẽ vừa bay về với biển.
 
Cuối tháng 2/2013, trước khi trở về lại Bắc Âu, tôi bất ngờ nhận được hung tin: hiền thê của một anh bạn qua đời vì một chứng ung thư khó chữa. Chị là cựu nữ sinh Nữ Trung Học Nha Trang, và sau này là một người đàn bà tuyệt vời. Gia đình anh chị là một đại gia đình quân đội. Các con của chị đều là sĩ quan trong quân đội Hoa Kỳ, một cô con gái tốt nghiệp từ quân trường nổi tiếng West Point. Sau này đều trở thành những bác sĩ, luật sư. Phu quân của chị là một người bạn, người đàn anh của tôi ở trường Võ Tánh cũng như trong quân đội ngày trước. Con nhà giàu, đẹp trai và tính tình hào hoa vui tính. Là môt sĩ quan trẻ đầy phong độ khi tốt nghiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, đối tượng của nhiều cô con gái Nha trang thuở ấy. Ngày anh quyết định làm đám cưới với chị, chắc chắn có nhiều cô tốn khá nhiều nước mắt. Cuộc tình đẹp. Một gia đình thành công, hạnh phúc. Chị luôn bặt thiệp vui vẻ, hết lòng với bạn bè, đồng môn, đồng đội cũ của chồng. Nụ cười lúc nào cũng nở trên môi. Ai cũng quí mến chị. Vậy mà đùng một cái, chị ra đi, đột ngột chẳng ai ngờ.
 
Hôm dự dám tang chị, rất nhiều bạn bè cùng khóa Võ Bị với anh và đồng môn thân quen thời Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha trang, từ mọi nơi về tiễn biệt. Trong nhà nguyện không còn chỗ đứng. Anh chồng ốm nhom, tiều tụy. Khi nói lời chia buồn, tôi ôm đôi vai gầy gò mà thấy thương anh, tội nghiệp. Khuôn mặt hốc hác, đôi mắt quầng thâm. Tôi nghĩ là anh đã khóc thầm nhiều lắm, ở cái tuổi đã trải qua bao thăng trầm mất mát, tưởng như không còn nước mắt.
Khi nhìn quan tài chị được đưa vào lò thiêu. Cửa lò đóng lại. Tôi tưởng tượng, lại thêm một cánh chim đẹp đẽ nữa vừa bay về với biển.
 
Tôi nghĩ rồi sẽ có môt ngày, thế hệ bọn tôi, những cô cậu học trò rời trường Võ Tánh vào những năm đầu thập niên 60, bây giờ đều đã trên tuổi 70, sẽ lần lượt ra đi. Tất cả cuối cùng rồi cũng là những cánh chim bay về với biển.
Bỗng lòng tôi chợt thoáng lên một chút băn khoăn. Những cánh chim di xứ ấy sẽ bay trở về đâu, khi Nha Trang ngày xưa của họ đã thực sự không còn. Thành phố đã cho họ một thời tuổi thơ đẹp đẽ hoa mộng, nhưng cũng đã để lại trong lòng họ quá nhiều đớn đau, mất mát sau cuộc đổi đời.  Những hang động tuổi thơ và dấu tích của những cuộc tình ngày xưa, tất cả giờ chỉ còn là cổ tích. Tôi nhớ lời thằng bạn còn ở lại Nha Trang, nhớ tới thầy tôi, nhà văn Cung Giũ Nguyên và tác phẩm Le Domaine Maudit viết từ năm 1961, như là một tiên tri của Thầy.
 
Phạm Tín An Ninh

Tro...* Phạm Ngũ Yên

Tro Quá Khứ Của Tình Yêu
(Thư Viết Từ Đường Heatherglen)
 
1.
Buổi chiều mùa đông cách đây nhiều năm, tôi rời căn phòng trọ đường Trần Hưng Đạo, Đà Lạt, gần trạm xăng Kim Cúc để gặp người bạn ở phi trường Cam Ly. Trong cái rét buốt của tháng mười hai và cái lấp lánh của nắng, những đóa Sư Nha mềm mại vươn mình trên bãi cỏ xanh màu ngọc bích. Từ màu vàng của hoa và từ những năm tháng phù hư đi về một mình trên đường phố trùng điệp sương mù và mưa bụi, tâm hồn tôi trưởng thành không kịp chờ đau khổ. Ai đó đã nói rằng đau khổ làm cho người ta khôn lớn, như nắng hoàng hôn làm cho trái sớm ngậm ngùi. Tôi đi qua những năm lính tráng bình yên nơi thành phố núi, nơi những cây anh đào mỗi năm một lần hé nụ. Nơi mùa đông làm khô lá trên các cành nhánh đường lên khu Hoa Bình. Thành phố thân thiết đến nỗi nhiều khi tôi tưởng mình sẽ không thể rời bỏ để đi, dù dưới con dốc của rạp Ngọc Lan, bến xe đò mỗi ngày huyên náo tiếng kèn xe mời gọi những cuộc lên đường.
 
Màu hoa giản đơn từ một góc tâm hồn đứa con trai hai mươi lăm tuổi vừa gia nhập vào đời, hôm nay ào ạt những dòng mưa lũ. Đời hoa không lớn lao, nhưng làm chật một quá khứ. Tôi biết có những tình yêu như vậy, một hôm nào em khép nép ghé qua, nhưng để lại hồn tôi những dấu giầy cháy nám hạnh phúc.
 
Mỗi đời sống đều ẩn trú trong nó một con đường, một góc phố. Đời sống cũng ghi nhận trên nó một dấu tích trầy trụa từ một chuyện tình buồn.
“có hoa có lá và người khóc,
em sợ ngày nao phải lấy chồng”.
 
Câu thơ tôi không nhớ xuất xứ. Nhiều năm tôi đọc lại vẫn với cùng y nguyên rung động xưa. Nhưng không phải như vậy. Không phải đứa con trai nào cũng buồn khi người ỵêu đi lấy chồng. Cũng không phải mọi người con gái đều khóc trong ngày vui đời con gái (khấp như thiếu nữ vu quy nhật/ tiếu tợ văn nhân lạc đệ thì).
 
Những con sáo sang sông không hề nhìn ngoái lại khu vườn cũ. Ngay cả một tiếng hót trong vút làm tê điếng trái tim cũng không hề. Trên những cành mạc lan lấm tấm màu thủy chung, tình yêu vừa đi qua những dâu bể. Tôi yêu những cuộc tình lẻ loi, ướt át ngấn lệ. Trong đó hai kẻ nắm tay nhau đi về một hướng đời bất trắc.
 
Họ sẽ lìa nhau hay cùng sống trọn đời với nhau trong một cõi sương chằng chịt? Tất cả đều đáng được tôn vinh. Tất cả đều đáng cho chúng ta kính phục vì đó là một mặt khác của hạnh phúc.
 
2.
Những ngày này gió thổi miên man trên đường chiều mịt mùng. Có những câu chuyện mới vừa viết ra một phần đầu. Có những chuyện còn dang dở.
 
Tin tức trên báo chí cho hay cuộc chiến ở A Phú Hản và Iraq đang sắp sửa khép lại với sự rút quân của quân đội Hoa Kỳ. Nhưng người ta không tin một xã hội vừa nhiểu nhương súng đạn cùng chết chóc hôm qua sẽ đi vào ổn định nhanh chóng.
 
Đâu đây vẫn còn vang động những tiếng bom tự sát vào đám đông, vào doanh trại của chính quyền. Đâu đây vẫn còn những tiếng súng bắn tĩa của quân phiến loạn vào các đoàn xe di chuyển. Vẫn còn sự phản đối chính sách Hoa Kỳ và sự có mặt của quân đội đồng minh trên mọi thành phố. Con số thương vong của lính Mỹ vẫn còn là một nan đề nhức nhối trên chính sách đối ngoại của các đời Tổng Thống Hoa Kỳ. Nhưng người ta vẫn có quyền lạc quan về sự hồi sinh của Iraq. Ánh sáng dân chủ đang le lói ở cuối đường hầm.
 
Có những dự tính trùng tu lại quốc gia Iraq sau thời chiến. Nhiều nước đã lập kế hoạch  tái thiết những di tích lịch sữ và điều này hứa hẹn sẽ thu về những số tiền khổng lồ. Một trong những di tích quan trọng là khu vực Al Qurna. Một vùng mà các nhà khảo cứu và ngay cả Kinh Thánh đều tin đó là nơi mà Thượng Đế đã lập ra vườn Địa Đàng. Từ nơi đó, Chúa đã tạo dựng ra hai người đầu tiên của nhân loại là ông Adam và bà Eva.
 
Cách đây nhiều ngàn năm Al Qurna là một vị trí quan trọng trong Cựu Ước. Bây giờ nơi đó đã hoang phế. Những viên gạch lát đường nứt vỡ và những lòng giếng khô cạn không còn nước. Những bờ tường lỗ chỗ dấu đạn. Những thập niên chiến tranh với Iran để củng cố chế độ, Saddam đã tàn sát cư dân sinh sống quanh đầm lầy nằm sâu trong vùng Al Qurna- là dân Marsh Arabs (dân Á Rập Đầm Lầy)- mà truyền thuyết cho rằng đó là hậu duệ của người Sumeria và Babylon. Chính nơi đây, giữa vùng Lưỡng Hà, nơi hai con sông Tigris và Euphrate chạy ngang qua bình nguyên Mesopotamia, mà mẫu tự Alphabet được sáng tạo và những bài trường ca anh hùng được hát lên. Chính nơi đây con người đầu tiên biết săn thú trồng trọt hoa màu. Những ngày của chúng ta được chia làm 24 giờ và chính nơi đây, tình yêu đầu tiên mọc lên để rồi sau đó kéo theo những đau khổ triền miên của con người.
 
Chính nơi đây, từ chiếc xương sườn của người đàn ông đầu tiên, Chúa đã dựng nên người nữ đầu tiên - Mẹ của loài người.
Chính nơi đây mà nước mắt và sự gian dối đã đươm hoa. Những tấm lòng rắn rít và nanh vuốt muông sói đã kèn cựa với trái tim cừu non nhân hậu. Những cây ô liu và những cây tật lê lớn lên cùng với cây vả.
 
Bây giờ nơi đó không còn sót lại một chút gì để gợi lại trong lòng chúng ta một bối cảnh nhân bản từ những trang Kinh Thánh ghi lại thời Sáng Thế. Và lịch sữ đã từng được Thánh hóa cũng bị soi mòn. Cây khuynh diệp linh thánh (cây Eucalyptus, còn gọi là cây bạch đàn) đã khô khốc và chết tự đời nào. Người ta gọi đó là Cây Adam, vì dưới nhánh cây nầy lần đầu tiên Adam nói chuyện với Đức ChúaTrời: “Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn, nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến, vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết” (Sáng Thế Ký đoạn 2 câu 17).
 
Mọi thứ đều khép lại cùng với quá khứ. Mọi thứ đều chôn lấp theo quá khứ.
Khi chúng ta đi dưới những hàng cây khô đầy lá úa mùa thu hay dưới sương mù rũ rượi làm ướt át mái đầu, điều gì đã làm cho chúng ta yêu mến đời sống này thêm lên? Đó là mùi vị và hương phấn của quá khứ. Đó là những nhịp rung nồng nàn từ trái tim và là hơi thở cũng se sắt những điều tình tự.
 
3.
Nhiều chục năm sau, chúng tôi là một trong những kẻ già nua sau một cuộc đổi đời. Từ một tầng lầu cao của khách sạn Holliday Inc. Chúng tôi nhìn xuống con đường đang tàn dần bóng nắng. Nàng ngồi tì tay vào lan can, mái tóc bay hồn nhiên như những ngày chưa có bão. Chai nước suối để trước mặt, và bên cạnh ly Martini uống chung. Mùa đông không rực rỡ một màu nắng, nhưng lòng chúng tôi đang bốc cháy nỗi đam mê. Qua vai nàng, tôi thấy tình yêu không có tuổi và hạnh phúc đậu xuống tựa một cánh chim. Những ngón tay vẫn trau chuốt tiệp với màu son trên môi. Phải chi đời sống không đúc kết bằng những phiền lụy vật chất và người ta yêu nhau trong một bối cảnh của một truyện thần tiên? Người ta sẽ sống bằng không khí và ánh sáng. Bằng mùi thơm của hương hoa và mưa bụi đất trời.
 
Mới vừa đây chúng tôi vừa trôi giạt trên hai nhánh sông buồn. Bây giờ chúng tôi quấn qúit với nhau như hai khóm lục bình run rẩy. Tự mỗi người, đều cảm thấy nên cất giấu những hư hao như cất giấu những món đồ phế liệu. Và chỉ nên bổ sung vào đó, những giọt nước mắt tàn lụn bốc hơi từ những hốc mắt buồn đau- thành những hạt muối làm vị mặn cho đời.
 
Đêm sẽ đến trong chốc lát và những ngọn đèn xe hơi sẽ có dịp sáng lên. Như trái tim sáng lên trong lồng ngực lạnh lẻo.
 
Tháng chin vừa qua tôi đưa nàng về San Antonio để thi Quốc tịch. Mùa đông còn lâu mới trở về nhưng hai bên đường đã có vài vạt cỏ vàng úa và buổi sáng có hơi nước ràn rụa trên mặt kính xe.
 
Một ngày nào đó nàng sẽ xa tôi vì đâu có gì tồn tại trên cuộc đời này? Tình yêu lại càng không thể dài lâu khi con tim đã chạm đủ đau buồn. Tôi biết như vậy và cảm thấy an lòng chờ đợi những biến động. Bên cạnh tôi, nàng ngồi lặng yên nhìn ra những đời xe nối đuôi nhau chạy về phía nam của con đường 35. Cây cối không còn màu xanh nhiều như những tháng vừa qua bây giờ chìm khuất đâu đó ở một dãy phố. Những ngôi nhà cao tầng bao quanh điện Capitol nằm chính giữa sáng nay đã bị những đám mây màu chì che lấp. Cảnh vật vừa mang một dáng vẽ lãng mạn, vừa pha một chút buồn rầu. Khi người ta mang trong trái tim mình một tình yêu, người ta sẽ không thấy mình già. Tôi đang có triệu chứng trẻ lại vì tình yêu nàng đang dành cho tôi? Lâu rồi, những góc phố vắng những trạm xăng huyên náo bên đường. Người ta hạn chế một vài chi tiêu không cần thiết vì nền kinh tế kiệm ước. Đời sống căng chật những nhu cầu trong khi hãng xưỡng chưa kịp trở mình.
 
Dù sao, tôi cũng sẽ tìm mua cho nàng một món quà nhân ngày sinh nhật. Tình yêu không nhất thiết phải hiện hữu những vật chất. Nhưng tình yêu sẽ bị phai nhạt vì thiếu vắng vật chất.
 
3.
Cách đây không lâu, có tin từ báo chí trong nước than phiền là đa số thanh niên trong nước- nhất là tại Hà Nội bây giờ không còn biết đến hai tiếng “cám ơn” và lời “xin lỗi”. Báo Lao Động cho biết như vậy. Và cho đó là hậu quả tất yếu vì sự thay đổi của nền kinh tế thị trường. Tức là nguyên nhân đến từ kinh tế chứ không phải đến từ nền giáo dục suy đồi.
 
Những năm tôi còn ở Việt Nam, chờ ngày ra đi, tôi đã biết những câu chuyện “tử tế” như vậy. Tôi đã biết chung quanh tôi, những em nhỏ đến trường mang trên vai khăn quàng đỏ với lòng kiêu hãnh làm cháu ngoan của bác thay vì kiêu hãnh làm con cháu của Trần Quốc Toản, Trần Bình Trọng. Tôi đã biết bằng tai nghe và mắt thấy, là để được vào đại học, học sinh không cần thông thuộc bài học trường lớp mà chỉ cần nhuần nhuyễn chủ thuyết Mác Lê. Họ chỉ cần mang tấm lòng Pavin vào đời (thép đã tôi thế đấy) thay vì tấm lòng của Mẫn Tử Khiên. Họ không biết đến Carnot. Không biết đến thầy Tử Lộ. Họ chỉ biết đến Nguyễn Văn Trổi và Võ Thị Sáu. Họ đã trồng người trên một thửa đất đầy căm thù giai cấp và ươm những tâm hồn thơ ngây bằng nấm độc được hái dọc đường Trường Sơn. Những con người họ trồng với những chất liệu như vậy, không cần trăm năm như lời bác dạy, chỉ cần vài chục năm, họ đã có kết quả.
 
Ở Việt Nam bây giờ, đang có rất nhiều Phù Đổng xuất thân từ Khu Dân Sinh
và chợ Cầu Ông Lãnh. Những Phù Đổng một sớm một chiều lớn lên không phải bằng nồi cơm tri thức mà bằng những nồi cơm được trộn với ma túy và thuốc lắc. Những Phù Đổng không phá nổi giặc Ân nghèo đói, nhưng cúi mặt trước những sức mạnh đến từ Bắc Kinh.
Qua mất rồi Hà Nội thanh lịch và con sông Hồng lộng lẫy chảy qua những cửa ô. Qua mất rồi những trái tim hồn nhiên của Loan và lãng mạn của Dũng. Của “đêm qua Hà Nội dáng kiều thơm...”
Khi tôi còn là học sinh Trung Học, trong lớp tôi có những người bạn gái là dân Hà Nội chính thống. Tâm hồn của họ ngày đó sao thơm những hoa ngâu hoa sói. Tâm hồn của họ bồng bế những bình minh mùa xuân và ngậm ngùi mùa hạ:
“Tình cô là đóa hoa đơn
Bình minh nở để hoàng hôn lại tàn”
(Nguyễn Bính)
 
Những tấm lòng thiếu nữ của họ ngày đó rất chân thật, rất nồng nàn. Như  họ sinh ra để bổ sung thêm cho cuộc đời này những má hồng môi thắm:
 
Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi
Nào đâu cái yếm lụa sồi
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang sông
Nào đâu cái áo tứ thân
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen...
 
Và:
Nói ra sợ mất lòng em
Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh
Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
 
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng cỏ nội bay đi ít nhiều…
 
Hay thơ của Quang Dũng:
 
Tiền nước trả em rồi, trưa nắng gắt
Tôi yêu em mà em đâu có hay…?
 
Và từ những ngày tháng êm đềm đó, tôi đã để lòng tương tư những cô gái Bắc. Như Nguyễn Bính. Tôi con trai miền Nam yêu vô vọng những cô gái Bắc Kỳ kiêu hãnh. Những “sư tử Hà Đông” tương lai và những “Hoạn Thư “ tân thời của thế kỹ sẽ mãi đi vào trái tim khờ dại của tôi, cho đến ngày tôi thi rớt, vào lính.
 
Nếu những thanh niên thiếu nữ Hà Nội không nhớ, hay quên dần dà hai tiếng “cám ơn” và lời “xin lỗi” thì tôi sẽ buồn ghê gớm. Tôi sẽ làm sao để không thổn thức về những tình yêu đi qua những năm tháng thanh xuân. Làm sao để hướng lòng cho đủ về những nụ cười làm rạng rỡ trái tim giữa rét căm Hà Nội, khi em là một cô bé chạy tung tăng một mình, năm cửa ô lùi lại sau lưng. Vạt áo tứ thân và đôi guốc mộc nhạt nhòa giữa lá cỏ trong khi mắt em cười dưới hồn nhiên của nắng
 
“Hoa sửa vẫn nồng nàn đậu phố đêm đêm
Có lẽ nào anh lại quên em?”
 
Câu thơ của ai viết về hoa sửa?
Tôi không biết hoa sửa là hoa gì và màu sắc như thế nào? Nhưng nói đến hoa sửa là người ta nghĩ về Hà Nội. Chỉ có Hà Nội mới có nhiều hoa sửa. Cũng như con gái Hà Nội luôn thanh lịch 36 phố phường. Có lẽ nào nhân cách của những tấm lòng thiếu nữ Hà Nội lại xuống cấp, để trái tim tôi đau đớn như ngày nào tôi đã từng đau đớn, vì một tình yêu đã gẫy.
 
4.
Bạn sẽ hỏi tôi làm thế nào để yêu mến được quê hương của tôi? Tôi xin trả lời là không ai có thể tự mình yêu hay ghét được một quê hương. Chuyện yêu hay ghét, không phải là một quán tính thông thường như yêu một cái áo hay một viên kẹo. Tình yêu đó như hơi thở, như không khí quanh ta mỗi ngày. Nó trộn lẫn trong trái tim ta bằng những nhịp đập của đất đai, của núi đồi, sông biển. Nó không thể bị đồng hóa hay bị vỗ ngực xưng tên. Nó không thể bị đánh lừa bằng chủ thuyết.
 
Quê hương của tôi không còn là chùm khế ngọt của Đổ Trung Quân, để tôi trèo hái mỗi ngày. Dù Việt Nam bây giờ vẫn còn nhiều những cây khế, nhưng chắc không còn tươm mật ngọt ngào. Những cây khế không còn quyến rũ những con quạ phương xa để quay về ngậm trái trên cành và trả lại một túi ba gang đầy đô la xanh đỏ.
 
Người ta, nhân danh kẻ thắng trận, đã lấy mất trong hồn tôi nhịp đập hào phóng của đất đai từ những ngày tháng tư. Họ đã ngăn chận những dòng chảy bình an và phì nhiêu của sông không cho thoát ra ngoài biển cả. Chỉ còn lại cánh đồng Việt Nam còn trơ gốc rạï còi cộc và những bông lúa lép bên đường...
 
Phạm Ngũ Yên

Sắc Son * Phạm Tín An Ninh

Sắt Son

Không ngờ tôi lại là người bưng tấm ảnh chị Ngà theo sau quan tài của chị. Và cũng chính tôi là người đào huyệt chôn chị. Đám ma của chị có lẽ là một đám ma buồn nhất mà tôi chứng kiến. Có cái chết nào lại không buồn.

Những ngày ở trong trại “cải tạo”, tôi đã từng khiêng xác vài người bạn tù đi chôn ở ven triền núi hoang vắng đến lạnh lẽo, trong cảnh nhá nhem của buổi chiều đông trên khu núi rừng Việt Bắc. Nhưng đó là chuyện trong tù, còn hôm nay ngay trên làng quê mình, chị Ngà đến nơi an nghỉ cuối cùng mà không có một người ruột thịt tiễn đưa, ngay cả cái áo quan cũng do bà con láng giềng góp tiền mua cho chị.
Chị nằm bên cạnh cha mẹ cùng người em trai, trên một ngọn đồi đầy những cỏ may và cây hoa bộng giếng, nhìn xuống cái làng quê mà gần cả một đời chị sống quanh quẩn ở đây, cô đơn, lặng lẽ. 
Chôn cất xong, mọi người ra về, tôi nán lại, dựng tấm bia bằng gỗ trước mộ chị. Khi ngồi một mình nắn nót viết cái tên của chị lên tấm gỗ, nước mắt tôi ràn rụa, mơ hồ như thấy mình đang trở về cái thời nào đó thật xa xăm.
Ngày xưa cha tôi làm thầy giáo, dạy trường Pháp Việt. Tôi mồ côi mẹ từ lúc mới lên ba, cho nên những ngày đi dạy học ông thường dắt tôi theo. Đến lớp, ông giao tôi cho mấy anh, chị học trò lớn của ông để tôi vừa chơi vừa  học. Nhờ vậy mà lúc còn bé tí xíu tôi đã biết “con ngựa cheval nhảy qua hòn núi montagne ăn cỏ herbe uống nước de l’eau “.
Trong số các anh chị dạy tôi học, tôi thích nhất là chị Ngà. Chị là con gái lớn của ông bà Tần, chuyên nuôi tằm, bán tơ, một gia đình thuộc hàng khá giả trong làng, có ngôi nhà ngói lớn, ở cách nhà ông bà nội tôi chỉ mấy cái vườn cây.
Chị Ngà có làn da trắng, mái tóc thật dài. Lúc nào gặp tôi chị cũng cười và nói năng nhỏ nhẹ. Nghe cha tôi nói lại, chị hiền lành ngoan ngoãn và học rất giỏi, nên là một trong số học trò cưng của cha tôi.
Thấy tôi mồ côi mẹ, lại là con của thầy mình, nên chị rất thương tôi. Ngay cả những ngày nghỉ, chị cũng thường ghé lại nhà ông bà nội, dắt tôi đi chơi, mua cho tôi mấy con bò, con gà bằng đất. Có điều tôi ít khi đến nhà chị, vì  rất sợ những con tằm. Tôi bảo đó là những con sâu, mặc dù chị tốn bao nhiêu công sức để nói về lợi ích của con tằm đã làm nên tơ lụa, và những con bướm đẹp đẽ đang bay ngoài vườn kia là hoá thân từ chính những con tằm. Nhưng lúc ấy tôi nghĩ là chị đã kể từ một chuyện thần thoại nào đó nên không tin những điều chị nói.
Cả một thời ấu thơ, lớn lên ở nhà ông bà nội, ngoài cô Út ra, chị Ngà là người mà tôi gần gũi nhiều nhất. Chị có một người em trai tên Ngọc, lúc nhỏ tôi rất phục tài đá banh của anh. Gần như không trận bóng nào có anh mà thiếu tôi trong hàng khán giả nhi đồng. Nhờ anh mà đội bóng của làng tôi giữ chức vô địch mấy năm liền trong huyện. Tôi mê anh đá banh, nhưng nhiều cô gái trong làng thì mê anh đẹp trai, cao lớn. Sau này anh đăng vào lính thủy quận lục chiến. Nghe nói anh đánh giặc hăng lắm, nên mới ba năm đã lên tới chức trung sĩ. Lâu lâu về phép dắt theo cô bồ có mái tóc quăn, trông anh oai phong lắm.
Khi tôi từ giã quê lên tỉnh học, cũng là lúc chị Ngà ra nghề làm cô giáo, dạy một lớp nhỏ  trường làng, rồi lấy chồng. Tôi cũng vinh dự được mời, và quà cưới tôi cho chị hôm ấy là bức tranh chân dung của chị do chính tay tôi vẽ. Tưởng chồng chị là ai, hoá ra là anh Phúc,cũng là học trò của cha tôi, học trên chị một lớp, người cùng làng. Nghe nói anh học giỏi, nhưng thầm lặng, ít nói và không thích giao du với bạn bè. Anh là con trai một của bà ba Tịnh. Bà góa chồng từ lúc nào tôi không biết. Chỉ nghe người ta bảo ông Tịnh theo vợ bé, là một cô đào trong gánh hát rong, rồi biệt tăm luôn.
Anh Phúc thi đậu lấy bằng primaire, nhưng viện cớ mẹ goá con côi, nên không đi làm công chức như những người khác, mà lại tự mình khai thác một khu vườn bên kia sông Gốc, trồng nhiều loại cây và có ao nuôi cá. Trong làng ai cũng khen anh biết tính toán và có lòng hiếu thảo.
Trong đám học trò của cha tôi cũng có vài anh khác ngắm nghé chị Ngà, nhưng vâng lời cha mẹ, chị lấy anh Phúc, bởi anh là con một của bà mẹ góa, được nhà nước cho miễn dịch, khỏi phải đi lính xa nhà, để chị còn được gần gũi săn sóc ông bà khi đến tuổi già.
Đám cưới nhà quê, nhưng khách khá đông, mà hầu hết là bạn học của hai người và cũng là học trò của cha tôi. Trong lễ cưới, sau khi cô dâu chú rể lạy tạ cha mẹ hai bên, rồi xin được lạy cha tôi một lạy để đền ơn sư. Cha tôi cầm tay anh chị dặn dò nhiều thứ, tôi không nhớ hết, chỉ còn mang máng hai tiếng thủy chung.
Từ ngày chị Ngà lấy chồng, tôi ít có dịp gặp lại chị. Mặc dù nhà chồng chị cũng không xa mấy, nơi ven làng, bên con sông Gốc, mà phía bên kia sông là khu vườn của anh Phúc và cánh rừng tiếp giáp với dãy trường sơn.
Tôi gặp lại chị đúng vào một ngày buồn. Chỉ đứng nhìn chị ấy khóc. Anh Ngọc, em trai duy nhất của chị, bị tử trận đâu trong Rừng Sát. Cha mẹ chị ngất xỉu khi nhận chiếc quan tài mà không hề được báo trước. Đám ma hôm ấy nghiêm trang lắm, có cả ông quận và mấy anh lính bồng súng chào đi theo. Tôi dìu chị đi sau linh cửu, tiễn đưa anh Ngọc đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Điều làm tôi - và nhiều người - ngạc nhiên là trong đám ma của anh Ngọc, không ai nhìn thấy mặt anh Phúc, chồng chị. Mọi  người thì thầm “cha nào con nấy, chắc là lại mê con đào hát nào, bỏ con Ngà rồi! ’’
Tội nghiệp cho chị và oan cho anh Phúc. Vì trước đó mẹ anh Phúc đã thay mặt con trai xin lỗi gia đình sui gia, bởi anh Phúc ốm nặng bất ngờ phải nằm bệnh viện.
Hai tháng sau, một trận lụt lớn tràn qua làng tôi, kéo theo một số nhà cửa và trâu bò, nhưng không có ai chết, ngoại trừ cái tin anh Phúc bị nước cuốn đi, khi anh còn ở khu vườn bên kia sông Gốc, chưa kịp về nhà.
Mẹ anh Phúc rước thầy ngồi đồng đi tìm xác anh Phúc suốt mấy ngày liền, nhưng người ta nghĩ là xác anh đã trôi ra biển.
Trong nhà cũng lập bàn thờ, nhưng chị Ngà nhất định không chịu để tang. Chị bảo linh tính báo cho chị biết là anh Phúc, chồng chị vẫn còn sống. Có thể trôi giạt đến một nơi nào đó rồi được người ta cứu như câu chuyện nàng Thúy Kiều mà chị thường đọc cho cha mẹ chị nghe...
Tôi rời quê vào Sài gòn học, rồi sau đó đi lính. Lâu lâu nghỉ phép về quê, tôi tìm đến thăm chị. Sau ngày cha mẹ mất, chị nghỉ dạy học, bán ngôi nhà ngói lớn của ông bà, đem tiền bạc về xây lại ngôi nhà mẹ chồng thành ngôi nhà lớn ba gian, mua luôn cả khu vườn bên cạnh có trồng đủ loại cây ăn trái. Chị dành lại một số tiền mở một nhà máy xay xát nhỏ, nuôi bà mẹ chồng bị đau bệnh mấy năm nay, chỉ nằm một chỗ.
Trong làng, có người thì bảo chị ấy “khôn nhà dại chợ, bán nhà cha mẹ để gây dựng nhà chồng, và mang cả bàn thờ cha mẹ, em út sang bên ấy, không sợ tủi hổ vong linh”. Nhưng cũng có người, trong đó có ba tôi, thì khen chị, bảo là “xuất giá thì phải tùng phu, con Ngà nó làm vậy là đúng theo sách thánh hiền !”
Không hiểu có phải vì chị nghe lời dặn dò của ông Thầy, từng khai tâm và dìu dắt chị nên người, thuộc lòng hai chữ thủy chung, nên dù chồng đã biệt tích từ lâu, chị vẫn ở vậy, thờ phụng nhà chồng, trong lúc chị vẫn còn trẻ và có nhan sắc trong vùng. Có mấy ông thầy giáo ở xa đổi tới từng mon men đến chị nhưng chị khước từ.
Ngày mẹ chồng chết, cũng chỉ có mỗi một mình chị mặc áo tang. Nghe nói cái đám ma đúng vào một ngày gió mưa, ảm đạm. Người ta không chỉ thương cho người chết, chẳng có chồng con trong phút lâm chung, mà còn tội nghiệp cho cả cô dâu, một mình cô đơn đi sau quan tài, tiễn đưa bà mẹ chồng về nơi chín suối, mà cũng đưa cuộc đời mình vào chốn quạnh hiu.
Chiến tranh càng lúc càng leo thang. Sau ngày mấy ông tướng nghe theo Mỹ hạ bệ và giết hai anh em ông Ngô đình Diệm, không biết đất nước có thực sự khá hơn không, nhưng ở quê tôi thì không còn bình yên như trước nữa. Một vài người làm việc trong chính quyền bị ám sát. Cứ vài ba tuần lại có một cuộc đụng độ giữa các toán dân vệ với quân du kích. Ba tôi phải bỏ quê, về sống ở thành phố, giao ngôi nhà từ đường của ông bà nội cho cô Út tôi chăm nom thờ phượng.
Tôi về phép thăm ba tôi đúng vào ngày giỗ ông nội, nên hai cha con cùng về thăm quê. Tôi gặp chị Ngà  khi vừa bước chân vào nhà ông nội. Chị đến đây từ sáng sớm, phụ cô tôi dọn dẹp nhà cửa, bàn thờ, chùi bóng mấy bộ lư đồng và mấy tấm liễn.
Thấy ba tôi, chị vòng tay cúi đầu thưa Thầy như cái hồi còn bé. Chị nắm tay tôi, miệng nở nụ cười. Nhưng nhìn trong đôi mắt chị, tôi thấy phảng phất buồn.
Không biết ba tôi thay đổi quan niệm từ lúc nào, sau đám giỗ, ông bảo tôi tìm chị Ngà, dặn chị ở lại cho ông nói chuyện. Ông khuyên chị Ngà nên bước thêm bước nữa, hy vọng còn sinh đẻ được để có mụn con, hầu tránh cảnh tuổi già đơn chiếc, chẳng có ai lo lắng cho mình.
Hôm ấy tôi cũng phụ họa nhiều điều và hứa sẽ làm mai cho chị. Lần này Chị không một mực khước từ, nhưng xin để tang mẹ chồng cho đủ ba năm. Tôi giận chị nhưng cũng cảm phục tấm lòng thủy chung của chị.
Tháng tư bảy mươi lăm, khi chị Ngà chưa mãn tang mẹ chồng, thì cả miền nam để tang cho đất nước. Cái “đại thắng mùa Xuân” của những người Cộng sản đã gây biết bao nhiêu thê lương tang tóc. Ba tôi bị bắt trong lúc tôi còn theo đơn vị từ cao nguyên“di tản chiến thuật” vào các địa danh xa lạ ở tận Long An tham dự những trận đánh cuối cùng cô đơn và buồn tẻ.
Miền Nam mất. Trong lúc những người Cộng Sản ngơ ngác hò reo chiến thắng, tôi lặng lẽ quá giang đủ các loại xe trở về quê. Tìm tới trại tù Đá Bàn, một mật khu lúc trước nằm sâu trong núi, nơi ba tôi bị giam giữ, nhưng cuối cùng tôi vẫn không được phép gặp ba tôi. Tôi về nhà ông nội, thăm bà cô út và thắp hương từ biệt trước bàn thờ gia tộc.
Cô tôi đau lòng cho biết, người ký lệnh bắt ba tôi là một anh học trò của chính ông ngày trước. Anh bỏ nhà lên núi rồi tập kết ra Bắc. Bây giờ đang giữ một chức vụ  khá lớn trong Uỷ Ban Quân Quản.
Cô tôi chưa kể hết câu chuyện thì chị Ngà đến. Chị nắm chặt hai bàn tay tôi, không nói điều gì. Tôi thấy chị đang khóc. Tôi nghĩ là chị thương và lo lắng cho cha con tôi trong cái cảnh sa cơ này. Tôi lấy lại bình tĩnh, chưa kịp nói lời trấn an, thì chị nhìn tôi nghẹn ngào:
-Em, em.. xin Thầy và em tha thứ cho chị. Chị không ngờ.., chị thật sự không ngờ.
Và chính tôi cũng không ngờ. Anh học trò ký lệnh bắt cha tôi chính là anh Phúc, chồng của chị. Tôi rút nhanh tay ra khỏi bàn tay của chị.
Dường như đây là lần đầu tiên trong đời, nhìn những giọt nước mắt - mà lại nước mắt của một người rất gần gũi thân quen – lòng tôi dửng dưng không hề xúc động. Tôi có cảm giác đắng cay của một người bị lừa gạt và phản bội. Tôi giận cho tình đời và thầm ân hận là cha tôi đã từng “nuôi ong tay áo”.
Tôi từ biệt làng quê và bà cô cả một đời nuôi nấng chăm lo cho tôi từ thời tấm bé, bước vào trại “cải tạo” với ngổn ngang trăm mối trong lòng. Tự dưng tôi mất mát gần như tất cả mọi thứ trên đời, kể cả những tình cảm mà tôi cứ ngỡ là nó sẽ không bao giờ mai một.
Hơn tám năm trong nhiều trại tù từ Nam ra Bắc, bị hành hạ đói khổ khốn cùng. Tôi sống còn có lẽ là nhờ những giấc mơ về quá khứ. Trong đó tôi bắt gặp lại hầu hết bóng dáng những người thân yêu của cái thời hạnh phúc. Và khuôn mặt xinh đẹp hiền hậu dễ thương của chị Ngà vẫn thường hiện lên rõ nét, mặc dù khi đầu óc tỉnh táo, tôi đã cố gắng xua đuổi hình ảnh ấy ra khỏi ký ức mệt mỏi của mình. Tôi thương chị mà hận chị. Tôi nghĩ là chị đã đồng lõa với nhà chồng để lừa gạt chúng tôi hơn mười mấy năm qua.
Ra khỏi tù, tôi không được phép về sống chung với vợ con ở thành phố Ninh Hòa, quê vợ. Lý do hết sức đơn giản là : chính quyền ở đó không nhận tôi tạm trú. Công an tỉnh bắt buộc tôi phải về “trình diện chính quyền”nơi sinh quán. Tôi lại một mình khăn gói về quê cũ, mà ở đó chỉ còn một bà cô già goá bụa sống âm thầm trong ngôi nhà từ đường có mái ngói âm dương của ông bà nội tôi để lại.
Nghe tin tôi về, bà con hàng xóm đến thăm. Mới hơn tám năm mà trông ai cũng già nua, khắc khổ. Trong số đó tôi để ý một người đàn bà, đứng ngoài cửa nhìn tôi, đôi mắt thất thần, đầu tóc rối bù, áo quần rách rưới bẩn thỉu. Tôi ngờ ngợ nhớ tới một người. Nhưng khi vừa đứng lên định bước tới hỏi thăm, thì bà ta vụt chạy về phía sau vườn.
Tôi ngẩn người khi cô tôi bảo nguời đàn bà ấy chính là chị Ngà, vợ anh Phúc ngày xưa.
Buổi tối, sau khi dắt tôi lên căn nhà thờ thắp hương lạy ông bà, cô tôi đóng kín cửa, khêu ngọn đèn dầu, ngồi kể cho tôi bao nhiêu nỗi niềm tâm sự.
Cha anh Phúc, theo lời tiết lộ sau này từ những đồng chí thân tín của anh Phúc, thực ra không hề theo một ả hát rong nào cả, mà bỏ làng vào bưng từ khi anh Phúc mới lên mười. Ông đã chết từ lâu, nhưng hàng năm vợ con vẫn nhận được thư ông do một vài người lạ mặt mang tới.
Trong mấy lá thơ, hầu hết là “động viên” tinh thần anh Phúc nối gót cha đi làm “kách mệnh”. Trước khi lên núi, anh Phúc làm quen, rồi tỏ ra yêu chị Ngà, nhưng thực ra đó là kế hoạch đã được các“đồng chí  thủ trưởng “ giao cho anh Phúc phải thi hành, để giải quyết việc nuôi nấng mẹ của Phúc, mà bọn họ biết là bà đã trở thành goá bụa từ lâu rồi.
Những ngày làm vườn bên kia bờ sông, anh Phúc đã hoạt động cho phía bên kia. Dưới căn hầm trong khu vườn là sào huyệt từng che dấu cho nhiều cán bộ. Sau một trận tấn công chiếm trụ sở xã bất thành, sợ hành tung bại lộ, anh Phúc đã lên núi rồi tập kết luôn ra Bắc, sau khi dựng lên vở kịch chết trôi trong trận lụt năm nào.
Tất cả mọi việc không phải chỉ để qua mắt mọi người, mà còn đánh lừa cả chị Ngà. Chị nhẹ dạ cả tin, nên ban đầu cứ tưởng chồng mình còn sống bị trôi giạt ở đâu đó, nên vẫn chờ đợi trong hy vọng. Sau một thời gian dài bặt vô âm tín, chị mới nghĩ là anh đã chết. Tội nghiệp, chị không hề biết là mình đã bị lừa dối để uổng phí cả một đời xuân sắc.
-Thế bây giờ ông Phúc ở đâu và vì sao chị Ngà lại ra nông nỗi ? Tôi hỏi.
- Sau ngày “giải phóng” chưa đầy một tháng, thằng Phúc đưa vợ con từ ngoài Bắc vô đây, giành lấy ngôi nhà do công sức của con Ngà gầy dựng, trong đó phần lớn là tài sản của chính cha mẹ nó. Con Ngà phải ra phía góc vườn che một cái chòi tranh để trú nắng trú mưa.
-Còn cái máy xay xát ở đâu mà trông chị nghèo khổ đến như vậy ? Tôi thắc mắc.
-Họ mang vào hợp tác xã. Thời gian đầu họ cho con Ngà làm công nhân xay lúa, nhưng lại trả lương bằng bo bo. Chỉ sau vài tháng tất cả các máy xay xát tâp trung về huyện, nó bị mất việc.
-Bây giờ gia đình ông Phúc vẫn còn bên ấy? Con không muốn có ngày gặp mặt ông ta.
- Thực ra nó giành nhà, nhưng chỉ ở một vài tháng rồi cho gia đình một“đồng chí”nào của nó cũng từ ngoài Bắc vào tá túc, trong khi chờ chia chác những ngôi nhà lớn mới tịch thu.
Sau đó thằng Phúc bán cả nhà lẫn vườn tược lại cho người khác, vào thành phố nhận một chức hàm lớn hơn. Con Ngà nó phát điên từ dạo ấy. Ngày nghe tin ba con chết trong trại tù cải tạo, nó như một kẻ không hồn. Ban đêm, người ta nghe tiếng nó gọi Thầy ơi, Thầy ơi rồi khóc nức nở.
Tôi theo cô Út, đi dọc theo phía sau mấy khu vườn, tìm đến chị Ngà. Trong căn chòi lụp xụp tối tăm, chị Ngà đang ngồi thẫn thờ trên cái giường tre như một pho tượng cũ. Trên đầu giường có ba tấm ảnh của cha mẹ chị và anh Ngọc, em chị, nhem nhuốc, úa màu. Không ngờ cái ngày đổi đời, người chồng biệt tăm bao nhiêu năm bây giờ bỗng dưng về, trở thành ông lớn thì cuộc đời của chị lại tàn tạ bi thảm như hôm nay.
Tôi ngồi xuống bên cạnh chị, ôm đôi vai gầy còm của chị mà trong lòng tựa hồ như bao nhiêu vết chém.
 -       Chị Ngà ơi, chị vẫn mãi mãi là chị của em mà. Em thương chị và sẽ lo lắng cho chị.
Chị Ngà ngồi bất động. Rồi bất ngờ òa lên khóc. Cô cháu tôi càng dỗ dành an ủi, chị lại càng khóc to hơn, tôi nghe tiếng ấm ức nghẹn trong cổ họng chị.
Tôi năn nỉ, khóc lóc với chị bao nhiều lần mới đón được chị về ở chung trong nhà ông nội. Tôi mang mấy tấm ảnh của cha mẹ chị và anh Ngọc về để một góc trên bàn thờ gia tộc. Từ ngày ấy chị khá hơn xưa. Những lúc ngồi tâm tình với cô cháu tôi, chị vui vẻ bình thường như thuở còn con gái, nhưng cũng có nhiều đêm khuya chị ngồi trước bàn thờ lẩm bẩm một mình và khóc sụt sùi.
Từ ngày có chị, tôi cũng thấy mình đỡ bớt cô đơn, và có lúc còn thấy mình hạnh phúc trở lại với cái thời thơ dại.
Vậy rồi chị lìa bỏ thế gian này cũng thật bất ngờ. Buổi sáng thức dậy sớm, tắm rửa xong chị thay quần áo mới, kẹp lại mái tóc, trông chị trẻ ra.
Cả ngày hôm ấy chị cười đùa hồn nhiên vui vẻ, ngồi ôn lại bao nhiêu kỷ niệm của những ngày tôi còn bé, và chị còn là cô học trò cưng của ba tôi. Khi vui, trí óc chị trở nên minh mẫn lạ thường. Chị còn nhớ bao nhiêu điều mà chính tôi đã quên từ lâu lắm.
Trước khi đi ngủ, chị còn ôm đầu tôi vào lòng, nhại một câu hát đã lâu “ may mà có em đời còn dễ thương..”. Và sau đêm hôm ấy, chị không bao giờ thức dậy nữa.
Trước ngày vượt biển, phải cắt ruột bỏ quê mà đi, tôi đến nghĩa trang gia tộc thắp hương cho ông bà và mẹ tôi, rồi đến thăm mộ chị cuối cùng. Trong lúc cầm ba nén hương đứng trước mộ chị, tôi nghĩ đến thuyết luân hồi của nhà Phật, và hình dung bây giờ chị Ngà đang sống ở một thế giới khác, xinh đẹp và rất hạnh phúc với một người chồng xứng đáng, bởi chị là một nguời đàn bà thánh thiện, sắt son.
Một con bướm trắng không biết từ đâu bay lại đậu trên tấm bia bằng gỗ, mà chính tay tôi đã dựng lên cho chị, nhịp nhịp đôi cánh rồi vụt bay theo cơn gió lốc, biến mất trong bầu trời xanh.
 
Phạm Tín An Ninh

Chim...* Hoàng Thị Thang Nga

Chi Sa Xuống Đất
 
Năm tôi vào lớp đệ tam, cũng là lúc anh hai vừa thụ huấn xong khóa học bay ở Mỹ về. Bạn mới còn bỡ ngỡ chưa quen, bạn cũ tản mác các phân ban khác, chỉ có tôi và nhỏ Liên “văn hay chữ tốt” theo ban C, ôm ấp mộng làm… zăn sĩ. Nhỏ này “chế” thơ tình rất hay, dù nó chưa có mảnh tình nào… vắt vai.
Khi biết tôi có ông anh là Pilot, “cọng giá” của tôi vươn cao hẳn. Mấy đứa bạn vừa quen bỗng trở nên thân thiết lạ lùng. Chiều nào tan trường về tôi cũng được rủ đi ăn hàng vặt ở mấy xe gỏi khô bò, chúng nó thay phiên nhau đãi đằng, chưa kể lúc ngồi trong lớp ăn vụng me dốt me ngào, cóc ổi nhai mỏi miệng. Tôi biết tỏng ý đồ của chúng, trong mắt… tai mũi họng của tụi nó bây giờ chỉ có “ngài” Pilot nhà tôi là sáng giá. Mấy anh chàng Võ Trường Toản quần xanh áo trắng làm sao cân sức được với chiếc áo bay của Pilot, nên đành ngậm ngùi hát: “anh có theo hàng trăm cây số, em vẫn không thèm quen anh đó….”
Ăn “chùa” mãi cũng kỳ. Vả lại tôi phân vân không biết chọn đứa nào trong cái đám quỷ cô nương nhí nhố này để… gá nghĩa cho anh hai, nên đành tiếc rẻ từ chối bớt những “cuộc vui”. Chỉ giữ lại một nhỏ Liên làm “thân chủ”, dù sao nó cũng là bạn lâu năm từ hồi đệ nhất cấp, lại hiền lành nhu mì, sau này có “tiến thân” làm… chị dâu của tôi cũng được, đỡ lo anh hai vớ phải một bà chằng đem về áp đảo con em, vì thế tôi lên kế hoạch “gài” nó cho chàng anh.
Anh tôi lọt vô được Không Quân vì chiều cao thuyết phục và sức khoẻ tràn trề chứ diện mạo chàng hơi… xí, nói tế nhị hơn là không đẹp trai mấy, khác xa lời đồn thổi về huyền thoại KQ :”không đẹp trai, không phải Pilot”.
Chàng hiền lành và còn hơi “cù lần lửa”, dù đã được mấy bậc niên trưởng tận tình chỉ vẽ cho nhiều chiêu bay bướm, nhưng xem ra không cải thiện được phong cách chàng là mấy. Vậy mà bạn tôi, nhỏ Liên xinh xắn, thùy mị, mảnh mai và… thấp thấp đúng model “người em bé nhỏ”, say tình chàng quá Trời!… Từ sau ngày gặp gỡ anh, mồm nó lúc nào cũng lẩm bẩm bài “Tuyết Trắng” như thầy pháp niệm chú. Mặt mày ngơ ngẩn như người mất tiền, cố… rặn mấy vần thơ. Nó còn siêng năng chăm chỉ học nữ công, (lúc trước nó thường rủ tôi coupe giờ này) tập thêu thùa. Nó thêu đôi chim liền cánh, đôi trái tim lồng vào nhau, đôi bông hồng đỏ thắm, chờ cơ hội tặng chàng anh hai. Tôi thương cảm quá, hỏi một câu… lãng xẹt:
- Ảnh… có gì đâu mà bà khoái dữ dzậy?
Nó cười lỏn lẻn.
- Tui thích cái… tướng mặc đồ bay của ảnh và giọng… Bắc kỳ ngọt lịm.
Trời mẹ ơi!!!… Tôi ngạc nhiên quá đỗi. Tôi cũng là “cô em Bắc kỳ nho nhỏ” đây, sao không thấy ai khen tôi có giọng “ngọt lịm”???
Chờ anh “dù” về nhà, tôi phỏng vấn chàng.
- Anh hai thấy bạn em thế nào?
Chàng ngơ ngác.
- Thấy gì… bạn nào?
Tôi thất vọng.
- Chời ơi!… nhỏ Liên hôm bữa anh gặp đó, anh thấy nó thế nào?
Chàng ngớ ngẩn.
- Anh… có thấy gì đâu, bạn em bị gì à?
Tới phiên tôi ngớ ngẩn.
- Anh không thấy gì thật sao!? Anh không thích nó à!? Anh không muốn có người yêu à!?
Tôi hỏi một hơi “anh… không à” làm chàng càng… không hiểu.
- Sao em hỏi nhiều thế, bạn em thì mắc gì tới anh?
Nhỏ Liên không lọt được vô mắt anh tôi. Chàng anh “cù lần lửa” vậy mà quá lạnh lung, tim cứng như cục sắt!
Chờ đợi khá lâu, không thấy tôi đem lại tin tức tốt lành hay một cuộc hẹn hò nào. Nó chán nản quay sang làm “em gái hậu phương”, viết thư cho các anh “thiên thần” mũ đỏ, “cọp biển” mũ xanh, mũ nâu ngoài tiền tuyến, không thèm mơ tưởng đến chàng Pilot nhà tôi nữa.
 
Ngày “giải phóng” anh đang ôm chiếc trực thăng, có thể vù một mạch đến Thái Lan, nhưng không nỡ bỏ mẹ và tôi, nên đành ở lại. Mẹ bắt anh trốn ở vùng biển Phước Tỉnh, nơi có người quen làm dân chài, để mặc cho mẹ đối phó với “bộ đội giải phóng” dai dẳng hạch hỏi: thằng giặc lái trốn đâu rồi?
Nhờ diện mạo hơi xấu, đen nên anh sống lẫn với dân ngư phủ an toàn và có cơ may vượt biên bình an tới đảo Bi đông. Tại đây anh bất ngờ gặp lại Liên, nó mừng rỡ nhận ra anh, anh cũng vui mừng không kém, vì bơ vơ nơi xứ lạ đất người, tâm trạng hoang mang chao đảo. Liên trở thành người thân, vì là bạn của em gái mình.
Gần gũi hằng ngày khiến hai người yêu nhau thắm thiết và làm đám cưới ngay trên đảo. Mẹ và tôi vui mừng khôn xiết, từ nay nơi xứ lạ, anh tôi có người thương yêu sớm hôm cận kề chăm sóc. Quả là trời già nên mắt kém. Rõ ràng hai ngườì có tên trong sổ nhân duyên, lần trước chắc “cụ” quên đeo kiếng nên không thấy, suýt chút nữa làm lỡ làng mối duyên tốt lành này.
Sau gần chục năm định cư ở Mỹ, anh lãnh mẹ tôi sang. Tôi ở lại vì kẹt chồng con. Những cuộc điện đàm viễn lien với mẹ, thỉnh thoảng nghe tiếng mẹ thở dài. Tôi băn khoăn hỏi:
- Mẹ ở bển có vui không?
Mẹ ngập ngừng.
- Vui …vui mà cũng… buồn, anh con… nể vợ quá.
- Nể là sao mẹ?
Mẹ nói nhanh.
- Nể là… nể, thôi con đừng hỏi nhiều.
Tôi hời hợt mau quên nên không nhớ đến chuyện này nữa!
Thời gian lại trôi qua mấy chục năm. Vợ chồng anh không một lần về thăm VN. Tôi có đứa con gái lớn lấy chồng Việt kiều, may mắn ở cùng tiểu bang với anh, khi vừa có điều kiện, nó vội bảo lãnh tôi ngay. Tôi muốn ở gần nhà anh để “chạy qua chạy lại” cho vui và gần mẹ. Ngày đầu tiên gặp lại con bạn cũ mà cũng là chị dâu, sau ba mươi mấy năm cách biệt, tôi bị choáng…
Ôi thời gian!!!... Thời gian là liều thuốc nhiệm mầu chữa lành những vết thương lòng đau đớn, nhưng cũng là liều cực độc hủy diệt tàn bạo dung nhan, vóc dáng con người. Bạn tôi ngày xưa xinh xắn, nhỏ bé, yêu kiều là vậy. Nay trở thành một bà béo bệu bạo! Ngồi thừ trên sofa với nét mặt lạnh tanh, nhìn nó tôi ngán ăn… mỡ suốt đời.
Thời gian và hoàn cảnh làm thay đổi mọi thứ. Ngày xưa tôi với nó thân thiết như chị em ruột, chia nhau từng viên xí muội, miếng ổi chát, miếng cóc chua, kể lể với nhau những mẩu tâm sự vụn vặt ngây ngô thời mới lớn, vậy mà bây giờ nó nhìn tôi như người xa lạ. Cám ơn trời! nếu không bị kẹt lại ở nước VN nghèo đói khốn khổ mấy chục năm, chắc giờ này tôi cũng to “bành trướng đế quốc Mỹ” và tâm hồn lạnh lẽo như nó.
 
Vì ở gần, hay chạy qua nhà anh, tôi mới hiểu được tiếng thở dài và câu nói ngập ngừng của mẹ ngày trước. Không biết từ lúc nào, bạn tôi đã tân dụng cái ưu thế “lady first” của nước Mỹ văn minh, yêu chuộng phụ nữ. Từ một người con gái dịu dàng thùy mị, nó thay đổi thành một “lady” lắm mồm, riết róng. Mọi việc trong ngoài, một mình nó quyết định, anh tôi chỉ là người thừa hành, kiêm nội trợ, chờ lệnh sai phái. Anh đã trở thành một người hoàn toàn khác.
Ngày xưa anh tuy hơi “cù lần” nhưng cũng có phong độ nam nhi. Oai hùng liệng cánh trên những trận địa, làm quân thù khiếp hãi. Bạn bè đồng đội thương mến vì tính hiền và nụ cười luôn nở trên môi. Bây giờ nụ cười trở nên hiếm hoi trên khuôn mặt đăm chiêu nhẫn nhục. Anh chiụ đựng sự càm ràm ca cẩm của vợ riết thành quen. Nó xéo xắt anh vì cái tội nó… mập, rồi ghen tuông vu vơ với những người không mập như nó. Có lần tôi ái ngại hỏi:
- Chị cứ than mập hoài mà sao không chịu khó tập thể dục? (không biết từ lúc nào tôi lễ phép gọi nó bằng chị)
Liền bị nó lườm cho một cái dài ngoằng.
- Dào ơi !… cô khéo vẽ chuyện, tôi làm gì có thì giờ mà tập với chả… họp.
- Chị cứ để thân hình… tròn trịa thế này, rồi cuối tuần lại đi chơi với bạn, mặc kệ anh ở nhà một mình, không sợ ảnh có… người khác sao?
Nó nhìn tôi như nhìn sinh vật lạ, cười rung mấy thớ thịt dưới cằm.
- Xời… cô cứ đùa? Cho kẹo lão cũng không dám.
- Sao chị tự tin thế?
Nó cao giọng ngạo nghễ.
- Chị… mày có tình báo khắp nơi, lão hó hé là chết ngay.
Tôi phục nó sát đất, phục luôn cả nước Mỹ nữa. Nước Mỹ giỏi thật, đào luyện được những người phụ nữ VN ngày xưa hiền lành dịu dàng, giờ trở nên “thần thông quảng đại, hô phong hoán vũ” như ngày nay.
Những lúc cuối tuần rảnh rỗi, anh tha thẩn ra vườn chăm sóc, cắt tỉa mấy khóm hoa, nhổ mấy cây cỏ dại, ngắm vài con chim bay lên cành xào xạc, lượm nhặt những chiếc ly nhựa, ống hút, giấy kẹo mà vợ con, bà cháu xả ra bừa bãi. Cặm cụi cần mẫn. Hình như những lúc đó tôi mới thấy anh vui, nét mặt tươi, thỉnh thoảng cười mỉm một mình, nụ cười không bao giờ thấy ở trong nhà, bên cạnh nó. Tôi thắc mắc quá, tra gạn.
- Anh có gì vui mà cười một mình vậy?
Anh chối phắt.
- Đâu có gì.
- Mình chỉ có hai anh em với nhau mà anh không tin em sao, nói cho em nghe với.
- À… à, anh coi sách báo, đọc truyện ngắn truyện dài, có những chuyện vui vui, nhớ lại buồn cười thôi mà.
Tôi không tin, nhưng không tra gạn nữa, hỏi một điều để mãi trong lòng, lâu nay chưa có dịp:
- Em thấy nó quát nạt, ăn hiếp anh quá trời mà sao anh không nói gì?
- Anh nhịn cho rồi, khỏi ầm nhà, có nói cũng không lại bả !
Tôi xót xa.
- Anh sống vậy không thấy buồn sao?
Giọng anh chùng xuống, buông xuôi.
- Buồn hay vui cũng vậy thôi, rồi cũng qua ngày.
Tôi đau nhói trong lòng, tiếp tục khai thác tâm tư ông anh thân yêu.
- Có bao giờ anh nghĩ đến chuyện… ly dị không?
Anh khẽ lắc đầu.
- Không em ạ… âu cũng là số phận! Với lại anh quen rồi, cũng chẳng có gì ghê gớm lắm.
Một lần nữa tôi lăn ra đất phục ông anh, như đã từng phục chị dâu. Lại cũng câu nói: Ôi!!! nuớc Mỹ giỏi quá, tôi luyện được những chàng trai kiêu hùng, một thời tung mây lướt gió, oai phong oai dũng ngày xưa, trở nên những ông chồng nhẫn nhục, cam chịu ngày nay.
Không Quân có khẩu hiệu: không bỏ bạn bè…
Bây giờ có thêm vế sau: không care vợ… dữ.
 
Hoàng Thị Thanh Nga

Những...* Hồ Trường An

Những Phiến Mỏng Của Hạnh Phúc
 
Quân có hai bà chị họ cùng chung một họ, cùng chung một ông sơ bên nội, nhưng khác bà sơ. Ông cố Hai của chàng là con bà vợ lớn. Còn ông cố ruột và ba cố Tư của chàng là con bà vợ nhỏ. Ông cố Hai tức là ông cố ruột của hai nguời chị họ đó. Tuy thế, gia tộc của Quân cùng quây quần trong cái Xóm Cầu Kè thuộc làng Long Đức Đông theo kiểu tứ đại đồng thôn  chứ không như các đại gia tộc quý phái bên Tàu sống theo kiểu tứ đại đồng đường.
Ông thân sinh của hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh là cháu đích tôn của ông cố Hai, còn cha của Quân là cháu đích tôn của ông cố ruột của chàng mà hai chị gọi là ông cố Ba. Cho nên cha của hai chị và cha của Quân phải trông nom ngôi nhà hương hỏa của ông nội mình. Hai ngôi nhà ấy ở gần nhau, kiểu kiến trúc giống nhau, cách nhau một cái lạch nuớc viền những khóm ô-rô, những cụm bình bát xanh tươi, có chiếc cầu tre bắc qua. Đó là kiểu nhà ba gian hai chái, sân lót gạch tàu đỏ tím như ruột trái du đủ xiêm. Hai nhà chỉ có khác nhau chăng ở chỗ ở giữa sân trước của cha của Quân có bày hòn non bộ, còn nhà bác Hai Chức (thân sinh của hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh) có trồng trong bồn giữa sân một cây chuối kiểng thật to, tàu lá xếp hình rẽ quạt.
Dưới hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh có người em trai tên Khiết, nhỏ hơn Quân một tuổi, một nhâ vật lu mờ nhạt nhẽo nhất trong giới họ hàng cùng một thế hệ với Quân. Trên Quân là chị Hương Khuê, mặt lẳng ngầm, hễ mỗi khi chị cười là cặp mắt chị tít lại, rồi đưa đẩy tròng mắt ướt lóng lánh. Vừa mới 16 tuổi, chị bị anh Cẩn, thứ nam của ông bà Bang Biện Trọng dụ dỗ mang thai. Túng thế, ba má Quân điều đình vói ông bà Bang Biện Trọng gả chị luôn cho tên tiểu tặc dâm bôn kia. Chị Hương Khuê phải về chợ Ngã Tư, cách tỉnh Vĩnh Long 4 cây số để làm dâu cho ông bà điền chủ miệt vườn kia. Tuy ba má gả trôi được cô con gái thuồng luồng hổ mang kia, nhưng Quân hầu như không nghe ba má nhắc nhở tới chị Hương Khuê. Thỉnh thoảng chị có về thăm nhà, nhưng chưa bao giờ ở chơi trọn ngày; lúc đến và lúc đi, lúc nào chị cũng lặng lẽ như một cái bóng. Họa hoằn lắm, ba má Quân mới đi thăm chị, nhưng không bao giờ ở chơi với ông bà thông gia của mình một ngày.
Tuổi hoa niên của Quân bắt đầu từ ăm 1938. Lúc đó đất nước nằm trong tình trạng khủng hoảng kinh tế. Hàng hóa nhập cảng rất nhiều mà dân chúng không có tiền mua. Bên trời Âu, ngọn lửa Đệ nhị Thế Chiến vừa mới ngún cháy. Chị Băng Thanh và chị Tuyết Anh đang học trường Áo Tím bị bác Hai Chức gọi về quê. Bác gái an ủi:
-- Con gái đâu cần học nhiều. Hai đứa bây học tới năm thứ ba ban Thành Chung như vầy  cũng đủ văn minh tân tiến rồi. Bây về đây nên lo trau giồi công dung ngôn hạnh thì thiếu gì trai trẻ con nhà tử tế quanh vùng nầy nhờ cha mẹ tụi nó cầm trầu cầm cau cuới bây về làm vợ.
Thuở đó, Quân mới ngồi lớp Đệ nhất niên ban Thành Chung trường Cao tiểu Cần Thơ (Collège de Cần Thơ). Vào dịp bãi trường, chàng ôm rương tráp về quê nhà nghỉ mát suốt hai tháng hè. Nhân dịp nầy, chàng mới có dịp gần gũi và khắng khít với hai chị hơn. Còn Khiết vì không trúng tuyển vào trường Lycée Pétrus Ký nên anh phải học trường Tư thục Huỳnh Khương Ninh ở Sài Gòn. Bác Hai Chức trai thừa biết con mình học hành không mấy sáng dạ, chưa chắc theo đuổi hết chương trình ban Thành Chung.
Chị Tuyết Anh ngắm nghía Quân:
-- Chị không ngờ chỉ trong vòng một năm mà  em đã có lưng dài vai rộng như thế nầy. Em tuy lớn hơn Khiết một tuổi mà cao lớn hơn Khiết nhiều, lại còn cứng cáp vững vàng nữa.
Quân nhìn trân trối hai cô chị họ. Về nhan sắc, chẳng có chị nào vượt mức trung bình. Nhưng chị Băng Thanh không chịu xấu; mặt mũi chị không có  nét thô, chị lại còn trắng da dài tóc nữa. Nhưng những chi tiết trên khuôn mặt chị thiếu nét hài hòa, vẻ mặt chị lại cau có khó chịu như nét mặt kẻ mang bịnh táo bón kinh niên. Chỉ nhìn chị thoáng qua, người đối diện như bị một sức đẩy tuy nhẹ nhàng nhưng dứt khoát. Chị có vóc mình mảnh khảnh, vai mỏng, mông nhỏ. Nhưng mà quỉ ơi, đôi mắt chị có tròng đen quá nhỏ vì bị tròng trắng húng hiếp, lấn át. Đã vậy chị lại hay trừng hay trợn nên trông chị dữ tợn và hậm hực, bất an.
Còn chị Tuyết Anh có màu da hơi ngăm đen, cặp mắt hơi trố, hàm răng hơi vẫu. Những chi tiết đó tuy không kéo chị lên hàng ngũ mỹ nhân, nhưng cũng không thể dìm chị xuống hàng chị em, dì cháu, mẹ con bà Chung Vô Diệm được. Nhưng chị có nhiều cử chỉ quá trớn, ưa nguýt háy, nhúng trề, õng ẹo, véo von. Nghiệt một nỗi, những biểu lộ tình cảm tô đậm sắc thái ấy quá trơ trẽn, được diễn tả bằng giọng khàn đặc, nhưng cố tình làm ra âm sắc hổn hển, nũng nịu một cách gượng ép. Cũng như chị Băng Thanh, chị không chịu xấu để người xung quanh thương hại. Chị thừa biết mình không đẹp, nhưng muớn lôi kéo sự chú ý của kẻ khác nên chị tạo những cử chỉ và ngôn ngữ...  quá đặc biệt. Tuy nhiên, chị tính sai vì những cái giả tạo đó chỉ làm người đối diện nhột nhạt tê tê như phải nghe tiếng vót tre vót nứa.
Vừa gặp Quân, chị Băng Thanh không ba hoa vồn vả như chị Tuyết Anh đâu. Chị lãnh đạm nhìn Quân. Cặp mắt chị dù không trừng không trợn, nhưng lại dội lên xương sống chàng một gáo nước lạnh cóng. Chị cười gằn:
--Sung sướng quá! Con trai thì được gia đình cho ăn học tới nơi tói chốn. Chỉ có bọn gái tụi nầy dẫu có học hành xuất sắc cho thế mấy cũng bị gia đình, gia tộc dìm tài, nhốt kín cái óc thông minh họ, bức tử con đường tiến thân của họ trong xã hội.
Chị ngoe nguẩy vào căn bếp. Một lát sau, chị bưng ra ba chén tào hủ màu ngà non trộn bánh lọt xanh màu ngọc thạch được chan xâm xấp lớp nước đường màu ngọc mã não và nước cốt dừa trắng như sữa. Chị ân cần:
-- Em hãy ăn món nầy với tụi chị cho vui. Chốc nữa em ăn cơm luôn ở đây.
Hôm nay, chị  cóđi xuống ông thợ đóng đáy mua được con cá bông lau để nấu canh chua dưa măng và một mớ tôm càng để tẩm bột chiên giòn.
Thật tình Quân không sao hiểu tâm lý và cách cư xử của cô thiếu nữ tuy chưa làm gái già mà trở nên kỳ quặc nầy. Chàng sang đây thăm hai cô chị họ của mình là cốt mượn mấy cuốn tiểu thuyết của nhóm Tự Lực Văn Đoàn về đọc giết thời giờ. Cây phượng vỹ ngoài cổng đã thịnh phóng hoa đỏ rực như gấm đại hồng. Giàn thiên lý trong sân kết những chùm hoa bích lục tươi nõn. Những ngày bãi trường xán lạn hãy còn dài. Vắng những cuộc phiếm du, vắng mấy cuốn văn chương thấm mát hơi sương lãng mạn và vắng một bóng hồng để mơ ước thì đối với chàng mùa hè trở nên vô vị một cách đáng ghét. Chàng đã có một bóng hồng là cô Thu Cảnh, con của thầy Hương hào Trần Sĩ Hiệp. Chàng cũng có mấy quyển tiểu thuyết thuộc tủ sách Phổ Thông Bán Nguyệt San được sắp xếp ngăn nắp trên kệ sách, nhưng xem thét thành nhàm. Chàng đã nghĩ đến toàn bộ tiểu thuyết của các tác giả trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn mà hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh đã chắt chiu sưu tầm từ bao năm qua.
Vào thập niên 30, một cô gái thuộc bậc trung lưu cấp cao, học tới bậc Trung học dù hơi kém bóng sắc, nhưng được gia sản cha mẹ và một ít chữ nghĩa đấp điếm cũng đủ làm cho nhân diện và vóc dáng đương sự được đánh bóng mượt mà hẳn lên. Nhưng dung nhan hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh lại không tụt xuống dưới mức trung bình bao nhiêu. Họ lại rành nữ công, biết thêu Tây lẫn thêu Tàu, và biết làm nhiều loại bánh xưa lẫn bánh nay. Bởi thế, cũng có vài nơi điền chủ khá giả cậy mai mối đến nhà bác Hai Chức để hỏi cưới hai chị cho con trai họ.
Mỗi khi đi ra chợ tỉnh, hai chị vẫn mặc áo dài màu tím. Không hẳn đó chỉ là hai màu áo kỷ niệm thời nữ sinh thơ mộng đối với hai chị đâu. Hai chị mặc áo tím cốt để ngầm khoe với những kẻ quen biết cùng hàng xóm láng giềng rằng hai chị là kẻ tân học trong khi các cô thiếu nữ nhà giàu khác trong làng, trong xóm đâu có thể leo lên bậc Trung học như họ.
Hai chị khéo bày những cảnh để trai gái trong vùng chiêm ngưỡng. Bác Hai Chức có cất cái nhà mát gie ra ra dòng rạch chảy trước nhà. Chiều chiều, gặp thời tiết tạnh ráo, hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh mặc áo bà ba bằng lụa Hà Đông, quần sa teng tuyết nhung đen, đem sách ra nhà mát để đọc hoặc đem kim chỉ ra thêu thùa. Những ngưòi trong xóm mỗi khi chèo ghe hoặc bơi xuồng ngang qua nhà mát đều có thể trông thấy cảnh nhị kiều hóng mát như thế. Nhà mát cất theo lối thủy tạ, hình lục giác, mái lợp ngói ống, lan can bao quanh sơn son. Bác Hai Chức biết đủ cách sống phong lưu tao nhã. Mỗi năm vào xuân thu nhị kỳ, bác được hai cuốn catalogues tên là  Fayettes và hai cuốn catalogues tên là Au Bon Marché từ bên Pháp gởi qua để bác có thể gởi mua hàng hóa và vật dụng sản xuất bên  Pháp như chén dĩa, đèn măng-sông , đồng hồ treo trên vách, rèm màn dệt đăng-ten  cùng nồi niêu, soong chảo bằng nhôm hay bằng đồng... Bởi đó, nhà bác có nhiều món cổ ngoạn bằng sứ Limoges hay các món ly cốc, bình hoa bằng pha lê sản xuất vùng Vosges. Riêng hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh có thể mua những món tơ lụa do người Pháp chế tạo để may mặc.
Quân vốn có tình lý đồng cân từ bẩm sinh. Từ thuở hoa niên đến tuổi thanh xuân, chàng chỉ mơ mộng lai rai, chơi đàn qua quít, yêu đương sơ sịa, si tình phơn phớt để cuộc sống thêm đôi chút hương vị đậm đà, để ý tình thêm dịu ngọt. Chàng không để tâm trí mình lún sâu vào bất cứ công việc gì ngoài việc học hành. Chàng cũng không mơn man một lý tuởng nào hoặc một mục đích thuộc về tinh thần nào để khỏi bị mắc kẹt mà không thể tháo gở dễ dàng, không thể rút ra trơn tru. Cho nên khi trò chuyện tương đắc với hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh rồi, tự dưng chàng có linh cảm rằng đây là hai kẻ đam mê nồng nhiệt, sống chết với cái ảo tưởng mà họ lầm cho là cái lý tưởng. Cái ảo tưởng đó sẽ biến họ thành kẻ cuồng tín, nếu không nguy hiểm thì cũng dở hơi.
 Hai chị rất say mê nhân vật Dũng trong quyển Đôi Bạn  của Nhất Linh và hình ảnh chàng trai tóc lộng ơi bời gió bốn phương  trong bài thơ Giây Phút Chạnh Lòng  của Thế Lữ. Những ngày nhàn rỗi ở quê nhà càng làm cho hai chị ngóng đắm đuối về một phương trời xa xăm có cái lý tưởng phụng sự tổ quốc treo lủng lẳng như một thứ trái cấm. Ôi, thứ trái cấm ấy từ vài năm qua  đã quyến rũ óc phiêu lưu của lớp người trẻ chuộng lý tưởn.
Chị BăngThanh than thở:
-- Cuộc sống ở đây đều đặn quá, Quân à. Chị phải làm một cái gì mới được.
Chỉ nghĩ tới ngày tháng dồn đống trước mặt mà chị bắt rùng mình.
Chị Tuyết Anh đồng ý:
-- Ừ, chẳng lẽ chúng mình hết lo cơm sáng tới lo cơm chiều, thỉnh thoảng
làm một tảng bánh để làm quà đám giỗ cho hàng xóm hay sao? Chẳng lẽ cuộc đời chúng mình chịu đóng khung cứng ngắc nơi đây, chịu ngưng đọng như nước ao tù hay sao?
Quân cười thông cảm:
-- Nghe nói hai chị giỏi Quốc văn. Tại sao hai chị không làm thơ hay viết
văn xuôi cho vui?
Ô, lạ chưa! Cặp mắt của hai chị sáng háo hức chưa từng có! Thuở đó phụ nữ miền Nam viết văn và làm thơ chỉ có bà Mộng Tuyết (vợ nhà thơ Đông Hồ) và bà  Quỳnh Hoa (tên thật là Mai Huỳnh Hoa, vợ nhà cách mạng Phan văn Hùm). Trên nữa có bà Sương Nguyệt Ánh (con gái cụ Đồ Chiểu và cũng là bà ngoại bà Quỳnh Hoa) giỏi thi ca, khi sáng lập tạp san Nữ Giới Chung thì nổi tiếng như cồn. Ngay ở tỉnh Vĩnh Long đã có nhà thơ nữ Trần Ngọc Làu và ở tỉnh Sa Đéc có nữ sĩ Trần Kim Phụng đều nổi tiếng về thơ cảm hoài và thơ ái quốc.
Quân không ngờ lời đề nghị vu vơ của chàng cũng đủ làm niềm hứng khởi đã bèo nhèo héo úa của hai cô gái đợi chồng kia bỗng tươi biếc rườm rà ngay. Trước đó, chị Băng Thanh có một tập giấy bìa cứng vẽ đầy những hình kiểu bông thêu. Còn chị Tuyết Anh cũng có tập bìa cứng để chị ghi chép cách làm các món ăn cổ truyền... Bây giờ chị Băng Thanh sắm thêm một tập bìa cứng khác để làm tập nhật ký lẫn tập ghi chép những thiên đoản văn và tùy bút của mình. Còn chị Tuyết Anh cũng sắm môt tập bìa cứng thứ hai để chép những bài thơ do chị sáng tác. Tạp văn xuôi của chị Băng Thanh có cái bìa được phất giấy nổi vân màu hồng đan tức là màu đỏ pha màu xám trân châu. Còn tập văn vần của chị Tuyết Anh màu lam thạch tức là màu xanh pha xám nổi những chấm sao kim nhũ lấp lánh. Chị Băng Thanh dùng mực xanh để chép lại những điều ghi từng ngày có biến cố đáng kể và những đoạn văn cảm hứng đẹp như thơ trên tờ giấy nháp, bởi thế  nên cách trình bày trang nhật ký rất sạch sẽ và ngoạn mục. Còn chị Tuyết Anh cũng làm thơ trên các trang giấy nháp trước khi chép vào tập thơ bằng mực tím tươi và bằng lối chữ nắn nót.
Mùa hè chỉ mỏng bớt có hai tuần. Giữa lúc Quân trút bao tâm cơ vào cuộc ve vãn Thu Cảnh thì hai chị miệt mài sáng tác lai láng như nước sông mùa mưa. Họ không còn thấy ngày tháng mênh mông cuốn hút họ vào cái trống rổng bát ngát đến rợn ngợp và chới với nữa. Dù viết văn xuôi hay sáng tác văn vần, hai chị đều theo chủ trương văn dĩ tải đạo, chứ không ghi chép niềm rung động trữ tình nào, không để  cho một thoáng gió lãng mạn mong manh  nào lọt vào câu văn hay câu thơ của họ. Chị Băng Thanh sưu tầm thi ca các nhà ái quốc cận đại như Nguyễn Đình Chiểu, Phan văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và của nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục vào một tập giấy thứ ba của mình đuợc Quân vẽ hình hai bà Trưng cuỡi voi ở bìa. Chị Tuyêt Anh dùng màu huyết dụ tô lên hàng chữ kẻ trên vuông giấy bristol có màu trắng bóng như men sứ:
Phấn son tô điểm sơn hà
Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam.
Quân ráo riết ve vãn Thu Cảnh khi về quê nghỉ hè đuợc hai tuần. Thu Cảnh bình thản đón nhân tình yêu của anh bạn hàng xóm, không vồ vập nồng nàn mà cũng chẳng uể oải thờ ơ. Nhưng trong đáy mắt cô, một ánh xán lạn ngời ngời chiếu ra làm sắc mặt cô rạng rỡ, làm nụ cười cô càng đậm đà hẳn lên. Thu Cảnh ngây thơ, hiền dịu, hơi ngu ngơ, nhưng vẻ mặt thật trong sáng và thật phiêu hốt. Cô vô tư đến độ như một mẫu người nguyên sơ, cho nên có kẻ bảo cô hơi ngu đần. Nhưng chính ở cái ngây ngô thánh thiện của cô làm cho tâm hồn Quân rạng ngời một thu ánh sáng lạ lẫm, làm cho trái tim chàng ấm áp với một ý tình khó diễn tả mỗi khi chàng trò chuyện và tiếp xúc với cô.
Thu Cảnh sớm mồ côi cha. Gia sản của thầy Hương hào Trần Sĩ Hiệp khánh kiệt vì sự bê tha trụy lạc của thầy. May mà thầy còn chừa lại cho hai mẹ con cô mười mẫu ruộng, một mẫu vườn và nếp nhà một gian hai chái để hai mẹ con cô sống đấp đổi qua ngày. Dạo gần đây, thím Huơng hào Hiệp gọi cô em gái góa chồng của mình về ở chung.. Đó là cô Lan Chi, tuổi vừa ba mươi, có một đứa con gái lên năm. Hai chị em bày ra việc làm bánh xếp và bánh xùng đem bán ở chợ Cầu Lầu. Thu Cảnh vừa đỗ bằng sơ học rồi ở nhà phụ giúp dì cô xay bột để làm bánh. Ngoài ra cô còn lo việc bếp núc và quét dọn từ nhà trong tới ngõ ngoài.
Thu Cảnh rất được lòng hai chị Băng Tâm và Tuyết Anh. Nụ cười hơi ngơ ngác và nét mặt hơi khờ khạo của cô luôn hóa giải những nỗi sần sượng và gút mắc trong lòng những kẻ xung quanh trong đó có hai người chị họ của Quân. Cô yêu mến tất cả mọi người, nhưng không tỏ vẻ bám víu tha thiết với bất cứ ai. Cô hay giúp đỡ mọi người bằng tấm lòng tận tụy hiếm có. Cô không đua đòi, không so sánh mình với bất cứ ai. Cô sử dụng triệt để những vật gì đã nắm bắt trong tay và không bao giờ ao ước nhũng gì của kẻ khác.
Gia đình thím Hương hào Hiệp ăn uống thanh đạm, có khi cả tháng ròng họ mới ăn được thịt heo. Họa hoằn lắm họ mới mổ gà mổ vịt. Có lần Quân đến thăm Thu Cảnh vào lúc thím Hương hào Hiệp và mẹ con cô Lan Chi đi ăn giỗ ở cuối làng Long Thanh. Thu Cảnh mua một mớ cá mồng gà lụn vun tuy không ươn, nhưng không còn tươi lắm. Nhưng cô biết cách ngâm cá vào nước lạnh pha muối để cá tươi hơn và cứng mình lại. Cô nấu cơm bằng gạo nàng quớt thô tháp và không đuợc trắng lắm trong cái om đất nhỏ. Cá không được kho bằng nước mắm ngon mà chỉ kho bằng tương hột. Vậy mà cơm vẫn dẻo bùi, cá kho vẫn thấm tháp ngon lành với gia vị nêm nếm vừa vặn. Đặc biệt nhất là rổ rau hoang dại gồm rau dừa, rau nhút, rau đắng biển, rau mác xanh tươi mòng mọng để chấm vào nước cá kho và vào mắm nêm dầm tỏi ớt.
Hôm đó Quân được Thu Cảnh mời dùng cơm. Món ăn tuy thanh đạm, nhưng vì lạ miệng nên chàng ăn ngon lành; nhất là khi chàng ngắm niềm vui an phận rạng chiếu trên khuôn mặt của Thu Cảnh. Chắc chắn cô thiếu nữ dễ thuơng nầy hoàn toàn hạnh phúc với hoàn cảnh hiện tại. Cô không chỉ chấp nhận nó bằng sự lạc quan hồn nhien đâu, mà cô còn nếm tất cả mật ngọt kỳ diệu ẩn trong đời sống nữa. Cô tận hưởng món ăn trong miệng nhai như tiếp nhận một ân sủng, không ngẩng cổ lên cao để cầu xin Thuợng Đế thêm một hồng ân nào khác nữa.
Thu Cảnh ăn chay mỗi tháng 10 ngày. Gặp hôm hết tương, chao, tào hủ, mì căn, cô hái rau giền, rau muống, đọt lang và đọt mì  đem luộc để chấm muối ớt vắt chanh. Vậy mà cô vẫn ăn uống ngon lành, mắt lóng lánh một niềm vui kỳ diệu, trở nên đẹp khó tả. Thỉnh thoảng hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh có làm bánh xèo và đúc bánh khọt thường kêu Thu Cảnh qua ăn. Cô trầm trồ suýt soa từng thứ bánh, ăn bánh một cách thống khoái hả hê để rồi sau đó cô không hề nhắc nhở tới nó và ao ước đuợc ăn lại. Ở cô, Quân có cảm tưởng rằng cô chỉ nắm bắt cái gì đang xảy đến, không hề nhìn quãng đời sau lưng hay mường tượng những gì sẽ đến. Cô sống ngoan ngoãn, đơn giản và hạnh phúc như con chim tu hú phải véo von khi gió xuân về, con cá phải tung tăng bơi lội, con ve phải ca hát vào mùa hè nắng ấm, không thể khác hơn.
Mùa hạ, cây ô-môi bên lạch nước trổ bông màu hồng đào ửng ánh tim tím, những cây sung nằm vắt qua ao trổ những chùm trái tròn trĩnh dễ thương. Thu Cảnh ngỏ ý với Quân:
-- Ở đây vui quá, anh Quân à. Em yêu mọi nơi trong cuộc đất xóm mình. Em
thấy cái gì cũng ngồ ngộ dễ thuơng, thấy ai cũng có nhiều cái đáng mến. Chẳng hạn như cây sung nầy, những khóm sen trong ao kia. Lại còn những cây dương, cây sao cao vút ở cuối xóm nữa. Và anh có thấy mấy phiến đá ong ở bên cạnh ao bắt đầu đóng rêu xanh biếc và cả tảng đá xanh nằm dưới gốc cây da xà buông rể thướt tha từ cành to nhánh nhỏ không anh? Cái gì cũng làm em thích ngắm tới ngắm lui. Em yêu thích mọi thứ vừa kể mà không hiểu tại sao mình yêu thích. Mà hiểu để làm gì, hả anh? Nếu mình yêu thứ gì thì hãy ngắm nó, không cần nó phải thuộc về mình. Nhưng mà nầy anh, hồi xưa chỗ tảng đá xanh là chỗ của những cái hỏa lò bể, những đồ gốm bể. Sau đó, má em dẹp hết để đặt tảng đá xanh mà má cho rằng đó là Ông Tà mà má phải thờ phụng để ông ta ban phước cho mình. Lúc đầu, em cảm thấy buồn buồn tiêng tiếc những món đồ bể đã từng quen thuôc với cặp mắt em, với tâm tình em. Nhưng tiếc những cái gì mà mình không thể lấy lại để làm chi? Cho nên sau đó, mỗi khi ngắm nghía tảng đá xanh kia thét rồi em cảm thấy nó gần gũi mình, và em cũng thích nó như đã từng thích những món đồ bể kia. Thì ra, nó dần dần quen thuộc với em từ lúc nào mà em cũng không hay.
Lúc Thu Cảnh nói, cặp mắt cô đẹp dễ sợ, sắc mặt tươi nhuận và xán lạn dị kỳ như thu hút mọi cái đẹp chung quanh. Giọng cô mỏng và thanh. Cô là mẫu người tuy không quá trái ngược với hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh, nhưng có vô số điểm khác với họ. Quân tuy không hiểu những gì Thu Cảnh nói, nhưng khi nhìn nụ cười âu yếm của cô cùng sắc mặt thần tiên phiêu dật của cô, chàng biết rằng nơi nội giới bao la thăm thẳm của cô có một niềm thân ái thật mầu nhiệm, trong mát  làm chàng có cảm tưởng như  đuợc tuới tẩm  bằng dòng sương ngọt trong tịnh bình của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Chàng thừa hiểu rằng về vấn đề nội tâm tràn ngập ánh sáng tâm linh kia, làm sao Thu Cảnh diễn tả trọn vẹn và minh mạch những điều cô cảm nhận. Nhưng cô cần phải nói với Quân vì cô tin cậy Quân. Và vì chỉ ở Quân thôi, cô có thể gửi gấm thông điệp nội tâm của cô.
Rồi mùa hè năm 1942, hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh hẹn hò cùng lũ bạn đồng tâm đồng chí đến suối Lồ - để cắm trại, để nghe nhóm Lưu Hữu Phước, Mai văn Bộ và Huỳnh văn Tiểng diễn thuyết về vận hội mới của thanh niên trước cao trào giành lại chủ quyền cho dân tộc. Khi về tới nhà, tinh thần hai chị bừng bừng phấn khởi và họ sẵn sàng nhập vào đại cuộc để giai phóng dân tộc ra khỏi ách nô lệ của bọn Thực dân Pháp. Họ được thầy lục sự Thông bên chợ tỉnh dạy hát những bài cổ súy lòng yêu nước của Lưu Hữu Phước như Thanh Niên Hành Khúc, Lên Đàng, Xếp Bút Nghiên, Hội Nghị Diên Hồng, Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Khúc Khải Hoàn...
Về sau, Quân không lấy làm lạ, khi Việt Minh lên nắm chánh quyền, hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh gia nhập vào Phong Trào Thanh Niên Tiền Phong một cách hăng hái. Chị Băng Thanh giữ chứ Chủ tịch Hội Phụ Nữ Tiền Phong, còn chị Tuyết Anh không mấy hài lòng khi được cấp trên giao cho chức Phó chủ tịch. Nhưng chừng một tuần lễ sau, chị vận động để nắm chức Chủ tịch Hội Hồng Thập Tự. Hai hội này ở ngoài chợ tỉnh. Hai chị có quen tên Bảy Việt giữ chức Trưỏng ban Quốc Gia Tự Vệ Cuộc cũng ở ngoài tỉnh, nên vận động với y ta để đẩy anh Khiết vào ngành đó với chức vụ truởng toán. Ghê thay, ngành Quốc Gia Tự Vệ Cuộc bắt bớ, thủ tiêu hoặc xử tử  quá nhiều, quá bừa bãi những người địa chủ, những kẻ mà họ nghi làm tay sai cho Thực dân Pháp. Cứ cách vài ngày là có Tòa Án Nhân Dân đem ra đấu tố và hành quyết những kẻ mà họ bắt giam. Khiết bị khủng hoảng tinh thần trở nên điên khùng, ngày tối cứ tìm góc tối, nói lẩm bẩm một mình.
Chẳng bao lâu, Việt Minh đổi danh xưng Thanh Niên Tiền Phong thành lực lượng Nông Công Dân Cứu Quốc Đoàn. Hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh hăng hái xé lá cờ Thanh Niên Tiền Phong với nền vàng ngôi sao đỏ để treo lá cờ nền đỏ ngôi sao vàng và lá cờ nền đỏ nổi hình búa liềm vàng trên mái nhà.
Ít lâu, Pháp tái chiếm Nam Kỳ, chính phủ Việt Minh do Trần văn Giàu cầm đầu dời bản doanh về Vĩnh Long. Thế tái chiếm mau như chẻ tre. Cuối cùng lực lượng Việt Minh phải rút vào bưng biền. Chị Băng Thanh và Tuyết Anh rút vào Cái Ngang, thuộc huyện Tam Bình và thuộc Khu 8 do Việt Minh chiếm đóng. Bác Hai Chức  lại bị bọn Phòng Nhì (Phòng Tình Báo) của Pháp cho đòi lên thẩm vấn, bị đòn nhừ tử, may có người em vợ của bác có quen với tên quan ba  (đại úy) phó trưởng phòng can thiệp nên bác được phóng thích. Anh Khiết vẫn dở điên dở khùng, dở tỉnh dở mê. Cha của Quân vẫn bám riết mảnh đất nhà. Lính tập có xây đồn bót ở vàm rạch Cầu Kè đổ ra sông Long Hồ. Quân sau khi thi đậu bằng Thành Chung được dạy học ở trường nam tiểu học (thuở đó gọi là Ecole des Garçons) ở ngoài tỉnh, gần Đất thánh An Nam. Chàng không dám ở vùng nửa chợ nửa quê, tuy không mấy xa phố thị như các xóm Thiềng Đức, Bánh Phồng và Cầu Kè. Chàng mướn một căn phố ở dãy phố bà Thông Vịnh, gần  Đất thánh Tây. Cho nên ít khi Quân gặp Thu Cảnh. Mối tình của cả hai chỉ là mối tình phơn phớt như lớp phấn tuyết nhung phủ mượt mà trên lá môn ngọt, lá sen. Chưa bao giờ họ hôn nhau; họ chỉ quàng tay ôm eo lẫn nhau. Thu Cảnh vẫn ở xóm Cảu Kè. Dù cả hai chỉ cách nhau 3 cây số và cách chiếc cầu sắt lót ván bắc qua sông Long Hồ, chẳng có xa xăm dịu vợi chi mấy, nhưng chuyện xa mặt cách lòng làm sao tránh khỏi?
Quân cưới Kim Mai, con gái ông bà trưởng tòa Trần Hòa Phong ở chợ Tân Ngãi. Hôm nhóm họ, Thu Cảnh có qua bên nhà ba má Quân để phụ chị Hương Khuê cùng các bà các cô họ hàng chòm xóm bên đàng trai dọn cỗ. Lúc nào cô cũng tươi cười hồn nhiên. Gặp Quân, cô khen:
-- Em có gặp chi Kim Mai vài lần. Chị ấy đẹp, ăn nói mềm mỏng, dễ thương
quá, anh Quân à.
Nụ cười của Thu Cảnh mới thần tiên làm sao! Đó không phải là nụ cười an phận, mà là nụ cười vui sướng thật sự, hồn nhiện thật sự, không một bóng mây mặc cảm nào thoáng qua, không một chút mỉa mai chua chát nào làm vẩn đục.
Không hiểu chị Tuyết Anh luồn lỏi cách nào mà xin được cái giấy thông hành do nhà việc của làng Long Châu cấp cho để tung hoành trong chức vụ công tác thành (túc là công tác giao liên ở ngoài thị thành để cung cấp tin tức cho chiến khu). Có điều khác hơn bọn công tác thành khác vốn không có giấy thông hành nên chị ngang nhiên chường mặt ở thành phố, còn họ phải lẩn lút ở các xó xỉnh, hẻm hóc trong các xóm lao động, không có bọn lính kín (tức là bọn mật thám của Tây) hay bọn lính tập lai vãng rình rập. Trong khi những tên công tác thành khác lui tới thường xuyên ở các điểm nóng (les points chauds) trong đó có các vùng xôi đậu để móc nối dân chúng cho công tác dân vận thì chị Tuyết Anh công khai về nhà, công khai đi ra chợ tỉnh, công khai đi  xe đò qua các đồn bót được xây cất trên các tuyến đường bộ, hay công khai quá giang các ghe chở hàng hóa trên những sông rạch.
Chị Băng Thanh làm việc tại Quân Y Viện  với chức vụ viện truởng  ở Giáp Nước, cách chợ Tam Bình 8 cây số. Đó là một túp nhà lá gồm một căn hai chái giữa vùng lau sậy trùng điệp. Chính chị Tuyết Anh điều động toán liên lạc viên và toán công tác thành chở thuốc men, dụng cụ y khoa cùng những thức bồi dưỡng như sữa hộp, lương khô cho các thương bịnh binh của phe kháng chiến.
Về sau, trong các vùng bị Việt Minh chiếm đóng nổi lên phong trào cấy nhau do nhà bác học Liên-xô tên là Filatov sáng chế ra. Mảnh nhau được cắt từng mụn nhỏ, được ướp lạnh để sớ nhau tiết ra chất bổ dưỡng. Các y sĩ chỉ cần tiêm thuốc tê vào bắp thịt bịnh nhân, xẻ một vạch nhỏ để nhét mụn nhau vào. Mụn nhau cấy vào thịt kia sẽ đem vào cơ thể đương sự một nguồn dinh dưỡng phong phú.
Quân y viện do chị Băng Thanh trông nom có sắm đưọc cái tủ lanh, tuy chạy bằng dầu lửa mà cũng có nước đá như những cái tủ lạnh chạy bằng điện ở ngoài thành phố. Do đó, chị tha hồ tìm nhau của các sản phụ quanh vùng để ướp chất dinh dưỡng.
Dù sợi giây gia tộc có thiêng liêng mầu nhiệm cách mấy, nhưng Quân không thích thăm viếng chị Tuyết Anh hay trao đổi thư từ với chị Băng Thanh. Họ quá sốt sắng cảnh tỉnh Quân nên bỏ nghề mô phạm trong chế độ Thực dân để đi theo phe kháng chiến chống Pháp. Bởi đó, chàng không muốn liên lạc với họ vì chàng sao đành đập vỡ nồi cơm nuôi sống cái tiểu gia đình của chàng? Họ còn muốn đào tạo Quân trở thành một người trai thời đại mới trong chủ nghĩa đại đồng của Cộng Sản nên họ chì chiết thói cầu an của Quân , đay nghiến cho vỡ tan cơn u mê chịu ách nô lệ của Quân. Và dần dà  họ trở thành những kẻ xa lạ với Quân.
Chị Tuyết Anh  nhiếc móc:
-- Bọn phong kiến cùng bọn Thực dân Pháp và bọn Đế quốc Mỹ thường nhồi
sọ quốc dân mình bằng lối giáo dục củng cố chế độ bóc lột của chúng. Coi bộ em mê man lú lậm cái cặn bã của thứ chế độ ăn cướp, phi nhân ấy tới óc não và tủy xuơng rồi.
 Chị Băng Thanh thường gửi thư bằng cách trao tay cho cậu em họ mà chị âu yếm tặng cho cái hổn danh thập phần kiều diễm là tên bồi bếp của Thực dân. Thư  thuờng lập đi lập lại những câu ý mòn khuôn cũ như:
-- Chị muốn xây dựng em thành mẫu người mới, lành mạnh hơn. Thời thế
thay đổi không ngừng nghỉ. Cuộc tiến bộ sẽ loại bỏ những kẻ có óc vong nô, tinh thần chủ bại... Vận hội mới đã đến rồi, chúng ta chỉ cần chuẩn bị tinh thần để tham gia, nhập cuộc và đóng góp mà thôi.
Bởi có tinh thần cải tiến quá cao, bởi sự vụt chạt với vận tốc mạnh bạo cho nên hai chị cào xướt tơi tả tự ái nhiều người mà họ muốn canh tân cải tiến. Trong vòng họ hàng, trong giới quen biết, chẳng mấy ai ưa hai chị. Có kẻ dám công khai đả kích  hai chị lếu láo, dở hơi, khật khùng.Thu Cảnh lúc nào cũng lắng tai nghe hai chị dạy dỗ, nghe rồi thì bỏ qua. Mà dẫu cô có hưởng ứng lời xây dựng của hai chị thì không bao giờ cô tán dương hai chị, cũng không hề đem những gì mình nghe để xây dựng lại kẻ khác. Cô thường tháp tùng chị Tuyết Anh đi Giáp Nước để thăm chị Băng Thanh.
Tuy nhiên, hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh có một vài tông đồ hết lòng chiêm ngưõng và ái kính hai chị. Đó là Kim Mai, vợ của Quân và Kim Liên, người chị kế của Kim Mai. Anh Thiện Thành, chồng của chị Kim Liên đã đi theo phe kháng chiến, sau khi anh học sinh Trần văn Ơn bỏ mạng trong cuộc biểu tình chống chế độ Thực dân. Hiện giờ anh ta hoạt động ở vùng U Minh Thượng, gần miền Cực Nam của dải đất Nam Kỳ. Vùng nầy hoàn toàn do Việt Minh chiếm đóng và kiểm soát.
Chị Kim Liên nói xóc óc Quân:
-- Giặc tới nhà, đàn bà còn phải đánh. Vậy mà có nhiều anh chàng tuy có
lưng dài vai ộng, nhưng vẫn trùm chăn ngủ kỹ giữa lúc bao người cùng kê vai gánh việc nước non. Bởi họ mê  bơ, sữa, cacao  và chocolat  của tụi Thực dân Pháp nên đành giả điếc trước tiếng gọi của tổ quốc nhân dân. Vậy mà coi được hay sao?
 Kim Mai liếc xéo chồng rồi cười gượng gạo, đỡ lời cho chồng:
--Trượng phu của em vẫn đóng tiền nguyệt liễm đều đều cho Quân Y Viện do chị Băng Thanh điều hành đó chứ. Anh  ấy còn mua thuốc men và các dụng cụ băng bó thương tích để gửi vào trong ấy đều đều. Chồng em cũng muốn đáp lời sông núi, hưởng ứng cao trào dân tộc như anh Thành. Ngặt một nỗi, anh ấy là con một của ba má chồng em. Anh ấy đâu thể bỏ nhà theo bước anh Thành được.
Chị Kim Liên đã có hai đứa con gái với chồng. Chị mang thai ở U Minh Thượng, gần ngày lâm bồn mới chịu về nhà cha mẹ. Đẻ con xong, chị giao con cho mẹ mình và vú em rồi tìm cách đi U Minh Thượng để hú hí với chồng. Bà Trưởng tòa Phong thường than thở với ba má của Quân:
-- Con Hai Kim Liên đi thăm thằng chồng nó thường lắm. Lần thăm nào
cũng dài lâu, từ chuối trồng cho tới chuối trổ, nó mới chịu về nhà vợ chồng tôi. Lần đi, nó mang theo nào cà phê, sữa hộp, cacao, bơ lạt, bơ mặn, cá hộp, hầm dĩ, khô cá sưởu... Lần về, nó mang theo cái bầu lớn cỡ trái mít nghệ. Hễ đẻ đái vừa cứng cáp xong, nó giao con cho tôi rồi sắm sửa món ngon vật lạ để đi U Minh Thượng, nạp mạng cho chồng nó. Mỗi lần mang bầu về, nó cũng mang theo lời ăn tiếng nói nghe lạ hoắc: nào là chủ nghĩa, chế độ, phong trào, nào là vận hội mới, trường kỳ kháng chiến, chống ngoại xâm...  Quỷ thần thiên địa ơi, mấy ông soạn tuồng  trong gánh Hoa Sen chưa chắc có nhiều chữ nghĩa như nó. Mà cũng lạ, mỗi khi véo von những chữ nghĩa kỳ cục đó, mặt nó hừng hực lửa giận như mấy cô đào võ trên sân khấu Phụng Hảo, Nam Phi, coi tức cười lắm chị sui a.
Kim Mai chỉ quanh quẩn ở tỉnh nhà, họa hoằn lắm mới qua xóm Cầu Kè thăm viếng cha mẹ chồng. Nhưng qua chị Tuyết Anh và chị Kim Liên, nàng biết đủ chuyện ở Khu 8 và ở Khu 9. Mỗi ngày, Quân mua ba tờ nhật báo. Kim Mai thích đọc truyện đăng từng kỳ của Ngọc Sơn, Thanh Thủy, Nguyễn Ngọc Mẫn, Duơng Hà, bà Tùng Long... Nhưng nàng cũng ghé mắt ở những bài viết về thời cuộc, những mục tin chiến sự. Nhưng nàng không tin tưởng nhưng tin thắng lợi của phe Liên Hiệp Pháp. Theo nàng, tin trên báo đời nào chịu ghi trung thực tin thảm bại của phe nầy đâu. Cho nên nàng thường thỏ thẻ thuật cho chồng nghe những tin do bọn công tác thành trong số có chị Tuyết Anh hoặc tin do chị Kim Liên hóng chuyện cung cấp. Nhưng dù vậy, Kim Mai vẫn thích cùng chị Tuyết Anh và chị Kim Liên nghiền ngãm tin tức đăng trên báo rồi diễn tả và phổ biến với bạn bè và chòm xóm theo sự đoán mò, đoán ẩu, đoán vô căn cứ của họ. Có đêm, vì bị kích thích quá độ, nàng đang nằm cạnh chồng vụt ngồi phắt dậy, mái tóc xỏa rũ rượi, mắt tóe lửa, trông nàng giống mụ Chín điên ở ngoài bến đò. Nàng gằn giọng:
-- Để rồi anh coi, tên đầu sỏ Thực dân Pháp sẽ đại bại. Các mặt trận Cao
Bằng, Lạng Sơn, Na San, Sầm Nứa  đã tỉa rụng mấy danh tướng cùng mấy danh tá thiện chiến của bọn chúng rồi. Chẳng bao lâu, căn cứ Điện Biên Phủ  sẻ bị phe Việt Minh chúng mình bứng đi một cách  trơn tru dễ dàng như húp cháo lõng.
Mỗi tháng Kim Mai chỉ dùng 20 đồng đóng nguyệt liễm cho Quân Y Viện.
Nàng có cảm tuởng mình tích cực đóng góp vào đại cuộc bằng nửa cuộc đời, nửa thân thế của mình. Mỗi lần đóng nguyệt liễm như thế, nàng bắt chồng phải ngồi nghe nàng chửi bọn Thực dân Pháp và nghe nàng công kích thói hưởng thụ xa hoa của dân thành phố. Quân chỉ biết ừ ào cho vợ vui lòng. Kim Mai tuy chửi kẻ xâm chiếm quê hương tổ quốc (sic) thật hăng, nhưng nàng vẫn thích may mặc quần áo bằng tơ lụa nhập cảng từ bên Pháp, thích trang điểm bằng son phấn và nước hoa được chế tạo bên Pháp. Chị Kim Liên cũng thế. Chị thường trầm trồ cô em của mình:
-- Eo ơi, em mặc chiéc áo dài bằng mousseline màu thiên thanh điểm bông
trắng nầy thì các cô thiếu nữ tỉnh mình trở nên mờ lu bóng sắc, hiu hắt dung nhan ngay. Con nầy lại còn tô son Roses Camélias chói bóng nữa! Càn khôn vũ trụ ơi, nó dám xài nước hoa Chanel số 5 nữa. Chết hết các hảo hán anh hùng còn gì !
Kim Mai cười ngượng ngùng. Nàng chống chế để bao che cái tật đỏm dáng se sua của mình:
-- Có phải em thích ăn diện sặc sỡ đâu. Ngặt vì em đứng bán hàng ở tiệm
bazar của ba má tụi mình, nếu em ăn mặc quá đơn sơ, trang điểm lôi thôi thì khách hàng đương thèm tới tiệm.
Và nàng vẫn tiếp tục chửi Pháp một cách hăng hái, vẫn tiếp tục mua bơ, sữa, nước chấm, thực phẩm đóng hộp từ bên Pháp nhập cảng qua... Hễ thấy ai chiên cá chẻm, cá chim, cá thu, nàng cười nụ thật dễ thương:    
-- Cá chẻm chiên rưới tương hột, cá chim chiên và cá thu chiên sốt cà sao
bằng phết bơ Bretel lên ba món cá chiên nầy có nổi hương nổi vị hơn không? Một bà nội trợ sành ăn không bao giờ dùng nước mắm pha giấm ớt để dùng làm nước chấm cho loại cá chiên phết bơ Bretel mà phải dùng Maggi mới đúng điệu. Khi ăn mì, tôi không hề dùng xì dầu mà phải dùng Viandox mới hợp khẩu vị của tôi. Thật tình, ba má tôi bạc phước mới sanh một cô con gái kén ăn như tôi.
Giữa lúc phe phụ nữ trong vòng gia tộc của Quân và trong vòng thông gia của cha mẹ Quân đang xao xuyến bồn chồn trước thời cuộc thì Thu Cảnh ung dung sống bên mẹ cô và dì cô. Cô hay đau yếu, nhưng hễ khi bịnh vừa rút lui thì cô cần mẫn lo việc nhà, lo việc trồng trọt, đầu tắt mặt tối. Vậy mà cô vẫn nở một nụ cười ngây ngô, hạnh phúc, đầy nhiệt tình, âu yếm. Mỗi khi về Cầu Kè thăm nhà, Quân thuờng đến bờ rào cuối vườn để ngắm Thu Cảnh cuốc đất đánh vồng. Cô miệt mài làm việc, áo xống ướt đẫm mồ hôi, nhưng vẻ mặt vẫn tươi rạng dưới vành nón lá rộng. Từ khi thím Hương hào Hiệp bị bịnh lớn tim, chính Thu Cảnh phải cáng đáng việc làm vườn.
Công việc liên lạc và công việc công tác thành của chị Tuyết Anh bị bại lộ. Bác Hai Chức và cha của Quân phải chạy chọt ở nhiều nơi thân cận với chính quyền địa phương để chị khỏi bị đưa ra tòa, khỏi bị giam giữ.
Nhờ quen biết với các đấng tai to mặt bự trong quân đội Liên Hiệp Pháp và trong chánh quyền địa phương nên bác Hai Chức cứu được con gái khỏi bị đòn bọng và khỏi bị tù đày. Chị Tuyết Anh về nhà với thân thể gầy khô gầy héo, với tâm thần hoảng hốt. Đêm đêm, chị thường bị ác mộng quấy nhiễu. Chị ở luôn Cầu Kè, không vào Khu 8 nữa.
Thu Cảnh đi Giáp Nước thăm chị Băng Thanh. Rủi thay, trong một cuộc ruồng bố của bọn lính thuộc lực lượng cảm tử quân ( le commando), cô bị tên đội (trung sĩ) người Pháp hãm hiếp đến độ bất tỉnh. Hắn để cô nằm bên cạnh bàu nước có những cây điên điển hoa vàng viền quanh, có những dây rau nhút nằm vắt dài trên mặt nước. Chiều tối, chị Băng Thanh mới dám từ đám lá dừa nước chui ra đem Thu Cảnh ra ngoài vàm rạch Giáp Nước, đổ từng muỗng sữa vào miệng cô, hơ lửa và xoa bóp thân thể cô để cứu sống cô.
Thu Cảnh lần hồi bình phục, vẫn giữ cảm giác ê ẩm ở hạ bộ trong một thời gian dài. Từ đó hễ ai nói tục, nói trây về chuyện giao hợp là cô tái mặt, bỏ đi chỗ khác. Tuy nhiên, cô vẫn cười ngây ngô, vẫn giữ sắc mặt trong ngọc sáng gương, vẫn không hề giấu diếm tai nạn thảm khốc của mình. Rồi Thu Cảnh có thai. Thím Hương hào Hiệp và cô Ba Lan Chi khuyên cô nên đi phá thai để mai sau cô còn có cơ hội lấy chồng. Thu Cảnh tươi cười bảo:
-- Con sợ chuyện vợ chồng lắm. Con không phá thai đâu. Bộ má và dì
không sợ mất con khi gả con cho một kẻ ở phương xa hay sao? Rồi một khi biết được chuyện bất hạnh của con, anh ta sẽ đối xử với con thế nào đây?
Thu Cảnh vui vẻ đón đứa con lai, vui vẻ cưng yêu hoạn dưỡng con. Rảnh rang, cô qua nhà bác Hai Chức để săn sóc anh Khiết. Anh vẫn tìm góc tối để lầm bầm lảm nhảm một mình.
Sau hiệp Định Genève, chị Băng Thanh được lịnh xuống Năm Căn, địa điểm tập kết để  đưa bọn Việt Minh ra Bắc, có tàu Ba-lan chở họ tận bến Hải Phòng. Nhưng không hiểu sao chị lẩn trốn để được ở lại. Nhờ Quân giúp đỡ trong việc xin giấy tờ để hợp thức hóa  trở thành công dân miền Nam nên chị có thẻ kiểm tra dưới chính thể Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Chị ghi tên vào lớp đào tạo cô đỡ hương thôn tại Bệnh Viện Vĩnh Long. Khóa học kéo dài một năm, để rồi sau khi mãn khóa, chị có thể hành nghề tại các vùng ngoại ô và vùng phụ cận tỉnh nhà. Chị Tuyết Anh học cách tiêm thuốc và nghiền ngẫm mấy cuốn sách viết về cách trị các bịnh thông thuờng để hành nghề y tá lậu song song với nghề tiêm thuốc theo toa bác sĩ. Hai chị còn hành nghề cấy nhau nên kiếm được nhiều tiền. Quân được nghe Kim Mai bảo mỗi chị chỉ trong vòng bốn năm mà sắm được 20 lạng vàng, một đôi hoa tai nạm hai viên kim cương cỡ 5 ly rưỡi, ánh nước trắng tím.
Bỗng dưng cả hai đổ đốn ăn diện thật diêm dúa, rườm rà. Dường như tự bấy lâu, họ cố tình đè nén sự ưa thích ăn mặc điểm trang để đi làm việc nước. Nhưng chuyện nước non vẫn chưa ngã ngũ ra sao khi chính phủ Ngô Đình Diệm từ chối cuộc Tổng Tuyển Cử sau hai năm đất nước bị chia đôi. Chuyện nước non thống nhất đem lại vinh quang cho hai chị trở nên xa xôi mơ hồ trong khi cái sở thích chung của phụ nữ là được tô hồng chuốc lục để trở thành đối tượng quyến rũ đối với phái mạnh vụt trổi dậy bất ngờ ở họ. Những cơn thèm khát đàn ông, những ý nghĩ báo thù thuở sống vì nước vì dân mà phải chịu ăn mặc sồi vải, phải lánh xa son phấn,  nước hoa, nữ trang làm họ hơn lúc nào hết trở nên ham sống cho chính bản thân mình, thúc đẩy họ phải tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình. Họ cần phải bận bịu việc chăm sóc dung nhan để khỏi quên mình vẫn còn là phụ nữ, để được đàn ông mơ ước thèm thuồng, để  được sống theo cái bản năng mà Tạo Hóa dành riêng cho giống cái.
Hai chị vẫn tiếp tục nói xấu chính phủ quốc gia ở miền Nam, vẫn thóa mạ chủ nghĩa tư bản của Đế Quốc Mỹ (sic), nhưng vẫn không quên nhung gấm, phấn son, kim cương, ngọc thạch... Nhưng mà, tuổi xuân của họ đã trôi qua mất tự bao giờ. Gái không con thì vẫn chưa già theo số tuổi. Nhưng vì không chồng, không tình nhân, nên họ không được hưởng sự trao đổi tình cảm và nhục cảm với người khác phái để tìm gặp những giây phút mê ly nồng nàn thắm đượm. Như thế làm sao họ tươi mát, nuột nà được? Với thân xác không được tưới tẩm ân sủng của người yêu, với tâm tình táo bón, cả hai trình bày với người xung quanh một tấm chân dung chát ngầm và vẻ mặt cau có bất an.
Bao năm gối đất nằm sương ở chốn bưng biền, chị Băng Thanh mang chứng phong thấp. Chị lại còn mang chứng đau gan, hậu quả của chứng sốt rét kinh niên dù chứng sốt rét kia đã  được trị tuyệt nọc đi nữa. Còn chị Tuyết Anh trước đó vì bị đòn bọng khảo tra nên cũng nay ốm mai đau với những chứng bịnh khó hiểu.
Vợ chồng bác Hai Chức lần lượt qua đời. Anh Khiết vẫn còn điên dại. Nhưng tuy điên mà anh rất hiền, không hò hét chửi rủa ai bao giờ. Hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh vẫn săn sóc anh chu đáo. Còn Thu Cảnh đôi khi còn dắc anh đi tiêu, đi tiểu, lại còn can đảm  tắm gội cho anh, giặt rũ quần áo cho anh mỗi khi anh lỡ phóng uế trong quần.
Nhưng một hôm nọ, anh Khiết có vẻ bừng tỉnh cơn điên. Anh đòi hai chị mua cho anh một tập giấy dầy. Suốt 3 tuần lễ, anh cứ ghi ghi chép chép lăng nhăng lít nhít hết cả quyển vở bằng lối chữ rối rắm. Những bài viết thường đệm thêm những câu văn bí hiểm với những ngôn từ không có trong tự điển, trong các thổ ngữ, trong các tiếng lóng. Quyển vở vừa ghi chép ý tưởng của kẻ có vẻ vừa tỉnh cơn điên xong, thì anh từ trần, sắc mặt đẹp và trong sáng như sắc mặt thiên hần, nụ cười thập phần phiêu dật. Trong lúc phe phụ nữ gồm hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh, thêm hai chị Hương Khuê và Kim Liên cùng với Kim Mai xúm lại quanh giuờng anh than khóc kể lể thì Thu Cảnh nấu nước hương nhu  để cùng Quân tắm gội thi hài của anh, mặc quần áo đẹp cho anh, vẻ mặt cô hồng hào tươi nhuận như thường lệ. Cô khuyên mọi người:
-- Em rất vui lòng. Anh Khiết chết một cách sung sướng! Các chị nên mừng
cho anh ấy mới phải.
Vậy là ngôi nhà từ đường của ông Cố Hai thuộc về hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh. Đêm đêm, hai chị mở tập giấy của anh Khiết ra đọc, đoán mò từng câu văn. Rốt cuộc, họ tưởng chừng đó là những cái thai đề hay những bài sấm ký. Anh Khiết khi còn tỉnh táo và lành manh thì rất lu mờ nhạt nhẽo. Cơn điên loạn vùi anh trong bóng tối huyền bí, tạo cho anh nhiều huyền hoại lý thú. Bởi đó họ hàng và láng giềng cứ đoán già đoán non, cho rằng anh bị ma dựa quỷ ám hoặc bị hồ ly tinh hớp hồn. Và rồi cái chết cùng tập di cảo của anh dệt thêm cho những thiên huyền thoại ấy nhiều đường chỉ rùng rợn, thêu thêm những bông hoa quái đản, kích thích óc tưởng tượng những người quen biết.
Căn nhà rộng với hai cô gái già. Xế xế, gặp lúc nhàn rỗi, họ nhìn bóng nắng vàng úa ngả dài qua sân, lắng tiếng gió xao xuyến ở ngoài vườn và trên cây hoàng lan, trên cây bằng lăng, ngọc lan, mộc lan bên hè. Mặt họ buồn bã, lãnh đạm. Nhưng mỗi khi nhận một thiệp cưới trong giới quen biết, mặt họ vụt trở nên thách thức, ngạo mạn một cách khó hiểu.
Rồi có tin đồn chị Băng Thanh dan díu với chú Chệt Xương Ký có chành lúa ở ngoài Càu Dài, túc là ở vàm sông Long Hồ đổ ra sông Cổ Chiên; ông ta vốn góa vợ từ  2 năm qua. Lại có tin đồn chị Tuyết Anh tằng tịu với thầy Hương thân Mẹo. Hư thực vốn mờ mờ nhân ảnh nên Quân không dám tin lời đồn đãi. Chàng vẫn thấy ngôi nhà từ đường của ông Cố Hai lạnh tanh, vẫn thấy hai chị luôn xéo xắt cay cú như tự xưa giờ... Rõ ràng họ không hạnh phúc. Chị Băng Thanh lại có cặp mắt ác độc: nhìn bất cứ cô gái nào, chị cũng thấy họ nếu không đĩ lộ thì cũng đĩ ngầm. Chị chì chiết:
-- Coi có được không chớ! Con Bạch Lựu hễ thấy bóng dáng đàn ông là nó
bắt đầu chỉnh đốn bộ điệu : giọng nó đang ong óng điếc tai điềc đít bỗng êm dịu lạ kỳ. Khi nói chuyện là nó ưa chớp lia chớp lịa cặp mắt. Nó lại còn làm ra dáng điệu khép nép nữa chớ. Cái đoan trang thùy mị giả tạo đó vốn là thối thân tánh đĩ ngầm, chớ còn gì nữa ? Còn con Ngọc Nga hễ mỗi khi bạn trai của anh nó tới viếng nhà là nó thấp thoáng ra vào, ỏn a ỏn ẻn chọc bọn họ cười, rồi thết đãi trà bánh cho họ ăn ngập mặt lút mày. Con nầy thuộc hạng đĩ lộ, lẳng sao mà lẳng nhức lẳng nhối, không hề che giấu cái thói muốn chồng thèm trai của nó.
Còn chị Tuyết Anh hễ gặp anh chàng nào ở ngoài chợ hay ở dọc đường dọc sá mà chịu tiếp chuyện với chị hay ngó chị chăm chú là chị đổ hô đương sự si mê chị. Chị véo von :
-- Quỉ ơi, hôm qua, tôi vừa mặc áo nhung tím bước ra khỏi cổng thì gặp thầy
ký Đằng. Sum la vạn tượng ơi, thầy ta ngó tôi một cách khờ khạo đờ đẫn... khiếp lắm, hãi lắm, bà con ơi! Thấy cặp mắt gian tà dịch vật của đương sự, tôi rét lắm, run lắm! Trước khi mau chân bước đi, tôi thấy rõ ràng thầy ta thất vọng, không sao che giấu được. Còn thầy giáo Bính, mười lần đủ chục, khi y ta gặp tôi là cặp mắt y ta lộn thinh như mắt cá uơn. Bởi y ta quá si mê ngốc nghếch tôi nên miệng lưỡi y ta tê liệt, không nói được câu nào. Trông cũng tội ! Bởi không thương yêu  say đắm y ta nên tôi không thèm an ủi khuyên lơn y ta đó thôi.
Cũng có vài lần, Quân gặp chú Chệt Xương Ký hoặc thầy Hương thân Mẹo tại nhà hai chị. Chệt Xương Ký hiền lành, phúc hậu. Còn thầy Hương thân Mẹo thì lực lưỡng, khôi ngô. Vậy thì lời đồn đãi về chuyện tình cảm riêng tư của hai chị không hẳn là vô căn cứ. Nhưng cớ sao gương mặt hai chị vẫn nghiêm khắc, cái nhìn của họ vẫn lãnh đạm, nụ cười của họ vẫn gượng gạo? Càng lớn tuổi, họ càng khó tánh hơn, càng chăm sóc nhà cửa sạch bóng như lau như ly. Một cọng rác là kẻ thù của họ. Một hột bụi là kẻ nghịch của họ. Không có tôi tớ nào ở với họ lâu. Không ai có thể làm gì vừa lòng họ.
Chị Băng Thanh và chị Tuyết Anh rất yêu thương Thu Cảnh, thường giúp đỡ cô. Ngoài thuốc thang, tiền bạc, họ còn săn sóc cô mỗi khi cô đau yếu vì dù sao họ cũng biết cách trị liệu hơn dì Ba Lan Chi. Thu Cảnh hễ mỗi khi gặp cơn trái gió trở trời là ngã bịnh. Thân cô càng mỏng, vai cô càng gầy, nhưng cô can đảm gánh vác việc mưu sinh phụ giúp dì Ba Lan Chi như gánh vác cả hệ lụy bằng một thái độ dũng cảm, bằng một quan niệm khắc kỷ tuyệt vời với nụ cuồi thanh thản bất tuyệt mỗi khi cô tiếp xúc với bất cứ ai. Đó có phải chăng là thái độ đối phó hiếm có của cô trước cái ác quả mà cô đã tạo cái ác nghiêp từ hồi iền kiếp và cô chỉ có cách là phải trả cho sạch nghiệp trong kiếp nầy?
Trong cuộc nội chiến Quốc Cộng,  hai đứa con trai của Quân đã bỏ mình trên chiến truờng An Lộc, trong mùa hè đỏ lửa, năm 1972. Kim Mai trở nên ngốc ngếch  khờ dại vì hai nhát búa định mệnh thảm khốc giáng xuống đời mình một cách thô bạo. Chính Thu Cảnh săn sóc nàng như săn sóc một đứa trẻ. Cô khuyên lơn an ủi nàng, nhưng đầu óc và thần kinh nàng trở nên tê liệt rồi. Năm sau, Kim Mai từ trần.
Trước ngày miền Nam rơi vào tay Cộng Sản một tháng, Quân chết vì binh hoại huyết. Trong những ngày nằm chờ chết, không hiểu sao chàng nghĩ rất nhiều về hai người chị họ của mình? Và về Thu Cảnh nữa. Cuộc đời về sau của hai chị vẫn là một chuỗi buồn thảm, hết thất vọng nầy sang thất vọng khác. Hai chị đi làm lịch sử, nhưng không có tài khua động lịch sử. Lý tưởng không giúp họ tạo được một danh vọng lẫy lừng nên họ đâm ra dở hơi. Chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh kết liễu, một trang đời của họ bị lật qua. Tuổi xuân của họ đã mất. Họ không tìm được ý trung nhân, không được làm vợ và làm mẹ đúng theo hoài bão của đa số phụ nữ.
Và Thu Cảnh đó, ai biết được cô nghĩ gì, có nhân sinh quan ra sao ? Nhưng tại sao cô vẫn giữ được nụ  cười trước sau như một ? Tuy tự hỏi, nhưng Quân không cần câu trả lời, không cần câu giải thích. Do một trực giác kỳ diệu, Quân tin rằng Thu Cảnh luôn luôn hạnh phúc. Mà thật vậy, dù cô có sức khỏe mong manh, dù cô phải chật vật kiếm sống, nhưng lúc nào vẻ ngây ngô hồn nhiên cùng thần thái phiêu hốt thoát tục của cô cũng đem lại cho người xung quanh một một niềm an lạc tươi mát chưa từng có.
Thím Hương hào Hiệp qua đời. Cô Ba Lan Chi vẫn bán bánh xếp bánh xùng như cũ. Con Lan Hương, ái nữ của cô đã ngồi lớp Đệ nhất A trường Tóng Phước Hiệp và thi đậu Tú Tài I. Vào ngày 28 tháng 4 năm 1975, nó theo người tình Trung Úy Hải Quân di tản qua đảo Guam. Ít lâu, nó cùng chồng bảo lãnh mẹ qua Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ O.D.P. Thằng Âu, con  trai của Thu Cảnh học chưa hết phần Trung học Đệ nhất cấp thì quốc nạn xảy đến. Nhưng nó cố gắng chạy giấy tờ theo diện con lai, rồi cũng được cùng mẹ sang định cư bên Pháp. Song đó là  hai chuyện về sau, bắt đầu sang thập niên 80.
Trước đó, chị Băng Thanh cho Thu Cảnh mượn tiền mua tiểu thuyết về cho mướn. Nhưng hễ rảnh rang là Thu Cảnh chăm bón mảnh vườn nhà. Đó không chỉ là chuyện để cô kiếm hoa lợi, mà là thú giải trí của cô. Từ bẩm sinh, cô yêu cây cỏ cùng thiên nhiên Tạo vật. Đã bao phen cô bị bịnh thập tử nhất sinh, nhưng cô không chết. Cô vẫn sống để gửi cho người xung quanh và cho cuộc đời nụ cười bát ngát niềm lạc quan và sáng ngời ý nghĩa âu yếm, thanh thản của mình. Cô có thể cuốc đất đánh vồng, săn sóc vòi dưa dây mướp trong lúc cô đang hâm hấp sốt. Vừa khi cơn bịnh trên đà rút lui, dù tay chân còn yếu ớt, cô vẫn ra vườn để khơi ngòi, tháo nước đọng tràn lênh láng khỏi vũng ra ngoài dòng rạch, để cứu mấy cây đu đủ khỏi chết vì úng thủy. Cây ăn trái và rau dưa do cô châm bón đều sum suê thịnh mậu. Thằng Âu do mẹ hoạn dưỡng chu đáo nên có lưng dài vai rộng, thể chất cường tráng, lành mạnh. Nó đẹp trai, ăn nói có duyên, lại chăm học, và không bao giờ giấu diếm cái căn nguyên éo le của mình cùng cái thảm kịch đen tối của  mẹ mình.
Nghề cấy nhau chỉ tồn tại 4 năm đầu trong chế độ Đệ nhất Cộng Hòa. Từ năm 1956, những kẻ tin tưởng phương pháp dưỡng sinh kỳ quặc đó lơi dần và âm thầm xa lánh hẳn.. Nhưng hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh vẫn không đầu hàng cảnh ngộ. Họ mướn bằng cấp của một mụ dược sĩ ở Cầu Bà Điều để mở nhà thuốc Tây ở bên hông chợ tỉnh. Họ vẫn làm ra tiền. Họ cũng có bạn trai để giải sầu cô độc. Chú Chệt Xương Ký tâm sự với Quân:
-- Cô Hai tuy không lược lẹp, nhưng ngộ thương cổ lắm lớ. Hễ cổ chịu là ngộ
cưới cổ liền lớ. Không piết tại xao cổ dùng dằng dục dặc không chịu lấy chồng Chệt lớ. Chệt như ngộ cũng có ăn học tới pực Kao Chung (Cao Trung), cũng piết cưng dợ lắm chớ. Chồng Chệt piết cưng dợ, có cơ xở mần ăn thi pảnh cũng như chồng Duyệt Nàm (Việt Nam) lớ.
Thấy Hương thân Mẹo buồn bã bảo Quân :
-- Tuy tôi lớn hơn cô Ba 9 tuổi, lại không giàu, nhưng tôi có cơ sở làm ăn,
có lợt tức hằng tháng. Bởi cô ấy là kẻ tân học, còn tôi chỉ là một cựu hương chức trong ban hội tề hồi trào Tây thì kể như dân đàng cựu rồi. Cho nên cô Ba không chịu làm vợ tôi, mà lại chọn  cách sống già nhân ngãi non vợ chồng với tôi để khỏi hổ mày thẹn mặt với họ hàng lối xóm.
Rõ ràng hai chị không hạnh phúc trong tình yêu vì hạnh phúc ấy không ở chỗ hai chị ngước lên cao mà ở chỗ hai chị phải cúi xuống để tầm nhìn được xuyên vào nơi sáng suốt và thấu đáo hơn. Cho nên chữ phúc  không hề hiện hữu suốt chiều dài của cuộc đời họ.
Về sau, chị Băng Thanh có thêm nghề xem chỉ tay, chị Tuyết Anh có thêm nghề bói bài Tarrot. Họ làm chơi mà ăn thật. Tiền bạc đối với họ sao mà dễ kiếm. Còn một tấm chồng tân học và hào hùng như chàng Dũng trong quyển Đoạn Tuyệt của Nhất Linh chắc hai chị chỉ tìm được ở kiếp lai sinh nếu kiếp nầy nếu hai chị tu kỹ.
Sáng nào, hai chị cũng thuật cho nhau nghe những cơn chiêm bao trong đêm qua của mình, rồi mở cuốn Đoán Điềm Giải Mộng  ra nghiên cứu. Họ thường đi chùa Bảy Phủ ở Cầu Đào (thờ Đức Quan Thánh Đế Quân), chùa Minh Hương ở Cầu Dài (thờ Đức Thiên Hậu) để xin xâm. Họ không mấy tin tưởng nghề xem chỉ tay và nghề bói bài của mình. Đôi khi họ ngồi xe thổ mộ lên Cầu Cái Cam để cầu đồng cốt, để biết việc tương lai gần cũng như việc tương lai xa.
Càng về già, hai chị càng thích là nũng với cuộc đời. Mỗi khi Quân tới thăm, chị Băng Thanh thế nào cũng có thêm vài chứng bịnh mới để kể cho chàng nghe. Nếu Quân tỏ vẻ quan tâm săn sóc tới chị, dù bằng lời nói phất phơ đi nữa cũng đủ làm cho gương mặt chị hoan hỉ rạng ngời. Và chị thết đãi cho chàng cơm gà cá gỏi hay bánh trái ngon lành.
Còn chị Tuyết Anh có tật tự kỷ ám thị kỳ quặc. Hễ ai nói tới bịnh gì thì chị có cảm tưởng cơ thể mình ngầm chứa mầm mống của chứng bịnh ấy. Hễ nghe nói tới bịnh lao phổi, chị có cảm tưởng ngực mình nặng trìu trịu, phổi mình đang rách te tua, mình sẽ ho rách cổ họng và sắp thổ huyết dầm dề chứ không chơi. Hễ nghe ai nhắc tới những người cùi là chị có cảm tưởng da thịt mình vừa đau vừa ngứa ngáy, sắp nứt nẻ để nước vàng và máu độc chảy ra lai láng.
Trên giường chờ chết, Quân ngẫm nghĩ rất nhiều về cuộc sống của những kẻ xung quanh. Chẳng ai mà chẳng có nỗi khổ tâm riêng. Nhưng đối với cái khổ, người đời có một trong hai thái độ tương phản qua Thu Cảnh cùng qua hai chị Băng Thanh và Tuyết Anh. Chàng mường tượng lại nụ cười của Thu Cảnh. Và khi khép rèm mi lại, chàng thấy từ nụ cười của cô, một nguồn ánh sáng trong mát chiếu lên khuôn mặt cau có hậm hực của hai bà chị họ mình. Lòng chàng vụt êm ả và sảng khoái lạ thường. Chàng như thấy dưới nguồn chiếu rọi ở nụ cười Thu Cảnh, vẻ đau khổ và bất an của hai chị phai dần để trở hành khuôn mặt xán lạn dịu hiền chưa từng có. Rồi trên khuôn mặt hai chị, nụ cười tươi tắn và thoải mái nở rộng để hòa nhập vào nụ cười thần tiên của Thu Cảnh.
Quân chết đi, thất khiếu chàng xuất huyết dầm dề. Nhưng mà lạ chưa, trên khuôn mặt khắc khổ của chàng, nét mỉm cười đẹp tuyệt vời như ghi dấu ấn giấc ngủ thiên thu của chàng đầy những cơn chiêm bao lộng lẫy.
 
Hồ Trường An

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013