Thi Ảnh

Văn

Văn

Nắng Về...* Hồ Trường An

Nắng Về Theo Bướm Lạ
 
Cụ Thông bà vốn là chị của bà cụ Bắc. Cụ có hai cô con gái đồng trang lứa với Thắm. Cụ Thông ông khi di cư vào Nam mang theo chứng bịnh suyễn. Khi gia đình cụ thiên cư về vùng Cái Sắn thì cụ ông chết vì cái bịnh dị ứng đó. Người nhà chở cụ ra Trạm Y Tế quận mà vẫn cứu sống cụ không kịp.
Nhận thấy mình ngoài em gái và cháu gái ra thì chẳng còn ai thân thích, cụ bà đem hai cô con gái là cô Hồng và cô Lam về Vĩnh Long để gần gũi em gái và cháu gái của mình. Nhưng cụ không chịu ở xóm Bánh Phồng đâu. Cụ mua một ngôi nhà ở xóm Thiềng Đức vì theo cụ nhận xét thì ở đây nhà cửa đông đúc, lại gần cầu sắt bắc qua bên kia thành phố. Tuy cụ nói vậy, nhưng cụ Bắc thừa biết chị của cụ sợ thằng rể trời đánh Chín Giảo Kim của cụ ve vãn hoặc tòm tem cô Hồng lẫn cô Lam. Đời nào cụ chị chịu nói ra điều mình phòng ngừa. Cũng vậy, cụ em không bao giờ bày tỏ điều mình hiểu biết. Nhưng hai cụ thầm hiểu như nhau rằng tên chồng lựu đạn của Thắm tên là Huỳnh văn Khanh, nhưng lại có cái hổn danh là Chín Giảo Kim không phải là hạng nguời thẳng thắn và đứng đắn đối với phụ nữ như Đức Quan Thánh Quân hay ông Liễu Hạ Huệ thời xửa thời xưa bên Tàu đâu. Thà hai gia đình ở khác xóm nhau thì hai cụ mới tránh được hậu hoạn lãng nhách có thể xãy ra, có thể giữ phẩm tiết cho cô Hồng và cô Lam.
Cụ Thông bà mới có 65 tuổi mà tóc trắng như bông lau, thân khô héo võ vàng như thân cây sậy. Môi cụ mỏng lét, khi cụ cười trở nên nhăn nhở, lộ tất cả vẻ nghiệt ngã cay cú. Sắc mặt cụ hầm hừ, cái nhìn dò xét. Cụ thường đay nghiến Chín Giảo Kim trước mặt con gái:
-- Chúng mày còn khờ dại, làm thế nào mà biết được cái tên tiểu tặc phải
gió của bọn đàn ông? Đúng là cây gậy ăn mày, bạ đâu thọc đấy, các con nỡm ạ. Tao thừa biết tên Chín Giảo Kim kia có cái nhìn rất gian, nụ cười rất lẳng, cái miệng rất tếu, cái lưỡi rất uyển chuyển. Thứ đàn ông mà đĩ mồm dẻo miệng như nó thì tránh sao khỏi có đĩ tính? Chị em chúng mày vốn mềm lòng lỏng dạ; nó chỉ hót líu lo vài câu là cả hai tụt quần tốc váy nạp l... cho nó để nó đéo tả tơi ngay. Tao còn lạ gì bọn đàn ông! Thằng bố chồn cáo hổ báo yêu tinh của chúng mày ngày xưa ưa phá trinh con gái nhà nguời. Tao chỉ sợ chúng mày trả ác quả cho thằng bố chết tiệt chết toi, thằng bố diều moi quạ mổ kia.
Cụ Thông bà thường nói bóng nói gió cho cụ Bắc hiểu rằng cụ muốn gả hai cô con gái rượu của cụ cho người có chút ít chữ nghĩa như các thầy giáo dạy ở trường tiểu học Thiềng Đức, hoặc như thầy Trưởng Chi Bưu Điện, hay thầy Trưởng Chi Y Tế ở các quận lỵ nhỏ bé cũng được.
Cho nên, cụ Thông bà dạy con rất kỹ. Cụ cấm Hồng và Lam ăn mặc chải chuốc, cấm cười lớn tiếng, cấm uốn tóc, cấm chà lết quế xảm cái đít trên ghế nhà hàng xóm. Bà bảo em gái:
-- Cô Hảo ( Hảo là tên của chồng cụ Bắc) xem đấy, cô Hai Phụng Tường và
cô Ba Phụng Thoại chẳng những có ăn học mà còn ăn nói hoa mỹ, hạnh kiểm chặt chẽ hơn người nên họ mới lấy chồng tử tế như thế. Chồng cô Hai bây giờ là Trưởng Ty Thông Tin, còn chồng cô Ba là Trưởng Toán Công Dân Vụ. Hai ông ấy đều là công chức, có phải không nào?
Cụ Bắc gật đầu xác nhận. Nghiệt một nỗi chị của cụ giống bà Tư Hơn, bà bạn thân thiết của cụ ở cái tật hay mắng chửi và hay rủa sả con cái những câu tục tằn thì bậc cha có tư cách làm sao có can đảm cưới cô Hồng hoặc cô Lam cho con trai của họ? Chị cụ dạy con bằng những lời gai góc, bằng những câu chửi tổn thương, bằng thái độ ầm ỉ như dậy giặc. Hồi còn độc thân, miệng lưỡi chị cụ nổi tiếng là hổn dữ, lại còn ưa ăn nói trây trúa và tục tĩu. Bởi đó mà ngày xưa mãi tới 32 tuổi, chị cụ mới lấy được một người đàn ông tuổi ngoại tứ tuần và trải qua hai đời vợ tức là cụ Thông ông đó. Ông chồng lại có số đào hoa, dù lớn tuổi mà vẫn được mấy con dâm phụ non nheo nhẻo say mê. Và dù bà vợ có nhan sắc mặn mòi, nhưng ông ta vẫn thích cắm lên đầu vợ vô số cặp sừng cong vút như sừng con trâu pháo.
Giờ đây, ngày nào nhà cụ Thông bà cũng vang tiếng ó ré của cụ. Truớc khi giáo huấn hai cô thục nữ, cụ bà giáo đầu bằng hai câu châm ngôn bất hủ:
-- Bởi tao mang nghiệp dầy đức mỏng mới đẻ con đần độn như chị em chúng mày. Các cụ ta thường bảo rằng: Đẻ con khôn mát l.. rười rượi/ Đẻ con dại, thảm bại cả l...
Cụ kêu hai con mình bằng những hổn danh thập phần kiều diễm: hai con nỡm, hai con chết chìm chết cháy, hai con mắc quái mắc yêu, hai con Thị Mầu
đi cầu không chùi đít, hai con uống máu l... Ngữ vựng của bà về cách chửi rủa thì dồi dào bừa bãi như cỏ hoang, lênh láng tràn ngập như nước trong ao vào những ngày mưa dầm.
Nhà cụ Thông bà ở đối diện dãy phố ông thầy thuốc Khương Hữu Long, sau dãy cây còng lớn cỡ vòng ôm, tàn tỏa rợp bóng râm. Nhà thuộc loại một căn hai chái, vách ván bổ kho, mái lợp ngói, nền lót gạch tàu. Khuôn viên của cụ gồm nửa mẫu đất, nhưng có hai cái ao choáng ở phía sau. Được cái là ao lưu thông với giòng rạch ở Xóm Rẫy. Đó là nhờ hai khe nước nhỏ chui lòn qua lớp hàng rào xương rồng và hàng rào tre gai vây xung quanh nhà bằng hai ống cống. Do đó mà cụ có thể xài nước ao để giặt giũ, vo gạo, rửa rau hoặc múc nước vào các lu khạp ảng bồn, rồi lóng phèn để xài cho các công việc bếp núc khác.
Cụ Thông bà vốn thực tế, nghĩ tới cái ăn ngay khi cụ mới dọn về đây: cụ thả rau muống xanh lẫn rau muống tía trong ao lớn. Còn ao nhỏ kia, cụ thả rau nhút. Xung quanh mỗi ao, ở chỗ xâm xấp nước, cụ trồng rau om, rau cần.
Trong khuôn viên chỉ có cây khế chua, vài cây chuối hột. Trước nhà lại có cây da xà. Ngoài ra là lùm bụi hoang dại cùng cỏ ống, cỏ chỉ, cỏ mần chầu tràn lan khắp khuôn viên. Nhưng đối với cụ, đó là những thứ cây hữu dụng cả. Lá chuối hột xum xuê và rườm rà, cụ có thể rọc từng phiến bán cho thím Chín Lực gói bánh tét và bánh ú, và bán cho chị Năm Ổi gói mắm ruốc và ba khía khi chị ta đem hai thứ nầy ra bày bán ở chợ Cầu Lầu. Khế thì dành nấu bún ốc hoặc làm mức nguyên trái, được nhuộm nước cốt cỏ mần chầu nên đượm màu xanh thắm như ngọc thạch hoàng gia. Cây da xà tỏa vùng bóng râm lớn, dùng để che nắng trong sân. Dưới đôi tay cần mẫn của cụ, cỏ và cây hoang dại bị bứng sạch để dành chỗ cho lũ ổi xá lỵ còn tơ, những khóm chuối sứ, chuối cau, chuối già hương và những cây mận chiết nhánh. Ngoài ra, cụ còn trồng những khóm bông trang, những cây điệp ta, những luống trồng bông huệ, những luống trồng bông hoàng điệp, toàn là những thứ hoa dành để bán cho các thiện nam tín nữ cúng Phật. Cụ cũng không quên trồng kinh giới để ăn cặp với bún ốc, trồng thìa là để xối mỡ ăn cặp với chả cả, trồng cà pháo để muối trái, và để làm món cà pháo dầm mắm tôm.
Một hôm nọ, Chín Giảo Kim vưng lịnh mẹ vợ đến biếu cụ Thông bà hai con cá duồng để cụ Thông bà có thể nấu ngót với rau cần và cà chua rồi chan lên bún. Vừa buớc qua khỏi cổng do cô Lam mở, Chín Giảo Kim ta chợt thấy một vùng cây kiểng, bông hoa cùng các luống rau tươi hơn hớn dưới ánh nắng trong suốt và vàng tơ của tháng chạp. Cô Hồng mặc chiếc áo túi bằng nhiễu màu tím than, quần vải xăng-đầm đen, đầu đội nón bài thơ trắng nõn. Cô đứng gần vạt đất trồng rau, húng, tía tô, kinh giới, tần ô, thìa là... Sau lưng cô là cây điệp ta trổ hoa đỏ và những bụi bông trang cao cỡ sãy tay, nào là trang trắng, trang vàng, nào là trang hường, trang đỏ và có cả trang tím nữa... Nụ cười của cô trong vành nón lá như sáng lên, hài hòa với thân thể khỏe mạnh và màu da hồng hào của cô. Chín ta chợt hiểu đây công trình tạo dựng do những bàn tay cần mẫn của mẹ con cụ Thông. Từ một vùng hoang dại, họ sửa sang thành một vùng hoa cỏ, rau dưa ngoạn mục. Và có thể, sở đất sẽ đem lại cho họ một vài lợi tức nho nhỏ song song với cái đẹp của khuôn viên. Chàng cảm thấy yêu cái lẽ sống mãnh liệt cùng cách sống đẹp của họ mà quên đi thể chất nồng nàn của cô Hồng cùng cái đẹp dịu dàng và trong sáng của cô Lam.
Cô Lam và cô Hồng đã có nghề may quần áo phụ nữ và quần áo trẻ em. Cả hai nhờ may khéo nên chẳng bao lâu có nhiều mối tìm tới đặt may. Còn cụ Thông bà gói giò thủ và chả lụa, rồi đem bỏ mối ở ngoài chợ. Bề sanh sống của họ tạm gọi là bảo đảm.
Năm đó, cô Hồng đã 20 tuổi, còn cô Lam được 18. Như vậy tuy là vai chị mà họ kém tuổi hơn cô Thắm. Cô chị kém 2, cô em kém 4. Cô Hồng đẹp lẳng, mặt hơi vuông chữ Điền, mắt ướt, môi tươi, nụ cười đĩ ngầm, thân vóc cao lớn và nồng nàn , khỏe mạnh. Cô Lam với vóc vạc vừa tầm, mặt trái soan, mắt xếch và sáng oai nghiêm, nụ cười đoan trang thùy mị, khuôn mặt hiền hậu nhưng tiềm ẩn vẻ can truờng, nhẫn nại. Họ không vấn tóc trần như phụ nữ Bắc Kỳ mà cũng không búi tóc thành cái bí bo sau ót như phụ nữ Nam Kỳ. Dù không uốn tóc, nhưng họ biết cách ăn diện: họ cột tóc theo kiểu đuôi ngựa hoặc đánh bính hình con rít rồi thả trước ngực. Trông họ tân thời lắm, dù họ không xài tới son phấn mà chỉ tỉa cặp mày cho sắc nét.
Ba mẹ con cụ Thông bà giữ đạo Thiên Chúa. Hai cô con gái đều gia nhập vào ban đồng ca của nhà thờ Vĩnh Long. Cả hai có giọng khỏe và ngân vang. Ngoài việc hát thánh ca, cô Lam không hề hát loại nhạc cải cách đương thời. Cô chỉ hát bản Ave Maria hoặc bản Santa Lucia bằng lời Việt cho ban văn nghệ nhà thờ khi họ tổ chức một buổi trình diễn văn nghệ cốt gây ngân quỹ giúp viện mồ côi, giúp trường mù hay cho cuộc cứu trợ nạn nhân bão lụt miền Trung. Còn cô Hồng cãi lời mẹ, nhứt định gia nhập vào ban Văn Nghệ của Phòng Thông Tin Vĩnh Long. Cụ bà chửi rùm beng:
-- Văn nghệ Phòng Thông Tin cái mả mày đấy à? Động đĩ trá hình đấy, con
đĩ chồn chín đuôi ạ. Mày liệu hồn mà theo bọn gái đú đỡn trong ban văn nghệ ấy, cái bọn dâm không ra dâm, trinh chẳng phải trinh, tao thấy thế nào ấy!
Cô Hồng hùng hổ:
-- Con cóc cần các cô ấy, con chỉ cần thầy Hán Sơn cưới con.
Cụ Thông bà liền ngưng chửi, lõ mắt ngó con gái:
-- Có thật không đấy? Thầy ta đã tỏ thái độ gì đối với mày? Thầy ta đã ướm lời mày cách nào? Mày mà bịa chuyện thì chết với tao.
Cô Hồng nghinh mặt, cười hí hởn:
-- Thầy ta đòi đưa cụ bà thân sinh đến đây viếng nhà cho biết
Thím Hai Xuân tán thành:
-- Cô Hồng khéo lựa bạn trăm năm đó, thưa cụ. Cháu nghe nói thầy Mai
Hán Sơn là giáo sư âm nhạc và huấn luyện viên thể thao của trường Tống Phước Hiệp. Thầy có giọng tốt, lại đẹp trai, khoẻ mạnh. Trong ban Văn Nghe Phòng Thông Tin, thầy giữ các tiết mục đơn ca, đồng ca, hài kịch... đều hoàn hảo. Nữ sinh chạy theo thầy rần rần. Mấy ả chịu chơi trong tỉnh sẵn sàng cho thầy... chơi chịu.
Thấy chị vui, cô Lam cũng khôi hài:
-- Nhưng rồi ra, chị Hồng lại có hy vọng chiếm được trái tim thầy và hy
vọng được thầy rước về nhà làm Hán Sơn phu nhân.
Cô Hồng không giấu giếm tình cảm của mình:
-- Chỉ nghĩ khi mình cho in trên danh thiếp hàng chữ Madame François Xavier Mai Hán Sơn là chị sướng run, sướng đến rụng rời. Chị em mình hát trội hơn các nữ ca sĩ tài tử địa phương vì giọng chúng mình lảnh lót, chúng mình lại còn biết ngân nga như ca sĩ đài Phát Thanh Sài Gòn.
Từ khi hai cô Hồng và Lam theo mẹ về đất Vãng thì các xóm trong xã Long Đức Đông đều xôn xao. Cái đẹp của họ chưa thể gây sóng gió bằng giọng hát và nghệ thuật trình diễn của họ. Thuở đó, trường Trung học không nhiều, cho nên nữ sinh trung học được giới bình dân quý trọng. Nghe nói hai chị em họ chỉ học xong lớp nhứt và thi đậu bằng Cơ Thủy ngoài Bắc mà thôi, chớ chưa học tới bực trung học ban Thành Chung hay ban Đệ nhứt cấp. Vậy mà cái dáng dấp nữ sinh cùng phong thái cao sang đài các và giọng hát đẹp của họ chẳng những làm cho các nam sinh của các trường tư thục ao ước mà giới công chức, tư chức bực trung phải ngây ngất say sưa nữa.
Cô Thắm lúc đầu sợ thằng chồng thợ mộc đẹp trai, có biệt tài ca Vọng Cổ du dương của mình dòm hành, tơ tưởng hai cô chị nhà bác của mình. Tới chừng cô Hồng chê dân ưa ca Vọng Cổ là dân nhà quê, tới chừng dân tân học xun xoe xung quanh cả hai thì cô yên lòng lắm. Vậy là hình ảnh thằng chồng bảnh trai, lại có số đào hoa của cô chẳng có đặc điểm nào dưới mắt của hai cô chị tân thời kia.
Riêng bà Tư Hơn thì nơm nớp lo sợ hai thằng con trai uống máu què (sic) của mình vớ nhằm con vợ Bắc. Đang thân thích với bà cụ Bắc, đang thích ăn các món Bắc như bánh cuốn, phở, bún thang, bún ốc.., bà quay mặt 180 độ liền:
-- Xời ơi, tui trầy vi tróc vảy đẻ con trai rồi để cho tụi nó thả đuôi chuột
vọc hũ mắm tôm hay sao? Rước thứ dâu Bắc kỳ về nhà để tụi nó cho mình ăn mắm tôm, ăn tương đậu nành đều đều hay sao? Gái Bắc khi xổ ngọt thì lời lọt tận xương, còn khi họ phun nọc vào mình thì mình chỉ có nước nhức tê nhức bại, nếu không thì cũng bải hoải tứ chi chớ không chơi đâu. Đâu phải ả Bắc Kỳ hoặc mụ Bắc Kỳ nào cũng mềm mỏng dễ thương như cụ Bắc, cũng biết điều như vợ thằng Chín Giảo Kim?
Hai cậu con trai bà Tư Hên là Phi Long và Phi Phụng được người chú ở Sài Gòn cho ăn học tại trường tư thục Lê Bá Cang. Nhưng Phi Long chỉ học tới năm thứ hai, còn Phi Phụng chỉ học tới năm thứ ba ban Thành Chung rồi bỏ học. Anh thì đi học sửa xe hơi và xe gắn máy, còn em thì học ngành điện; cho nên cả hai kiếm bộn tiền. Bởi đó, bà Tư Hơn có thể hãnh diện rằng con mình có văn hóa tạm đủ để lấy le với chòm xóm, lại có nghề chắc chắn trong tay. Bởi vậy bà ra mặt kén dâu. Thuở trước khi thấy hai chàng Phi ve vãn hai cô Phụng Tường và Phụng Thoại, bà sợ nơm nớp mình sẽ bị hai thằng uống máu què kia bắt mình thỉnh hai cây văn hóa về thờ cúng vì hai cô Phụng học tới năm thứ tư, dù có thi rớt bằng Thành Chung, nhưng vẫn học trên hai chàng một hai bực. Lại nữa, hai cô Phụng lớn hai chàng Phi vài tuổi, có vẻ khôn ngoan hơn. Giờ đây, bà sợ hai thằng con trai kia xáp cục với hai cô gái Bắc lạ hoắc lạ huơ kia. Cô Lam và cô Hồng lại có bóng sắc tuy không trội hơn bóng sắc của những thiếu nữ đẹp nức tiếng trong tỉnh, nhưng cũng đủ nịch ái chúng, biến chúng thành kẻ chỉ biết thờ phụng vợ như tiên thánh mà coi rẻ mẹ như bọt bèo, cặn bã.
Hình như do oan trái đâu từ bao kiếp truớc, cụ Thông bà và bà Tư Hơn vừa gặp nhau là không ưa nhau. Cả hai cùng chung cách ăn nói thô tục như nhau. Nhưng trong thâm tâm, cụ Thông cho mình là tục sâu sắc theo kiểu mấy cụ đồ xưa làm thơ châm biếm thế thái nhơn tình, còn bà Tư Hơn dưới mắt cụ là thứ tục bừa bãi, bộc tuệch, bạ đâu tục đó. Riêng bà Tư Hơn cho rằng mình tục ngọt tục trơn, chẳng cào sướt tự ái ai, còn mụ già Bắc Kỳ sâu hiểm kia là thứ tục có ngạnh có mắc như lưỡi câu, chỉ làm cho thiên hạ đau thốn tim gan vì tự ái bị mụ quào rách te tua như cái nùi giẻ. Rõ ràng đây là trường hợp đồng bịnh tương đố, chớ không phải trường hợp đồng bịnh tương lân.
Nhưng cái ghét của bà Tư Hơn đậm đà nhứt là ở chỗ mẹ con cụ Thông bà ưa giao du với thím Hai Xuân và cô Năm Kim Nga. Thím Hai Xuân là con nhà bác của Chín Giảo Kim, còn cô Năm là em chồng thím. Cô ta ở trong một căn của dãy phố Trung Thành, cách nhà vợ chồng thím 50 thước.Vào mùa ốc từ tháng năm cho tới cuối tháng tám âm lịch, hễ đi ngang qua nhà thím Hai Xuân là bà Tư Hơn bắt gặp mẹ con cụ Thông bà và chị em thím Hai Xuân ngồi ăn ốc, cười nói véo von với thím. Tiệc ốc thường dọn duới bóng cây trứng cá trong sân. Nhà chú Hai Xuân chỉ có cái rào bện kẽm gai nên khách bộ hành ngoài con lộ trải đá xanh trước cổng có thể nhìn rõ cái sân trần trụi của chú. -c miền nước ngọt vùng Tiền Giang có nhiều thứ: ốc lác và ốc bươu đem luộc để chấm nước mắm gừng, ốc gạo luộc để chấm nước mắm chanh, ốc dừa và ốc đắng luộc để chấm mắm sả, ốc len xào nước cốt dừa. Ngoài ra ốc gạo còn được cuốn với dừa nạo, thịt phay, rau thơm trong lớp bánh tráng nhúng nước để làm món gỏi cuốn ốc gạo. Mẹ con cụ Thông bà mê tơi các món ốc. Có hôm dù không được cụ đãi ốc, thím Hai Xuân cùng cô Năm Kim Nga cũng mua ốc đem qua tặng gia chủ để cùng ăn với gia chủ. Cụ Thông bà dạy thím Hai và cô Năm nấu món bún ốc nên tình lối xóm thắt chặt thêm.
Bà Tư Hơn biết quá rõ hành trạng dâm đãng táo tợn của cô Năm Kim Nga.
Bà chì chiết với bà cụ Bắc:
-- Cái con đĩ chuột cống chuột xạ đó nếu không phải là con Hạ Cơ, thì cũng
con Tuyên Khương, hoặc con Văn Khương hay con Võ Chiếu đầu thai chớ chẳng sai. Bạ trai nào, nó cũng chổng đít cho hắn đục lỗ, gặp tên mổ nào nó cũng nằm ngửa cho đương sự xỏ kim. Nó mắc bịnh cuồng dâm đó đa cụ. Hễ vắng đờn ông chừng một đêm là nó ngứa ngáy, không chịu nổi. Vậy mà nó ưa đi chùa làm công quả, miệng niệm Phật dẻo quẹo mới là chướng chớ! Thành tâm mộ đạo gì nó! Miệng tuy niệm A-di-đà Phật/Thấy sãi xinh, tay trật quần ra. Chỉ trong một buổi tối, nó dám cho thằng Chín Giảo Kim và hai thằng con trai tui thụt súng cối, thụt ô-buýt vào cái hang ổ mắc dịch của nó cho tới nghiêng trời lệch đất. Có động trời không cụ?
Từ lâu, Thắm đã biết cô Năm Kim Nga đã từng tằng tịu với hầu hết trai vùng nầy trong đó có Chín Giảo Kim, trước khi tên chồng khí gió lăn đùng kia cưới cô làm vợ. Cho nên cô khinh ghét cô Năm ra mặt. Eo ơi, y thị đã cụp lạc với tên oan gia lòng dơi dạ chuột của tôi. Rồi đây, biết đâu y thị sẽ tái diễn cảnh dâm bôn thêm nhiều lần nữa. Cho nên Thắm vuốt đuôi lươn:
-- Thế ư, cụ Tư? Thế thì hỏng quá!
Hăng chí, bà Tư Hơn tuôn ào ào giọng thổ:
-- Mợ Chín chưa biết đâu, con đĩ xà bần hổ lốn đó còn thầm thụt với thằng
Chệt Pạt Yục Tàng (Bạch Ngọc Đường) ở cùng dãy phố với nó. Đêm đêm, nó mở cửa cho Chệt ta qua đạp mái tưng bừng tở bở, giường kêu cót két như cóc nghiến răng.
Pạt Yục Tàng làm nghề cán mì, cán bột gói hoành thánh để đếm cho những gánh mì, cho các tiệm nước trong thành phố. Nghe nói hắn có nhiều tiền. Hắn lớn con, trắng trẻo, khôi ngô. Nhờ bửa cũi, gánh nước, nhồi bột, cán bột mà hắn có vóc mình lực lưỡng, nạc nhiều, mỡ ít, bụng thon. Tuy nhiên, Thắm vẫn chì chiết:
-- Cô ta ăn nằm với trai Việt chưa thỏa mãn hay sao mà còn tòm tem qua tên
Chiệc? Xấu hổ quá đi thôi!
Bà Tư Hơn tuy ngồi bán các món quà ở Xóm Chuồng Gà, nhưng mấy mụ khách hàng thèo lẻo thường đến ăn và thông tin cho bà biết đủ mọi chuyện khắp làng trên xóm dưới, cho nên chuyện phòng the của cô Năm, bà biết khá bộn.
Việc bà Tư Hơn rải muối độc và trồng nấm độc lên cuộc đời cô Năm Kim Nga vẫn được các mụ thèo lẻo rót lai láng vào tai cô, cô chỉ cười hề hề bảo chị dâu:
-- Bà Tư Hơn nói xấu em là việc của bả. Còn việc cho hai thằng con của bả
chết chung một lỗ là chuyện giải trí dài dài của em. Bả coi chừng ông chồng dê xồm của bả. Có ngày em thiếm xực luôn ổng, cho bả tức trào máu què chơi. Hà! Hà! Hà!
Thím Hai Xuân vốn có bụng thương mến cô em chồng của mình, nhưng thím không quên nhiếc móc:
-- Mầy mà chưa lấy chồng, anh Hai mầy và tao phải chịu đội quần khắp
thiên hạ. Còn bực cha mẹ và đờn bà ở vùng nầy phập phồng, chằng biết lúc nào chồng của họ bị mầy rinh đi mất, chẳng biết lúc nào đầu họ sẽ bị mầy cắm sừng! Thôi em cưng, em gắng tu bỉ, cứ thả trôi thả nổi hoài e có ngày cưng dến bịnh tiêm la, bịnh lậu mủ... đa em.
Cô Năm Kim Nga là gái chịu chơi; khách chơi cho cô tiền thì cô nhận, bằng không thì cô cho chơi miễn phí hoặc cho chơi... chịu. Không bao giờ cô tính sổ với người đờn ông nào đã ăn nằm với cô một cách nghiệt ngã. Nghe nói cô làm nghề áp-phe, buôn bán hột xoàn cẩm thạch lai rai. Cô mập mạp, vóc vạc vừa tầm, khuôn mặt đĩ lộ, nụ cười dễ dãi và tươi tắn, sóng mắt sáng ướt, tròng mắt đưa đẩy loang loáng. Cô ăn mặc chải chuốc, tóc bới cái bí bo sau ót có bao lưới và giắt trâm. Thường ngày, cô trang điểm nửa chợ nửa quê, tuy quê bảy chợ ba mà cô vẫn đẹp mặn mòi. Cô đeo xâu chuỗi cẩm thạch, đôi bông tai cẩm thạch, đôi kim hoàn xâm hình rồng đoanh, cặp cà rá nạm ngọc lựu, chiếc trâm cài chéo áo cẩn hột hổ phách và san hô. Nhưng khi đi làm áp-phe, cô cuốn tóc tay rế, mặc áo nhung trơn, đeo nguyên sưu bộ hột xoàn chấp chới. Ở cô, cái gì cũng óng ả, mướt rượt. Cô cặp xách với ai cũng kín đáo. Cô không nói tục, không nói trây với người ngoài, nhưng cô khoái nghe chuyện tiếu lâm, nghe rồi cười hềnh hệch một cách thống khoái, nhưng không bình phẩm. Cô rất dễ thương. Ai nói xấu cô sau lưng cô, lời nói xấu kia có khi tới tai cô, cô vẫn cười híp mắt, rồi tròng mắt đưa đẩy loang loáng, trông thiệt dễ thương!
Thầy Mai Hán Sơn cứ chà lết nhà cụ Thông bà thêm một tháng nữa , rồi mới dắt mẹ mình là bà Biện Mai văn Giang đến dạm hỏi cô Hồng cho thầy. Hỏi ra, bà Biện Giang là em con nhà cô của bà Tư Hơn. Dù bà Tư Hơn hết lòng khuyên chị mình đừng cưới cô Hồng cho thầy Hán Sơn, nhưng bà Biện Giang ngáp dài :
-- Dì ơi, thời buổi nầy tụi trẻ kỳ cục lắm, tụi nó ưng con nào thì mình nên
cưới con đó cho tụi nó, bất chấp con lủng hay con lành. Nên thì tụi nó nhờ. Hư thì tụi nó rán cắn răng mà chịu. Nếu mình ép duyên tụi nó, rủi mai sau gặp cảnh cơm không lành canh không ngọt, tụi nó sẽ đổ thừa mình, điếc tai điếc đít lắm!
Vậy là đám hỏi tiến hành rùm rụp. Cô Hồng đem chia trầu cau và bánh trái cho họ hàng và chòm xóm thân thiết. Mỗi lần qua thăm hôn thê của mình, thầy Mai Hán Sơn cũng đèo theo thầy Trần Thanh Thoại, giáo sư môn Pháp văn của trường Long Hồ, bạn chơi bóng rỗ rất thân của thầy . Thầy Thoại có vóc vạc trung bình, thân mình cân đối và liền lạc. Đã vậy thầy đẹp trai theo kiểu thư sinh thời cổ bên Tàu: mắt sáng, mày thanh, mũi thả giọt mật, môi đào, răng lựu, da mặt mỏng và trắng hồng.
Bà Tư Hơn, một hôm nọ đến thăm bà Biện Giang, bảo thầy Hán Sơn :
-- Dì không hiểu tại sao cháu lại lấy vợ Bắc Kỳ ? Tụi Bắc Kỳ không biết nấu
cơm, mà cũng không biết ăn cơm.
Thầy Hán Sơn lấy làm lạ:
-- Thưa dì, sao lạ vậy? Chẳng hay họ nấu món gì và ăn món gì?
-- Họ chỉ biết thổi cơm và xơi cơm thôi, cháu à.
Rồi bà kể xấu gia đình cụ Thông bà, toàn là những điều do bà tưởng tượng. Những điều tưởng tượng đó dựa lên cuộc sống phóng dật lăng loàn của cô Năm Kim Nga. Bà Biện Giang và thầy Hán Sơn cứ gật đầu chấm câu để làm vui lòng bà. Họ thừa biết dù mẹ con bà cụ Thông có giao thiệp với cô Năm Kim Nga, nhưng không bao giờ họ qua chơi nhà cô Năm; lại nữa cô Hồng lẫn cô Lam không bao giờ đi chung với cô ta khi có dịp đi chợ hay đi thăm viếng ai.
Không hiểu sao những lời vu khống ấy lọt đến ai cụ Thông bà. Cụ đâu có thể nhịn bà Tư Hơn một cách dễ dàng. Cụ tìm cách trả đũa mụ già độc miệng kia. Nhưng cụ không dám nói với ai, ngay cả cô Năm Kim Nga và thím Hai Xuân, mà chỉ dám tâm sự với em và cháu gái:
-- Cái mụ già Tư Hơn khốn nạn kia cứ tưởng đâu hai thằng con giai của mụ
quý báu lắm đấy. Hai thằng ấy tuy làm nghề có nhiều tiền, nhưng chúng nó hời hợt, cười nói oang oang, người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm, trông thế nào ấy! Người Nam thô lổ, ăn nói tao nhã bằng người Bắc chúng mình thế nào được? Cô Hảo xem đấy, hoa sơn chi thì họ gọi là hoa dành dành; còn hoa bạch ngọc thì họ gọi là hoa lài trâu; nhà bưu điện thì họ gọi là nhà giây thép; tòa hành chánh thì họ gọi là tòa bố. Ngôn ngữ gì mà thô tháp, thô bạo, thô tục, chẳng ra sao cả. Nghe nói loại kim hoàng thảo thì họ gọi là cỏ chó đẻ. Còn lá mơ tam thể, họ gọi là lá thúi địt nữa đấy!
Cô Thắm mỉm cười:
-- Thưa bác, thế mà tại sao người Nam kêu lá cúc mốc là lá nguyệt bạch?
Bác thử nghĩ xem, tiếng nguyệt bạch và tiếng cúc mốc thì tiếng nào hoa mỹ hơn, hở bác?
Cụ Thông bà nguýt cô cháu gái của mình thật bén. Ai mà chẳng biết, tên chồng Chín Giảo Kim của Thắm là người Nam? Hèn chi nó chẳng binh tiếng Nam và người Nam chầm chập? Đã vậy cô Hồng còn bồi thêm:
-- Mẹ ạ, tiếng Nam cũng hay lắm cơ, đã phong phú ý tình mà còn thấm
thía cảm xúc. Giọng Nam nếu không ngọt thì làm sao hai nghệ sĩ Út Trà Ôn và Huỳnh Thái, kẻ Nam người Bắc ca Vọng Cổ làm say lòng khách mộ điệu Bắc Kỳ hở mẹ?
Bà cụ Bắc bảo chị:
-- Bác nhớ chứ, ngày xưa gánh cải lương Trần Đắt từ trong Nam ra trình
diễn ở Hà Nội, có đêm nào mà bác chẳng đến xem? Bác cũng đã từng khen lấy khen để với em rằng Cải luơng Sè-Goòng hay hơn chèo cổ Bắc Kỳ vạn bội đấy chứ. Bác còn suýt soa ông Năm Châu, bà Phùng Há mỗi khi cất giọng lên ca là bác muốn tan thành khói thành mây...
Cụ Thông bả rên:
-- Thế này là thế nào? Mụ em của tôi thì chả nói làm gì vì đương sự trước sau
vẫn có lòng ngay dạ thẳng. Còn đứa gái lớn chết tiệt này khi chưa si tình thày Mai Hán Sơn thì nó chê ai mà hát Vọng Cổ là quê mùa, bây giờ nó lại lật lộng nói khác một cách tỉnh bơ!
Cô Lam bảo mẹ:
-- Mẹ ơi, nếu duyên giời dong duổi, con được lấy chồng Bắc, nhưng lũ con
của con mai sau trên đất nước Nam Kỳ nay sẽ nói tiếng Nam với người ngoài một cách rành rẽ, còn khi trở về nhà thì chúng chỉ nói tiếng Bắc ba sồn bốn sựt với bố mẹ chúng mà thôi.
Cụ Thông bà giáng cho cô Lam một cái nhìn sấm sét. Tuy nhận thấy cô thứ nữ của mình nói nhằm lẽ, nhưng cụ vẫn ghét cô vì cô chêm vào câu nói bốn tiếng ba sồn bốn sựt nghe chối tai lắm lắm! Cụ thừa biết hiện giờ cô Lam đang để ý thầy Trần Thanh Thoại. Mỗi khi thầy tháp tùng thầy Hán Sơn qua thăm, thế nào cô Lam cũng diện chiếc áo bà ba mới bằng nylon hay bằng demi nylon in hoa hòe hoa sói choáng lộn. Nhưng để dằn cho màu sắc bớt hỗn, bớt gắt, cô mặc chiếc quân sa teng tuyết nhung đen. Áo thì chẳng nói chi nhiều tấm lòng háo hức và phấn khởi của cô. Độc đáo nhứt là cặp mắt cô khi cô được hầu chuyện với chị và ông anh rể tương lai của mình cùng thầy Thanh Thoại. Trời, cặp mắt sao mà sáng ngời ngời, reo vui một cách lạ lẫm! Khi cô đuợc hai chàng tân học yêu cầu hát bài Sérénata của Enrico Tosselli mà Phạm Duy phổ lời Việt và ban cho nó cái tựa là Chiều Tà thì cặp mắt đó ướt rượt, nói lên rất nhiều tấm lòng sôi nổi của cô. Riêng thầy Thanh Thoại, mỗi khi bắt chuyện với cô là mặt thầy đỏ rạo đỏ rực, đỏ hực đỏ hừng, cặp mắt thầy đắm đuối, rèm mi thầy chớp lia chớp lịa, coi thuốc chuột quá! Đến khi nghe cô hát, mặt thầy đực ra một cách dễ thương, thộn ra một cách thơ mộng. Thôi rồi, anh ả đang ở vào tình trang tình trong như đã, mặt ngoài còn e mất rồi!
Thầy Thanh Thoại cũng là dân di cư. Tía thầy là ông Phán Trần Thanh Lương hiện làm việc ở Tòa Hành Chánh. Còn thầy nhờ có bằng Thành Chung nên dạy Pháp Văn bực Đệ nhứt cấp ở trường Tư thục Lam Sơn. Ông Phán đông con, có tới chín đứa lận. Vợ ông mập mạp, mặt lúc nào cũng đỏ ké. Hai đứa con gái đầu lòng đã lấy chồng ở Vũng Tàu. Hai thằng con kế đi lính Bảo An, giờ đã trở thành hai ông Trung úy. Kế đó là thầy Thanh Thoại, Còn cô em gái kế của thầy theo ở với người dì trên Sài Gòn; cô ta dạy lớp nhứt ở trường Tiểu Học Cầu Kho. Còn bốn đứa con chót đều là gái cả. Năm ngoái, bà Phán Lương báo tin cho chồng và thằng con trai thứ ba hay rằng bà có triệu chứng mang bầu lần thứ mười. Chàng Thanh Thoại bảo:
-- Mẹ ơi, sau khi sinh nở xong, xin mẹ kiêng đi.
Bà Phán Lương quắc mắt rồi dảy đành đạch, miệng bù lu bù loa:
-- Mày nên bảo thằng bố phải gió của mày kiêng, chứ bà nhất định... không
kiêng. Thằng bố của mày kinh khiếp lắm nên bà kiêng thế nào được, hả giời?
Bà gào, bà rống, bà lôi ra một ngàn lẻ một nỗi khổ tâm trong cuộc đời làm vợ và làm mẹ của mình để kể tội chồng con. Bà luôn lập đi lập lại câu: Bà kiêng thế nào được, hả giời? làm các cô con gái chót cười chúm chím, mặt đỏ rạo rực. May là kỳ đó bà hư thai. Chồng bà hy vọng từ đây bà bặt đường sanh nở luôn cho ông dễ thở.
Ông bà Phán Lương khi mới dọn về đây mướn một căn phố lầu đường Đồng Khánh, ngó xéo xéo qua dãy tiệm hớt tóc. Tối tối, mấy anh hớt tóc vầy cuộc đờn ca bài bản cải lương om sòm nên bà Phán Lương òn ỉ chồng dọn về Cầu Đào, gần Chùa Bảy Phủ thờ Đức Quan Thánh Đế Quân. Ông mua ngôi nhà lợp ngói móc, có vòm cổng trồng cây huỳnh anh trổ lai rai hoa vàng đan lộn với cây bông giấy thường trổ hoa tím đỏ.Từ Cầu Đào đi thẳng bon một vạch chưa đầy 10 phút là tới Xóm Thiềng Đức, nào có xa xôi, lâu lắc gì. Nhưng thầy Thanh Thoại vì nhút nhát không dám đến viếng cô Lam. Thầy phải đợi thầy Mai Hán Sơn từ dãy phố bà Thông Vịnh, gần đất Thánh Tây, cỡi mô-tô qua để cùng đề huề đến trồng cây si tại nhà nhị kiều ca hát Tân nhạc rựa ràng như các nữ ca sĩ đài phát thanh kia.
Một hôm, cụ Thông bà đãi bún ốc cho hai chàng giáo sư trẻ tuổi, có mời thím Hai Xuân và cô Năm Kim Nga qua ăn. Vừa chạm mặt hai chàng, cô Năm cười chúm chím, mắt long lanh tinh quái. Ôi, tưởng ai xa lạ, hai ông tướng nầy đã có vài ba lần tìm đến cô, không phải lần lượt chết chung một lỗ của cô, mà cùng cô giao hoan tập thể để đổi món ăn chơi hấp dẫn hơn. Khám phá được điều hoan lạc lạ lẫm, về sau họ cứ bày trò tập thể. Trong phút hành lạc với cô, họ còn hôn nhau giao hữu trên trán. Hỏi ra họ đã đi theo vết Đào Viên kết nghĩa thời Tam Quốc. Thầy Mai Hán Sơn ra công dạy thầy Trần Thanh Thoại môn võ Thiếu Lâm. Đáng lẽ thầy Thanh Thoại kêu thầy Hán Sơn bằng sư phụ cho đúng phép tắc,
đúng lễ nghĩa. Nhưng thầy Hán Sơn vì không muốn chịu leo lên bực ông già và cũng không muốn ai biết mình có võ nghệ nên chỉ nhận thầy Thoại làm nghĩa đệ mà thôi.
Riêng cô Năm Kim Nga, cô cũng cảm nhận cái kiểu làm tình mới lạ kia sao mà kích thích thể xác nhạy cảm của cô một cách gay gắt và thập phần tuyệt diệu. Đó là vào buổi tối đầu tiên trong căn nhà của chị cô gần gò đất cao có xây mã thương gia Tào kê Giang, giữa cánh đồng loáng nước. Chị cô đã thiên cư về Rạch Giá, theo chồng mới. Bà ta có nhờ cô trông coi nhà và tìm cách bán nhà, hứa cho cô huê hồng. Trong lúc dọ giá và tìm người mua, cô dùng ngôi nhà đó làm nơi hành lạc cho mình. Và lần đầu tiên, cô đưa hai chàng Hán Sơn và Thanh Thoại đến đó, mưa tháng bảy rào rào như trút nước lên mái ngói, lên cánh đồng xung quanh. Bàn ghế đã dọn đi gần hết, chỉ chừa cái bàn nhỏ bên cửa sổ bằng cây thao lao, chiếc vạt tre và chiếc divan nhỏ.
Mưa cứ tuôn tầm tã, hết đám nầy tới đám khác. Giữa hai cơn mưa, gió lộng hành trên những cây me keo, cây bằng lăng và cây mù u, cây mộc lan xung quanh nhà. Chưa bao giờ cô Năm no phỉ khoái lạc bằng cuộc ân ái đêm đó. Tấm thân cường tráng và dáng dấp hùng tráng của Mai Hán Sơn tương phản với thân thể tươi non và cân đối cùng khuôn mặt trong sáng tuyệt vời của Trần Thanh Thoại làm cô thập phần hứng khởi. Cả hai thành khẩn quăng mình vào cuộc chơi. Họ trân quý cô, xem cô như một nữ thần nhục thể. Họ liếm láp hai chỗ bài tiết của cô mà không nhờm gớm. Họ quăng mình một cách say đắm vào cơn săn tìm khoái lạc. Rồi cả ba, khi ngưng cuộc làm tình, cứ tỉ tê tâm sự với nhau gần suốt đêm. Cô pha cà phê sữa và hâm soong bánh canh nấu với cá lóc cùng giò heo đã làm sẵn để đãi họ cho họ mau lợi sức.
Chiếc đèn Hoa Kỳ đặt trên bàn cây thao lao luôn cháy sáng. Vào cuối canh tư, cô phải châm thêm dầu vào bình đèn. Còn hai chàng tuấn mã lương câu đó đúng là trên răng dưới thùng xăng, xài chỉ bốn hiệp trong một đêm thì làm sao xăng cạn vơi được? Và đó cũng là lần đầu tiên, cô Năm Kim Nga làm tình với hai chàng trí thức tỉnh lẻ. Chèn ơi, một khi họ lăn xả vào cuộc săn đuổi tình dục thì mọi mức độ kiến thức chẳng can dự vào cơn khoái cảm gay gắt mù lòa làm chín nhừ thân xác của họ. Họ hành xử theo một phản ứng như nhau: sống hoàn toàn theo bản năng con thú đực. Cơn sướng khoái tột độ làm cho Trần Thanh Thoại khóc nhễu nhão và làm cho Mai Hán Sơn thở hổn hển và rên hừ hừ. Cô thừa biết khóc nhễu nhão, thở hổn hển hay rên hừ hừ của họ không phải chỉ là cái phản ứng suông trơn của cơn lạc thú, mà còn là cái ý thức tăng cường khoái lạc của họ. Họ giống như bao người đàn ông hồn nhiên hay thô lỗ khác đã từng ăn nằm với cô: trong cuộc giao hoan, tuy buông thả theo bản năng, nhưng họ vẫn không quên rên rỉ hoặc khóc lóc để họ được thăng hoa vào thiên đường cảm giác gay gắt và nồng đậm hơn. Nói rõ hơn: đó là các phương pháp leo lên tuyệt đỉnh của nhục cảm bằng một ý thức trong sáng và tỉnh táo tuyệt vời.
Cụ Bắc, từ khi thầy Mai Hán Sơn đã dạm hỏi cô Hồng rồi, liền khuyên chị:
-- Bác ạ, nay mai cháu Hồng sẽ về làm vợ giáo sư Hán Sơn, tức là trở thành
cháu dâu cụ Tư Hơn rồi. Bấy lâu nay, bác và cụ ấy cứ hiềm khích nhau. Cụ ấy cứ bịa nhiều chuyện bất lợi cho hai đứa cháu gái cưng của em luôn. May mà cụ Biện Giang biết suy đi nghĩ lại nên mới cho phép con giai mình kết hôn với cháu Hồng. Còn giáosư Thanh Thoại đang gấp ghé cháu Lam. Nếu cụ Tư Hơn cứ tiếp tục phun nọc tới tấp vào gia đình bác, em e rằng hai cụ Phán Lương sẽ cản trở không cho giáo sư Thanh Thoại tiến tới cuộc hôn nhân với cháu Lam. Vậy bác và cháu Hồng nên xử nhũng với cụ Tư Hơn là thượng sách. Có thế, cháu Lam sẽ được duyên ưa phận đẹp mai sau.
Cụ Thông bà có vẻ tư lự rồi thở dài sườn sượt.
Sau khi thầy Thanh Thoại ăn hỏi cô Lam, vào một buổi sáng lành lạnh, cụ Thông bà vào Xóm Chuồng Gà để viếng hàng bánh cuốn của em mình. Tại đây, cụ gặp cô Năm Kim Nga. Cô ăn mặc nhã đạm: áo nhiễu tím, quần mỹ a đen dệt bông cúc bông mai. Tóc cô vừa uốn gọn, phơi chiếc gáy trắng mịn.
Hôm đó nhằm Chúa nhựt. Trường tiểu học Thiềng Đức đóng cửa nên cửa hàng thưa thớt. Tuy nhiên, bà Tư Hơn vẫn bán quà cho bợm nhậu như khô mực và khô cá gộc nướng, trứng vịt lộn và trứng vịt ung luộc, me cùng cốc, ổi chấm mắm ruốc, ốc lác và ốc bươu luộc. Mà lạ dữ kìa, giữa mớ bánh ú, bánh tét, bánh ích, bánh dừa còn có cốm dẹp ngào đường và trộn dừa nạo được đựng trong chiếc thau nhôm sáng loáng.
Cô Năm hớn hở bảo cụ Thông bà:
-- Cụ bà ơi, ăn bánh cuốn xong, cháu mời cụ dùng thử cốm dẹp ngào đường
của bác Tư để cụ thưởng thức món quà độc đáo của bác.
Cụ Thông Bà gởi về mụ già đối thủ một cái nhìn thân thiện và một nụ cười cầu tài; cụ ngọt giọng:
-- Gì chứ cốm dẹp trộn đuờng của cụ Tư thì ngon phải biết! Vậy xin cụ bán
cho tôi ba gói. Còn cháu Năm thì sao đây? Ăn bánh cuốn xong, cháu dùng quà đặc biệt của cụ Tư tráng miệng chứ?
Cô Năm Kim Nga cười một cách nịnh bợ:
-- Cụ ơi, cháu tới đây cốt ăn cốm dẹp ngào đường của bác Tư đó thôi.
Cụ Bắc bảo:
-- Cô Năm ạ, hôm qua cụ Tư có cho tôi một gói bột gạo. Còn bác Thông lại cho khá nhiều chả quế. Hôm nay tôi làm bánh cuốn Thanh Trì đãi cụ và đãi chị tôi. Sẵn tiện, tôi xin mời cô Năm luôn. Tôi đã rán đậu hủ thật ròn để ăn cặp với bánh cuốn rồi đấy!
Hôm đó, sẵn ngon miệng, cô Năm Kim Nga ăn thêm trứng vịt lộn cho bà Tư Hơn vui lòng. Khi cùng về xóm Thiềng Đức, cụ Thông bà hỏi cô Năm Kim Nga tại sao hôm nay cô tỏ vẻ thân thiện với bà Tư Hơn? Cô Năm cười buồn:
-- Cụ Bắc khuyên cháu đó đa. Cái miệng độc dữ của bà Tư Hơn, đố ai kình
địch nổi? Chọc bả ghét, mình chỉ bị thiệt hại nặng nề. Đánh lớn thua lớn, đánh nhỏ thua nhỏ, thua dài dài , cụ ơi!
Trong vòng hai tuần, bà cụ Thông và cô Năm Kim Nga cứ tìm đến bà Tư Hơn để ăn quà. Cho nên cả ba dần dần bắt chuyện với nhau cởi mở hơn. Lại nữa, Hồng còn biếu bà chả cốm và bánh cốm, kêu bà bằng dì và xưng cháu ngọt xớt. Tuy biết mẹ con cụ Thông bà muốn lấy lòng mình; nhưng bà vốn yếu đuối trước quà cáp và lời nịnh nọt của mẹ con cụ. Do đó, bà ngần ngại gì mà chẳng gọi cô Hồng bằng vợ thằng Hai Sơn và xưng dì với cô? Chu choa ơi, cách xưng hô ngọt sao mà ngọt lìm lịm! Thỉnh thoảng, mua được tôm càng hay cá bống trứng, bà đích thân đem tới nhà cụ Thông bà để tặng mẹ con cụ.
Có lần qua Thiềng Đức thăm vị hôn thê, Mai Hán Sơn tình gặp cô Năm Kim Nga đem gấm lụa qua hai chị em Hồng và Lam để may áo dài. Cô Năm Kim Nga ỏn ẻn bảo chàng:
-- Thầy Hán Sơn à, tui đặt may một lượt ba cái áo dài. Cái bằng mousseline
màu xanh rắc bông mận trắng dành đi ăn cưới cô Hồng. Cái áo gấm đen in lông công mặt nguyệt dành dự tiệc cưới cô Lam. Còn cái áo xường xám bằng gấm đỏ dệt bông tròn thêu long phụng bằng kim tuyến chen ngân tuyến là áo cưới của tui.
Mai Hán Sơn làm thinh, mắt đăm chiêu, mặt buồn chẳng ra buồn, vui chẳng ra vui. Cụ Thông bà dặn cô Năm:
-- Tôi xin chúc mừng cháu sắp gá duyên với ông hàng xóm cán mì và bột
gói hoành thánh. Mà này, áo dành đi dự tiệc cưới nên may cổ đứng, đừng may cổ hở như kiểu áo bà Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Áo do bà ta sáng chế ra bị dân quê gọi là áo cổ khoét l... trâu đấy!
Chợt thấy bóng cô Thắm cùng cô Lam hái bông huệ bên hè, cô Năm Kim Nga cất giọng thẽo thợt:
-- Cô Hồng nè, khi tui mặc áo dài cổ cao có chít ben , ai cũng nói tui giống
Thẩm Thúy Hằng. Mới hôm qua tui mặc áo xường xám, ai cũng trầm trồ tui giống nữ minh tinh Lý Lệ Hoa ở Hương Cảng. Số là ông Trưởng phòng Thông Tin tỉnh nhà muốn thành lập ban kịch tố Cộng. Ổng hứa đào tạo tui thành nữ diễn viên chánh. Tui phân vân không biết lấy nghệ danh là Thẩm Thúy Nga hay Lý Lệ Nga đây? Cô có ý kiến gì khôn
Cô Hồng chỉ cười cười, không nói không rằng. Bên hè, cô Thắm trề môi dài thòn, mắt nguýt lia lịa về phía cô gái chịu chơi.
Sáng hôm sau, tình cờ thầy Hán Sơn cùng thầy Thanh Thoại dùng điểm tâm tại tiệm Đồng Hính, nổi tiếng các món hấp như xíu mại, há cảo, bánh bao, bánh ướt Triều Châu, bánh ướt Quảng Đông, ngoài các món mì, hủ tíu, hoành thánh, xủi cảo... Chợt thấy cô Năm Kim Nga mặc áo xường xám bằng hàng mỏng nền xanh rắc hoa ti-gôn trắng, đi giày cao gót, xách bóp da láng ở ngoài xăm xăm bước vào. Cả hai mời cô cùng điểm tâm với họ. Cô Năm ngồi bên cạnh thầy Thanh Thoại, phía dưới tấm gương vẽ hình Tiên Nữ Tán Hoa treo trên vách. Cô vui vẻ, chìa bàn tay trắng mềm với năm ngón sơn móng đỏ như da trái ớt sừng trâu cho hai anh em cột chèo tương lai bắt. Cô líu lo:
-- Cám ơn hai anh. Em đã ăn cơm tấm bì gần Miễu Quốc Công rồi. Hôm
nay em đến đây tìm bà chủ tiệm để bán cặp vòng cẩm thạch, chớ không định ăn uống gì hết.Thầy Hán Sơn hỏi:
-- Nghe nói em sắp lấy chồng Khách Trú, có đúng không, em cưng?
Cô Năm Kim Nga lộ vẻ nghĩ ngợi xa xăm, rồi nở nụ cuời ngỏn ngoẻn trên cặp môi tô son màu hồng đào ngọt lịm:
-- Đúng y chang đó, hai anh à! Em lăng loàn, phóng dật nhiều quá rồi. Tới
tuổi 31 nầy, em nên trụ là vừa.
Thầy Thanh Thoại ngồi trơ một đống, chẳng biết nói gì hơn, chỉ biết ngó cô gái chịu chơi bắng cái nhìn ngây ngô, khờ khạo vì thèm muốn. Thầy Hán Sơn đề nghị:
-- Tụi anh sắp cưới vợ. Em cũng sắp lấy chồng. Tại sao tụi mình không tìm
một dịp chót để chơi trò một bà Táo cùng hai ông Táo giao hội, hả em?
Cô Năm Kim Nga ngún nguẩy:
-- Thú thiệt với hai anh, trót nửa năm nay, em đụng độ với thằng Chệt Pạt
Yục Tàng, em mới nhận thấy nó không thô lỗ như em hằng tưởng. Nó có cái bửu bối ... rùng rợn lắm, lại sành việc gối chăn, biết đủ ngón nghề do Đức Huỳnh Đế cùng hai ả Tố Nữ, Huyền Nữ chỉ vẽ để cho hậu thế làm chuyện giao hoan khoái lạc. Về cái chuyện ... đó đó, bốn người đờn ông nhập lại không bằng nó đâu. Hồi nào em tác quái tác yêu, dập dìu ong bướm, nhưng em không áy náy với lương tâm. Giờ đây, em đã thề nguyền sẽ ăn đời ở kiếp với nó, lẽ nào em cặm sừng nó cho đành hay sao? Hơn nữa, em đang có thai; nó đã hì hục ra công đúc cốt thì lẽ nào em để cho người đàn ông khác thảnh thơi tráng men lên con của nó hay sao? Tội chết đa! Con người dù có lòng rác dạ rơm cách mấy cũng phải biết liêm sĩ chớ bộ !
Giảng đạo thánh hiền tới đây, cô nheo mắt nguýt hai chàng mô phạm, rồi bựt ra cười hăng hắc. Cô nhấn mạnh từng tiếng:
-- Càn khôn vũ trụ ơi, ông bà ông vãi ơi, thằng Chệt đó...kinh khủng lắm,
ác ôn côn đồ thổ phỉ lắm! Hì! Hì! Hì! Cho nên con dâm phụ Lý Lệ Nga nầy từ đây thề bỏ thói đi ngang về tắt, đoạn tuyệt chuyện bắt kép dê trai. Hì! Hì! Hì!
Cô kêu ly cà-phê đá, rồi mở gói Cotab, lấy một điếu thuốc ngậm trên môi. Thanh Thoại bật lửa châm điếu cho cô. Cô lim dim phà khói, mơ màng:
-- Mấy anh nên coi chừng bà Tư Hơn. Lóng rày bả thân thiện với cô Hồng và cô Lam lắm đó. Hễ bả biết em còn tò tí với hai anh, bả sẽ rủ mấy mụ Chằng ăn trăn quấn, mấy bà sư tử Hà Đông xách dao bằm nhuyễn em rồi chiên thành chả quế, chả cá thu. Còn hai cô kia thay gì dùng giọng ngọt như mía Gò Mây hát cho hai anh nghe, họ sẽ dùng giọng khế giọng chanh để cằn nhằn hai kẻ ngoại tình cả năm chưa chán, huống hồ suốt tháng chưa nguôi hay sao?
 
Hồ Trường An

Chào...* Hoàng Quỳnh Hương

Chào Xuân Mới Với Những Nụ Cười Nụ Hôn
Độc Đáo Trong Ca Dao Miền Nam
 
San Jose 2013
 
Từ thời xa xưa đến nay, mỗi khi mùa Xuân đến, không ai bảo ai, đều chuẩn bị mừng đón Tết Nguyên Đán . Đó là ngày vui nhất của năm sau ngót hơn 365 ngày đầu tắt mặt tối. Tết chẳng riêng ai mà cho khắp mọi nhà, mọi dân tộc, là một tục lệ cổ truyền của người Việt Nam. Trong các cái Tết chỉ có Tết Nguyên Đán được xem là vô cùng hệ trọng. Đối với quốc gia thì Tết tượng trưng và tiêu biểu cho linh hồn của một dân tộc, cho dù sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới, cũng không thể nào quên phong tục tập quán của quê hương mình. Đó còn là dịp để chúng ta gặp gỡ nhau, hứa nguyện trước bàn thờ Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ giữ gìn ý tứ, lời nói, và nhất là hành động sao cho trong sạch suốt năm.
Ngày Tết có lắm tập tục, chẳng hạn như tục xông đất, tục dựng nêu, tục lì xì v.v…Người đến chúc Tết lúc nào cũng được gia chủ đón tiếp nồng hậu với nụ cười tươi, cùng tất cả lời chúc lành đẹp nhất. Thể hiện bằng chén trà, ly rượu, bánh mứt…Cũng có nơi gia chủ mời ăn vài món đồ mặn để nhâm nhi với chung rượu lạt nữa.
 
Như “luật bất thành văn”, người Việt Nam chúng ta cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có tục lệ tổ chức những ngày lễ Tết trọng thể, tưng bừng và tiệc tùng linh đình vào ngày đầu năm.
Ngày Tết Nguyên Đán còn có tục gặp nhau là phải cười, dù cho có ghét nhau mấy đi nữa, có đói, có no, giàu hay nghèo, gặp nhau ba ngày Tết ai cũng vội nhoẽn miệng cười tươi tắn để chúc phúc cho nhau…Ông bà Tổ Tiên ta đã dạy:
Thứ nhất là đạo làm người
Dù no dù đói cho tươi mặt mày.
 
Những ngày đầu năm mới, kỵ nhất là mặt mày ủ rủ, phải vui tươi thì mới hy vọng cả năm làm ăn khấm khá. Sau đây tôi xin đơn cử nhiều kiểu cười khác nhau, tất cả mọi tình huống mà chúng ta không ít người có thể bắt gặp trong đời sống hằng ngày, hoặc đọc qua và tìm thấy trong ca dao tục ngữ miền Nam.
Có người khi gặp nhau thì có nụ cười gượng gạo, cười trừ, cũng có người có nụ cười vô duyên thì lại cũng có người ta bắt gặp có nụ cười bẽn lẽn, hoặc cười khúc khích cười bả lả…
Để có dịp làm vui cho mọi người những ngày đầu năm mới. Hai câu thơ dưới đây cho thấy:
Phất phơ ngọn cỏ gió lùa
Thấy em cười gượng anh chua xót lòng.
 
Chỉ cần nhìn nụ cười gượng của nàng thôi đã làm cho chàng phải đắn đo, suy nghĩ. Cũng có khi vì nụ cười gượng này đã làm chàng không dám bước tới:
Bắp non xao xác trổ cờ
Thương nhau xin chớ nhởn nhơ cười trừ.
 
Trong tình yêu đôi lứa, nhiều khi chúng ta bắt gặp và đáng ghét nhất khi nhìn thấy nụ cười trừ, tuy nó vô âm, vô điệu mà lại rất là vô duyên.
Hầu như phái nữ là rất kỵ và rất ghét nụ cười vô duyên này lắm, nhưng lại hay bắt gặp nụ cười trừ ở phái nam. Cho nên vì vậy mà có câu:
Đứng xa kêu bớ em Mười
Thương hay không thương, em thiệt đừng cười đẩy đưa.
 
Thật ra nếu bắt gặp nụ cười đẩy đưa thì thật không thiện cảm tí nào, mà còn có thể nói là khó ưa nữa là khác. Tuy nhiên trong nụ cười đẩy đưa ấy có thể trong bụng nàng muốn kéo dài thời gian tìm hiểu chàng, kéo dài thời gian dò xét nên mới có nụ cười đẩy đưa…Cũng như nàng muốn tìm kế “hoản binh” mà thôi. Điều đàn bà tối kỵ nhất và hay tìm cách tránh đàn ông bởi họ thiếu kiên nhẩn nên có câu:
Cây tre nhặt mắt, gió quặt cây tre quằn
Nghe anh cất tiếng cười gằn, em trở gót thối lui.
 
Có thể chàng đang giận nên chàng cười gằn, từ cười trừ chuyển sang cười gằn:
Chiều chiều ra đứng vườn cà
Thấy anh cười lạt, trở vô nhà, em hốt muối em ăn.
 
Cười lạt thật ra độc đáo hơn cười gằn. Nhưng cũng có một kiểu cười khác “độc” hơn,  nhiều người nhận xét cho rằng cười lạt độc hơn cười gằn:
Chuồn chuồn đậu ngọn cau tơ
Anh cười bả lả em ngờ duyên anh.
 
Nghe giọng cười bả lả của chàng. Người mà mình yêu thầm trộm nhớ chỉ biết cười bả lả thì chắc chắn duyên nợ sẽ không đi đến đâu. Bởi nụ cười bả lả biểu lộ sự cợt nhả, bông lơn của kẻ chỉ tính chuyện lợi dụng, qua đường.
Đàn ông thì họ có trăm cách, trăm mánh khoé để biện hộ cho nụ cười bả lả này.
Có những cô gái thuộc loại vô duyên, chưa nói đã cười, chưa đi đã chạy…Hay có những cô gái thuộc loại điêu ngoa, chuyên môn cười châm chọc: Cười toe toét, cười bò càng bò niểng. Rồi lại có những cô gái cười đến chảy nước mắt nước mũi. Cười chành bành, cười nhắm mắt hả họng…
Có những chàng mới gặp thấy nàng có vẻ nhu mì, nhưng cũng bị lầm nên than thầm:
Tưởng đâu bến đã gặp thuyền
Nào hay em cười lãng nhách, anh liền lui ghe
 
Nhìn vợ người hàng xóm không ra gì, chàng liền so sánh:
Thà rằng chịu cảnh gông xiềng
Còn hơn có vợ cười vô duyên tối ngày
 
Nhiều anh chàng than khổ, sao mà khó quá! Kiếp sau xin chớ làm người…Bắt bẻ nhau chi một tiếng nói, một kiểu cười:
Con quạ nó núp vườn chuối
Thấy em đứng cười lỏn lẻn với ai!?
 
Cười lỏn lẻn là một kiểu cười dễ thương của các cô gái hay e thẹn. Nhưng đôi khi cũng bị hiểu lầm là:
Cô kia cười cợt ghẹo trai
Cái miệng méo xẹo như quai chèo đò
 
Quả thật ở sao cho vừa lòng người khi thương thì “trái ấu cũng tròn, ghét nhau thì bồ hòn cũng méo”. Đã vậy:
Phòng trong sớm mở tối gài
Ai cười khúc khích để phòng ngoài ngẩn ngơ.
 
Nàng ở trong nhà cười khúc khích, lúc nhìn ra thấy chàng mặt mày ngẩn ngơ. Vậy mà có ai đề cập đến nàng thì lại làm bộ làm cao:
Thôi thôi tình phải buông lơi
Chưa chi em đã vội cười toét toe…
 
Ca dao miền Nam thật phong phú, không thiếu những nụ cười khi “Cá chưa cắn câu”. Những nụ cười của tình yêu đơn giản, những nụ cười hạnh phúc, rất thâm thúy và nồng nàn:
Bông cúc nở trước sân, con bướm vàng nhận nhụy
Thấy miệng em cười hữu ý anh thương
 
Ngó lên đầu tóc em tròn
Hàm răng em trắng, miệng cười giòn anh mê.
 
Tóc em dài em cài hoa thiên lý
Thấy em cười hiền, anh để ý anh thương.
 
Con kiến vàng bò ngang đám bí
Thấy miệng em cười ẩn ý, anh đở lo.
 
Cóc nghiến răng còn động lòng trời
Cũng vì em có điệu cười mím chi
 
Bới tóc cánh tiên bỏ vòng lá liểu
Thấy miệng em cười, trời biểu anh thương.
 
Chỉ một nụ cười của em thôi đã làm “động” tới lòng trời.
Tất cả mọi người chúng ta sống nơi xứ người, những nụ cười hạnh phúc thì thật quý giá vô cùng.
Hiện nay, rải rác khắp nơi trên thế giới như Đan Mạch, Ấn Độ, Canada…Đều có “Festival chỉ để cười” Tất cả mọi người đều cố tập cho mình một kiểu cười chẳng giống ai. Tuy nhiên có một điều cũng không kém phần quan trọng, đó là hãy đem lại cho người khác những nụ cười lành mạnh!
Phong tục ngày đầu năm, gặp nhau ai cũng phải cười, cười cũng còn là một thần dược. “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”. Trị được cả bịnh thể xác lẫn tâm hồn, cười làm ta cởi mở, bao dung và nhất là có một tinh thần lạc quan yêu đời. Tất cả các kiểu cười: Cười Mím, Cười Nụ, Cười Ra Tiếng, v.v. Đều làm cho khuôn mặt chúng ta dễ mến hơn trong ngày đầu năm mới. Bởi vì chính những nụ cười này sẽ đem lại cho họ niềm vui, may mắn suốt năm.
 
Hoàng Quỳnh Hương

Chim...* Phạm Tín An Ninh

Chim Bay Về Biển
 
Một mai chim bỏ bay về biển
Ta đứng một mình ngó nhánh sông
Ta khóc nhìn theo giòng nước chảy
Nghe trăm ngọn sóng vỗ trong lòng
(Sương Mai)
 
Một cánh chim vừa bay ra biển, nhỏ dần rồi mất hút giữa mênh mông. Tôi mơ hồ như hình ảnh của chính mình đang tìm về quê cũ. Hình dung đến thành phố Nha trang xưa, nơi mà nếu không có biển sẽ không còn lãng mạn để người ta nhắc nhớ, đắm say, cũng có thể làm nhẹ đi ít nhiều tiếc nuối của nhưng người Nha trang xa xứ.  Bờ biển cát từng chôn giấu những hang động tuổi thơ và ôm ấp dấu tích của bao cuộc tình thơ mộng, nước biển đã cuốn trôi đi, nhưng không thể xóa mất trong ký ức của nhiều cặp tình nhân mà bây giờ tóc ai cũng bạc. Âm thanh những ngọn sóng rì rào đã dệt nên những bài thơ, những bản tình ca từng làm khuấy động bao trái tim người, mà dư âm dường như vẫn còn vang vọng mãi.
 
Nha trang đẹp đẽ, hiền hòa và thơ mộng đó bây giờ đã không còn nữa. Đã trở thành một Nha trang xa lạ, như thuộc về ai đó chứ không phải của mình. Đó là cảm nhận xót xa của đám bạn bè tôi, không chỉ người đã rời xa mà cả những người vẫn còn ở lại với Nhatrang, sống với Nhatrang gần trọn một đời.
Nhà văn Nguyễn xuân Hoàng, một đồng môn huynh trưởng cùng trường Võ Tánh, sau 15 năm trở lại Nhatrang, đã viết:
“Mười lăm năm sau ngày ra khỏi nước, tôi quay trở về như một người xa lạ. Thành phố tôi đã ở thời tuổi nhỏ như nhỏ lại, những con đường quen đã xa lạ, tiếng sóng biển vọng lại âm thanh đều đặn kỳ quái của một vùng biển chết nào. Bãi cát không còn cái màu của thời tôi mới lớn và rừng dương đã bi xóa khỏi bản đồ trái tim.
… tôi trở về nhìn lại biển xưa thấy không còn lại chút dấu vết nào của những ngày trốn học, những buổi trưa hạnh phúc nằm trên bãi cát, gối đầu lên hai cánh tay, đấp mặt bằng cành lá dừa, ngủ một giấc chờ đến giờ tan học lủi thủi trở về”( trích trong “Nhà Từ Đường” tháng 5.2013- trên VOA)
Một chị bạn , hiện định cư ở thành phố Seattle bên Mỹ. Năm 1954 là một cô bé 7 tuổi, di cư theo gia đình từ Hà nội vào Sài gòn. Ông bố là quân nhân, được bổ nhậm ra một đơn vị ở Nhatrang. Cô rất vui mừng được theo cha ra sống ở thành phố biển. Thi đậu vào lớp đệ thất  trường Võ Tánh. Nhưng chỉ mấy năm sau lại bịn rịn bỏ lại bạn bè, theo bước chân cha ra tận Quảng Nam, rồi Huế. Sau này trở thành cô giáo trung học, lên cao nguyên sống với phố núi và đám học trò Kinh - Thượng, giữa chiến tranh vây bủa, may mắn sống còn trong lần di tản kinh hoàng trên con đường Tỉnh Lộ 7B.Vậy mà một thời tuổi thơ ngắn ngủi ở Nha trang lại là mảng quá khứ đẹp đẽ nhất. Trong ký ức và cả trong trái tim, chị đã dành ngăn lớn nhất cho Nha Trang . Sang Mỹ định cư khá lâu, chị háo hức trở về thăm Nha trang, để rồi “chỉ thấy lòng buồn rười rượi, bởi đang đi trên đất Nha trang mà cảm giác như mình là  kẻ lạ, không tìm thấy bóng dáng Nha trang của mình ngày trước”.
 
Hai người bạn học cùng lớp với tôi. Sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên và gần trọn một đời sống với Nhatrang. Trước 75 đều là thầy, cô giáo trung học, giờ chỉ âm thầm nhìn đời từng ngày trôi đi vô vị, viết những bài thơ buồn trước bao điều đổi thay ngao ngán. Họ ở lại với Nha trang cho đến hôm nay, sau bao nhiêu lần tưởng chừng Nha trang đã hất hủi, đuổi xô, không còn chỗ cho họ dung thân. Hai người bạn của tôi rất chí tình với bạn, sống chết với quê, vậy mà đã bao lần than thở: “không ra đi như mi, tớ ở lại với Nhatrang mà vẫn không tìm ra Nhatrang của bọn mình ngày trước! Không có gì đau hơn là sống trên chính đất nước mình mà cứ mãi hoài vọng một quê hương!” Và họ chỉ còn gặp lại Nhatrang trong ký ức, trong những bài thơ họ viết về một thời quá khứ, nghe chừng đã rất xa xưa như trong tiền kiếp:
chiều quá chén nửa đêm tỉnh giấc
mảnh trăng khuya vòi või chờ ai
trong cỏ ướt dế buồn thao thức
giữa quê nhà sao mãi hoài hương.
Từ buổi ấy đồng thu cỏ biếc
nghe âm u gió tạt mùa xa
người đứng giữa trời không - luyến tiếc
nghĩ ngợi gì tóc rủ sương pha.
….
Bao năm tìm lại con đường
nẻo xanh ngần ngại nghe chừng rất xa
chiều thu xứ ấy mù sa
tình thu thuở ấy cũng là chiêm bao.
(đ.ư.v)
 
Đám học trò bọn tôi thưở ấy, giờ tóc ai cũng bạc. Sau cuộc thăng trầm quá lớn, nhiều khi tưởng mình giờ là một người nào khác. Dù còn sống ở quê nhà hay lưu lạc tha phương, ai cũng đã phải trải qua một cuộc đổi đời bi thảm. Vết thương lớn, nhỏ trong lòng dường như vẫn chưa lành.
Lần trở lại Nha trang duy nhất để tìm bốc mộ thân phụ bên ngoài một trại tù “cải tạo”, cách đây đúng mười năm, tôi đi một mình trên những con đường xưa, nghe tiếng sóng vỗ xa xa mà trong lòng chỉ còn dội lại những dư âm ngày cũ.
Tôi may mắn gặp lại vài ba người bạn học. Nhưng dường như tất cả đều nở nụ cười không trọn. Vui đó rồi buồn đó, bởi mỗi người một số kiếp long đong.
Một thằng bạn rất thân,cùng học ba năm cuối ở trường Võ Tánh. To con, đẹp trai và học giỏi. Sau này cũng là bạn lính. Ở tù hơn bảy năm nên bạn bè ai cũng nghĩ là nó đã đi diện HO và đang nổi trôi nơi nào trên nước Mỹ, không ngờ tôi còn gặp lại nó ở Nhatrang. Mặc dù bây giờ nó không được phép ở lại trong ngôi nhà và thành phố Nha trang xưa của nó.
 
Sau sáu tháng vào tù, căn nhà nhỏ của nó ở Nha trang bị tịch thu, cô vợ “Bắc Kỳ nho nhỏ” mang ba đứa con (mà đứa lớn nhất mới vừa năm tuổi) giao cho bà nội ở trên Thành, Diên Khánh, rồi sang sông…về đâu đó, không bao giờ trở lại. Bà nội thì già, mấy đứa nhỏ bấu víu vào ông chú, vừa tốt nghiệp kỹ sư Nông Lâm Súc, nhưng bởi có ông anh là “ngụy đang cải tạo”, nên đi làm phụ hồ cho một ông thợ nề là bác họ. Trong lúc phụ hồ sửa sang một bệnh viện, anh làm quen được một chị đầu bếp. Không biết tài ăn nói thế nào mà anh làm cô động lòng trắc ẩn, thương cảm hoàn cảnh mấy đứa cháu dại không mẹ không cha. Cô sẵn sàng làm mẹ nuôi. Với tất cả tiền bạc và tấm lòng, đã cưu mang ba đứa bé không thua gì một người mẹ. Ba đứa nhỏ lớn lên cứ tưởng cô là mẹ. Cái tình mẫu tử này sao mà hiếm hoi và bi tráng quá. Thì ra trong cái thời nhá nhem tình nghĩa ấy vẫn có những tấm lòng còn hơn cả những chữ Từ Bi viết trong mấy ngôi chùa.
 
Bảy năm sau, thằng bạn tôi được thả về, cúi mình trước người con gái ân nhân để xin nói một lời tạ ơn. Cô nắm tay ngăn lại. Đúng giây phút ấy, bốn mắt nhìn nhau và cùng rơi lệ. Họ ôm nhau, yêu nhau rồi lấy nhau. Hôm gặp chị, tôi tò mò hỏi lý do nào chị lại yêu và lấy thằng bạn khốn cùng của tôi trong lúc chị còn con gái. Chị bảo vì không thể rời xa ba đứa nhỏ mà chị xem như con ruột của mình. Chính cái tình thương và sự gắn bó ấy mà chị trở thành vợ của ba nó. Còn tôi thì lại mơ màng suy ngẫm đến hai chữ duyên nợ của đất trời. Sau này chị làm đầu bếp cho một nhà hàng ở bờ biển Nha trang. Thằng bạn tôi và mấy đứa con vẫn sống trên Thành, vì với cái lý lịch đen, không thể xin được cái hộ khẩu trở về thành phố cũ. Còn chị vợ thì tiếc cái hộ khẩu ở thành phố, mà không muốn chuyển lên vùng quê Diên Khánh.
 
Cũng chính vì Nha trang đã tạo nên cái hộ khẩu mỗi người mỗi nơi ấy, mà khi thằng bạn của tôi được gọi phỏng vấn xin đi theo diện HO, bị phái đoàn Mỹ từ chối, trả lại hồ sơ và sỉ vả một trận, vì nghĩ chị vợ tốt bụng này chỉ là vợ giả, trả tiền cho nó để được bỏ nước ra đi. Chuyện tình ngay mà lý gian ấy cũng đã làm vợ chồng tốn kém và khốn khổ một thời. Sau mấy lần khiếu nại, cái ân sủng cuối cùng là: chỉ có người cha và ba đứa con được ra đi vào đợt cuối HO. Còn chị vợ sẽ vĩnh viễn không bao giờ được bước chân đến Mỹ.
Bạn tôi quyết định ở lại với người vợ ân tình, mà anh coi như ông trời đã sai xuống dương trần này để gánh vác cho mấy cha con.
 
Bây giờ ba đứa con đã là người lớn. Thằng bạn tôi ở nhà chăm sóc ngôi từ đường, nuôi mấy con heo và nấu cơm cho con cho vợ. Chị ấy vẫn làm ở khách sạn dưới Nha Trang, tối lại chạy về Diên Khánh!
Hôm đứa con gái lớn lấy chồng, chị khuyên mãi thằng bạn tôi mới báo tin cho bà mẹ ruột bạc tình, bây giờ đang lấy một ông chồng người Thụy Sĩ. Bà ấy cũng vác bộ mặt đầy son phấn trở về. Nhưng đứa con gái chỉ cho bà đến nhà hàng dự tiệc mà từ chối sự hiện diện của bà trong hôn lễ. Con bé bảo rằng, bà chỉ là một cái máy đẻ ra tôi, nhưng mẹ tôi chính là vợ của ba tôi bây giờ.
 
Tôi rót một ly rượu mừng cho cả cái vô phúc lẫn cái diễm phúc của thằng bạn cũ, nhưng rót đến hai ly để mời vợ nó. Một ly mừng và một ly để nói hộ giùm tôi lòng biết ơn và ngưỡng mộ.
Tôi quay sang bảo thằng bạn:- Dường như chính phủ Mỹ vừa cho mở lại diện HO, mày thử nộp đơn lại xem sao.
Nó xua tay:
- Tao chẳng cần đi đâu nữa, vì ở đâu có bà vợ tao đây là ở đó có thiên đường.
Tôi đùa:
- Mày nói còn hay hơn mấy ông linh mục trong nhà thờ.
Tôi choàng tay ôm vợ chồng nó mà nước mắt trào ra. Tôi nghĩ, nó vẫn còn tác phong của một thằng lính. Khi chia tay, nó ôm vai tôi buồn bã:
-Mày thấy không, cái thành phố Nha trang mà tao sống cả một thời đẹp đẽ, giờ cũng phụ bạc tao, gây cho gia đình tao bao khốn khó! Từ ngày thuộc về bọn CS, Nhatrang với tao là một vùng đất xấu, lạ lẫm. Mày còn nhớ tác phẩm tiếng Pháp “Le domaine maudit” của ông thầy Cung Giũ Nguyên?
Tôi thực sự chưa hiểu, chỉ thấy mơ hồ có một điều gì đó không ổn trong cách suy tư của nó. Nhưng tôi cảm được nỗi đau của nó.
 
Một cô bạn học từ những năm đệ ngũ, đệ tứ bên trường Văn Hóa. Một lần sang Mỹ thăm cô con gái là sư cô ở một ngôi chùa vùng Los Angeles, bất ngờ đọc được bài viết của tôi trong Đặc San Liên trường Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha Trang, trong đó tôi có nhắc đến tên nàng, rồi lần mò tìm ra tông tích của tôi. Ngày xưa là một cô bé khá xinh và học giỏi. Sau này có thời làm phóng viên chiến trường. Ông chồng gốc Võ Bị Đà Lạt, chết một tháng trước ngày có chuyến bay theo diện HO, nên nàng và hai cô con gái không được đến Mỹ. Dắt con lưu lạc khắp nơi, với một số vốn liếng của mẹ cha để lại. Nàng bảo nhiều lúc nhớ Nhatrang lắm, thử quay về, nhưng rồi thấy lạc lõng, mọi thứ chỉ mới đây thôi mà sao giờ trở thành xa lạ quá.  Cuối cùng, mẹ con quyết định mua một căn nhà bên cạnh Quan Âm Tự ở Sài Gòn xa lạ. Cô con gái út vừa học đại học vừa tu học trong chùa. Còn nàng thì tu tại gia và cũng là một nhà thơ. Hôm ngồi trên máy bay trở lại Bắc Âu, tôi đọc hết hai tập thơ của nàng ký tặng lúc chia tay. Có nhiều bài tiếc nhớ Nhatrang xưa. Nha trang của nàng và của đám bọn tôi. Nàng làm thơ Đường thật hay và cảm động. Tôi nghĩ, nếu Đức Phật mà đọc được thơ của nàng chắc cũng phải rơi nước mắt xuống tòa sen.
 
Một thằng bạn khác cùng học trường Võ Tánh. Sau này gặp nhau trong cùng một đơn vị lính. Đánh giặc rất lì, nhưng luôn bị “đì” bởi bản tính ngang tàng không nể mặt cả cấp chỉ huy. Trong khi đang ở tù ngoài Bắc, chị vợ ở nhà chán chường cuộc sống, lội xuống biển Nha trang tự vẫn, để lại một thằng con trai năm tuồi. Nơi người ta tìm ra thi thể của chị, chính là bờ cát dấu tích yêu đương hẹn hò, thưở hai người mới quen nhau.
 
Ra tù, không thể sống trên thành phố quê hương một thời đẹp đẽ giờ chỉ còn là mảnh đất thê lương tang tóc, mỗi ngày phải ám ảnh bởi cái chết đau đớn của người vợ trẻ đẹp dấu yêu, nó dắt mẹ già và đứa con thơ vượt biển. Sang Mỹ, nhờ mẹ chăm sóc cho đứa con, nó vừa đi làm vừa đi học. Được bạn bè khen, nó bảo: “chẳng phải tao siêng năng chăm chỉ gì đâu, nhưng vì không muốn còn có chút thì giờ rảnh rang nào để nghĩ ngợi mông lung, hồi tưởng về một quá khứ đau lòng”. Nó chưa bao giở về lại Nhatrang. Bạn bè ai cũng phục khi nó lấy được bằng Cao học Tâm Lý ( Master of Psychology) và có công việc làm lương cao, ổn định. Trong đám bạn bè bất hạnh, nó là đứa thành công nhất. Bỗng một ngày được tin nó chết. Chết đau đớn. Thuê phòng trong một khách sạn ở gần nhà, rồi đến đó dùng súng bắn vào đầu mình tự sát, để lại mấy lá thư. Tôi nhận được lá thư nó viết cho tôi, được cảnh sát giao lại, nét chữ đẹp đẽ ngay ngắn, chứng tỏ nó rất bình tĩnh trước khi tự kết liễu đời mình.
“Xin lỗi mày, tao đi trước mà không kịp chia tay với mày. Bọn mình rồi sẽ như những con chim đã đến lúc phải bay về với biển. Mày đừng nghĩ là tao buồn. Tao vui lắm đó. Thôi thì tao đi trước để dọn chỗ cho bọn mày, đám bạn bè thân thiết nhất của tao. Chỉ có một điều tao tiếc và ân hận là đã không được chết ở chiến trường như bọn thằng Lâm, thằng Bê, thằng Pho, anh Tài, Đức”.
 
Đọc xong thấy lòng đau đớn như có nhiều vết chém, vậy mà không biết vì sao tôi không khóc được.
Những người tiễn đưa nó hôm ấy, hầu hết là bạn bè cùng đơn vị xưa, và một số bạn học cùng trường Võ Tánh Nha trang.
 
Năm ngoái, một chị bạn cùng trường Võ Tánh, cùng học Ban C sau tôi một năm, định cư ở Canada, cũng đã ra đi, sau hơn hai năm chống chọi với căn bệnh ung thư. Tôi và có lẽ hầu hết bạn bè Võ Tánh rất mến phục cô bạn có tấm lòng và rất khí khái này từ những năm 1962-1963. Mọi người đã ưu ái tặng chị biệt danh “Nữ hoàng xuống đường”. Luôn sống hết lòng với bạn bè và quê hương đất nước. Quyết liệt, kiên cường trước những bất công, bạo lực. Những ngày lâm bệnh, sớm ngộ Đạo Đất Trời, chị buông bỏ tha thứ hết những hờn giận ân oán riêng tư. Một thời gian trước khi mất, chị vẫn  liên lạc trao đổi với tôi về những kỷ niệm Nha Trang, về tình hình chính trị ở quê nhà với  nhiều hy vọng, và tiếc là không thể sống lâu hơn để chứng kiến ngày chế độ Công sản man rợ độc tài cáo chung trên quê hương. Chị ra đi, để lại bao thương tiếc cho gia đình, người thân và tất cả bạn bè. Chị mong muốn và dặn dò, sau khi chị mất xin gia đình hỏa thiêu và mang tro cốt của chị rải ở ngoài khơi Thái Bình Dương để hương linh của chị theo biển trôi về quê nhà, bên kia bờ đại dương, ở đó có bãi biển Nha trang thơ mộng, nơi chị sống cả một thời tuổi thơ và lớn lên với những vui buồn, vinh nhục.Tôi hình dung đây không phải là cánh hải âu mà là một cánh đại bàng hùng vĩ, đẹp đẽ vừa bay về với biển.
 
Cuối tháng 2/2013, trước khi trở về lại Bắc Âu, tôi bất ngờ nhận được hung tin: hiền thê của một anh bạn qua đời vì một chứng ung thư khó chữa. Chị là cựu nữ sinh Nữ Trung Học Nha Trang, và sau này là một người đàn bà tuyệt vời. Gia đình anh chị là một đại gia đình quân đội. Các con của chị đều là sĩ quan trong quân đội Hoa Kỳ, một cô con gái tốt nghiệp từ quân trường nổi tiếng West Point. Sau này đều trở thành những bác sĩ, luật sư. Phu quân của chị là một người bạn, người đàn anh của tôi ở trường Võ Tánh cũng như trong quân đội ngày trước. Con nhà giàu, đẹp trai và tính tình hào hoa vui tính. Là môt sĩ quan trẻ đầy phong độ khi tốt nghiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, đối tượng của nhiều cô con gái Nha trang thuở ấy. Ngày anh quyết định làm đám cưới với chị, chắc chắn có nhiều cô tốn khá nhiều nước mắt. Cuộc tình đẹp. Một gia đình thành công, hạnh phúc. Chị luôn bặt thiệp vui vẻ, hết lòng với bạn bè, đồng môn, đồng đội cũ của chồng. Nụ cười lúc nào cũng nở trên môi. Ai cũng quí mến chị. Vậy mà đùng một cái, chị ra đi, đột ngột chẳng ai ngờ.
 
Hôm dự dám tang chị, rất nhiều bạn bè cùng khóa Võ Bị với anh và đồng môn thân quen thời Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha trang, từ mọi nơi về tiễn biệt. Trong nhà nguyện không còn chỗ đứng. Anh chồng ốm nhom, tiều tụy. Khi nói lời chia buồn, tôi ôm đôi vai gầy gò mà thấy thương anh, tội nghiệp. Khuôn mặt hốc hác, đôi mắt quầng thâm. Tôi nghĩ là anh đã khóc thầm nhiều lắm, ở cái tuổi đã trải qua bao thăng trầm mất mát, tưởng như không còn nước mắt.
Khi nhìn quan tài chị được đưa vào lò thiêu. Cửa lò đóng lại. Tôi tưởng tượng, lại thêm một cánh chim đẹp đẽ nữa vừa bay về với biển.
 
Tôi nghĩ rồi sẽ có môt ngày, thế hệ bọn tôi, những cô cậu học trò rời trường Võ Tánh vào những năm đầu thập niên 60, bây giờ đều đã trên tuổi 70, sẽ lần lượt ra đi. Tất cả cuối cùng rồi cũng là những cánh chim bay về với biển.
Bỗng lòng tôi chợt thoáng lên một chút băn khoăn. Những cánh chim di xứ ấy sẽ bay trở về đâu, khi Nha Trang ngày xưa của họ đã thực sự không còn. Thành phố đã cho họ một thời tuổi thơ đẹp đẽ hoa mộng, nhưng cũng đã để lại trong lòng họ quá nhiều đớn đau, mất mát sau cuộc đổi đời.  Những hang động tuổi thơ và dấu tích của những cuộc tình ngày xưa, tất cả giờ chỉ còn là cổ tích. Tôi nhớ lời thằng bạn còn ở lại Nha Trang, nhớ tới thầy tôi, nhà văn Cung Giũ Nguyên và tác phẩm Le Domaine Maudit viết từ năm 1961, như là một tiên tri của Thầy.
 
Phạm Tín An Ninh

Tro...* Phạm Ngũ Yên

Tro Quá Khứ Của Tình Yêu
(Thư Viết Từ Đường Heatherglen)
 
1.
Buổi chiều mùa đông cách đây nhiều năm, tôi rời căn phòng trọ đường Trần Hưng Đạo, Đà Lạt, gần trạm xăng Kim Cúc để gặp người bạn ở phi trường Cam Ly. Trong cái rét buốt của tháng mười hai và cái lấp lánh của nắng, những đóa Sư Nha mềm mại vươn mình trên bãi cỏ xanh màu ngọc bích. Từ màu vàng của hoa và từ những năm tháng phù hư đi về một mình trên đường phố trùng điệp sương mù và mưa bụi, tâm hồn tôi trưởng thành không kịp chờ đau khổ. Ai đó đã nói rằng đau khổ làm cho người ta khôn lớn, như nắng hoàng hôn làm cho trái sớm ngậm ngùi. Tôi đi qua những năm lính tráng bình yên nơi thành phố núi, nơi những cây anh đào mỗi năm một lần hé nụ. Nơi mùa đông làm khô lá trên các cành nhánh đường lên khu Hoa Bình. Thành phố thân thiết đến nỗi nhiều khi tôi tưởng mình sẽ không thể rời bỏ để đi, dù dưới con dốc của rạp Ngọc Lan, bến xe đò mỗi ngày huyên náo tiếng kèn xe mời gọi những cuộc lên đường.
 
Màu hoa giản đơn từ một góc tâm hồn đứa con trai hai mươi lăm tuổi vừa gia nhập vào đời, hôm nay ào ạt những dòng mưa lũ. Đời hoa không lớn lao, nhưng làm chật một quá khứ. Tôi biết có những tình yêu như vậy, một hôm nào em khép nép ghé qua, nhưng để lại hồn tôi những dấu giầy cháy nám hạnh phúc.
 
Mỗi đời sống đều ẩn trú trong nó một con đường, một góc phố. Đời sống cũng ghi nhận trên nó một dấu tích trầy trụa từ một chuyện tình buồn.
“có hoa có lá và người khóc,
em sợ ngày nao phải lấy chồng”.
 
Câu thơ tôi không nhớ xuất xứ. Nhiều năm tôi đọc lại vẫn với cùng y nguyên rung động xưa. Nhưng không phải như vậy. Không phải đứa con trai nào cũng buồn khi người ỵêu đi lấy chồng. Cũng không phải mọi người con gái đều khóc trong ngày vui đời con gái (khấp như thiếu nữ vu quy nhật/ tiếu tợ văn nhân lạc đệ thì).
 
Những con sáo sang sông không hề nhìn ngoái lại khu vườn cũ. Ngay cả một tiếng hót trong vút làm tê điếng trái tim cũng không hề. Trên những cành mạc lan lấm tấm màu thủy chung, tình yêu vừa đi qua những dâu bể. Tôi yêu những cuộc tình lẻ loi, ướt át ngấn lệ. Trong đó hai kẻ nắm tay nhau đi về một hướng đời bất trắc.
 
Họ sẽ lìa nhau hay cùng sống trọn đời với nhau trong một cõi sương chằng chịt? Tất cả đều đáng được tôn vinh. Tất cả đều đáng cho chúng ta kính phục vì đó là một mặt khác của hạnh phúc.
 
2.
Những ngày này gió thổi miên man trên đường chiều mịt mùng. Có những câu chuyện mới vừa viết ra một phần đầu. Có những chuyện còn dang dở.
 
Tin tức trên báo chí cho hay cuộc chiến ở A Phú Hản và Iraq đang sắp sửa khép lại với sự rút quân của quân đội Hoa Kỳ. Nhưng người ta không tin một xã hội vừa nhiểu nhương súng đạn cùng chết chóc hôm qua sẽ đi vào ổn định nhanh chóng.
 
Đâu đây vẫn còn vang động những tiếng bom tự sát vào đám đông, vào doanh trại của chính quyền. Đâu đây vẫn còn những tiếng súng bắn tĩa của quân phiến loạn vào các đoàn xe di chuyển. Vẫn còn sự phản đối chính sách Hoa Kỳ và sự có mặt của quân đội đồng minh trên mọi thành phố. Con số thương vong của lính Mỹ vẫn còn là một nan đề nhức nhối trên chính sách đối ngoại của các đời Tổng Thống Hoa Kỳ. Nhưng người ta vẫn có quyền lạc quan về sự hồi sinh của Iraq. Ánh sáng dân chủ đang le lói ở cuối đường hầm.
 
Có những dự tính trùng tu lại quốc gia Iraq sau thời chiến. Nhiều nước đã lập kế hoạch  tái thiết những di tích lịch sữ và điều này hứa hẹn sẽ thu về những số tiền khổng lồ. Một trong những di tích quan trọng là khu vực Al Qurna. Một vùng mà các nhà khảo cứu và ngay cả Kinh Thánh đều tin đó là nơi mà Thượng Đế đã lập ra vườn Địa Đàng. Từ nơi đó, Chúa đã tạo dựng ra hai người đầu tiên của nhân loại là ông Adam và bà Eva.
 
Cách đây nhiều ngàn năm Al Qurna là một vị trí quan trọng trong Cựu Ước. Bây giờ nơi đó đã hoang phế. Những viên gạch lát đường nứt vỡ và những lòng giếng khô cạn không còn nước. Những bờ tường lỗ chỗ dấu đạn. Những thập niên chiến tranh với Iran để củng cố chế độ, Saddam đã tàn sát cư dân sinh sống quanh đầm lầy nằm sâu trong vùng Al Qurna- là dân Marsh Arabs (dân Á Rập Đầm Lầy)- mà truyền thuyết cho rằng đó là hậu duệ của người Sumeria và Babylon. Chính nơi đây, giữa vùng Lưỡng Hà, nơi hai con sông Tigris và Euphrate chạy ngang qua bình nguyên Mesopotamia, mà mẫu tự Alphabet được sáng tạo và những bài trường ca anh hùng được hát lên. Chính nơi đây con người đầu tiên biết săn thú trồng trọt hoa màu. Những ngày của chúng ta được chia làm 24 giờ và chính nơi đây, tình yêu đầu tiên mọc lên để rồi sau đó kéo theo những đau khổ triền miên của con người.
 
Chính nơi đây, từ chiếc xương sườn của người đàn ông đầu tiên, Chúa đã dựng nên người nữ đầu tiên - Mẹ của loài người.
Chính nơi đây mà nước mắt và sự gian dối đã đươm hoa. Những tấm lòng rắn rít và nanh vuốt muông sói đã kèn cựa với trái tim cừu non nhân hậu. Những cây ô liu và những cây tật lê lớn lên cùng với cây vả.
 
Bây giờ nơi đó không còn sót lại một chút gì để gợi lại trong lòng chúng ta một bối cảnh nhân bản từ những trang Kinh Thánh ghi lại thời Sáng Thế. Và lịch sữ đã từng được Thánh hóa cũng bị soi mòn. Cây khuynh diệp linh thánh (cây Eucalyptus, còn gọi là cây bạch đàn) đã khô khốc và chết tự đời nào. Người ta gọi đó là Cây Adam, vì dưới nhánh cây nầy lần đầu tiên Adam nói chuyện với Đức ChúaTrời: “Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn, nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến, vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết” (Sáng Thế Ký đoạn 2 câu 17).
 
Mọi thứ đều khép lại cùng với quá khứ. Mọi thứ đều chôn lấp theo quá khứ.
Khi chúng ta đi dưới những hàng cây khô đầy lá úa mùa thu hay dưới sương mù rũ rượi làm ướt át mái đầu, điều gì đã làm cho chúng ta yêu mến đời sống này thêm lên? Đó là mùi vị và hương phấn của quá khứ. Đó là những nhịp rung nồng nàn từ trái tim và là hơi thở cũng se sắt những điều tình tự.
 
3.
Nhiều chục năm sau, chúng tôi là một trong những kẻ già nua sau một cuộc đổi đời. Từ một tầng lầu cao của khách sạn Holliday Inc. Chúng tôi nhìn xuống con đường đang tàn dần bóng nắng. Nàng ngồi tì tay vào lan can, mái tóc bay hồn nhiên như những ngày chưa có bão. Chai nước suối để trước mặt, và bên cạnh ly Martini uống chung. Mùa đông không rực rỡ một màu nắng, nhưng lòng chúng tôi đang bốc cháy nỗi đam mê. Qua vai nàng, tôi thấy tình yêu không có tuổi và hạnh phúc đậu xuống tựa một cánh chim. Những ngón tay vẫn trau chuốt tiệp với màu son trên môi. Phải chi đời sống không đúc kết bằng những phiền lụy vật chất và người ta yêu nhau trong một bối cảnh của một truyện thần tiên? Người ta sẽ sống bằng không khí và ánh sáng. Bằng mùi thơm của hương hoa và mưa bụi đất trời.
 
Mới vừa đây chúng tôi vừa trôi giạt trên hai nhánh sông buồn. Bây giờ chúng tôi quấn qúit với nhau như hai khóm lục bình run rẩy. Tự mỗi người, đều cảm thấy nên cất giấu những hư hao như cất giấu những món đồ phế liệu. Và chỉ nên bổ sung vào đó, những giọt nước mắt tàn lụn bốc hơi từ những hốc mắt buồn đau- thành những hạt muối làm vị mặn cho đời.
 
Đêm sẽ đến trong chốc lát và những ngọn đèn xe hơi sẽ có dịp sáng lên. Như trái tim sáng lên trong lồng ngực lạnh lẻo.
 
Tháng chin vừa qua tôi đưa nàng về San Antonio để thi Quốc tịch. Mùa đông còn lâu mới trở về nhưng hai bên đường đã có vài vạt cỏ vàng úa và buổi sáng có hơi nước ràn rụa trên mặt kính xe.
 
Một ngày nào đó nàng sẽ xa tôi vì đâu có gì tồn tại trên cuộc đời này? Tình yêu lại càng không thể dài lâu khi con tim đã chạm đủ đau buồn. Tôi biết như vậy và cảm thấy an lòng chờ đợi những biến động. Bên cạnh tôi, nàng ngồi lặng yên nhìn ra những đời xe nối đuôi nhau chạy về phía nam của con đường 35. Cây cối không còn màu xanh nhiều như những tháng vừa qua bây giờ chìm khuất đâu đó ở một dãy phố. Những ngôi nhà cao tầng bao quanh điện Capitol nằm chính giữa sáng nay đã bị những đám mây màu chì che lấp. Cảnh vật vừa mang một dáng vẽ lãng mạn, vừa pha một chút buồn rầu. Khi người ta mang trong trái tim mình một tình yêu, người ta sẽ không thấy mình già. Tôi đang có triệu chứng trẻ lại vì tình yêu nàng đang dành cho tôi? Lâu rồi, những góc phố vắng những trạm xăng huyên náo bên đường. Người ta hạn chế một vài chi tiêu không cần thiết vì nền kinh tế kiệm ước. Đời sống căng chật những nhu cầu trong khi hãng xưỡng chưa kịp trở mình.
 
Dù sao, tôi cũng sẽ tìm mua cho nàng một món quà nhân ngày sinh nhật. Tình yêu không nhất thiết phải hiện hữu những vật chất. Nhưng tình yêu sẽ bị phai nhạt vì thiếu vắng vật chất.
 
3.
Cách đây không lâu, có tin từ báo chí trong nước than phiền là đa số thanh niên trong nước- nhất là tại Hà Nội bây giờ không còn biết đến hai tiếng “cám ơn” và lời “xin lỗi”. Báo Lao Động cho biết như vậy. Và cho đó là hậu quả tất yếu vì sự thay đổi của nền kinh tế thị trường. Tức là nguyên nhân đến từ kinh tế chứ không phải đến từ nền giáo dục suy đồi.
 
Những năm tôi còn ở Việt Nam, chờ ngày ra đi, tôi đã biết những câu chuyện “tử tế” như vậy. Tôi đã biết chung quanh tôi, những em nhỏ đến trường mang trên vai khăn quàng đỏ với lòng kiêu hãnh làm cháu ngoan của bác thay vì kiêu hãnh làm con cháu của Trần Quốc Toản, Trần Bình Trọng. Tôi đã biết bằng tai nghe và mắt thấy, là để được vào đại học, học sinh không cần thông thuộc bài học trường lớp mà chỉ cần nhuần nhuyễn chủ thuyết Mác Lê. Họ chỉ cần mang tấm lòng Pavin vào đời (thép đã tôi thế đấy) thay vì tấm lòng của Mẫn Tử Khiên. Họ không biết đến Carnot. Không biết đến thầy Tử Lộ. Họ chỉ biết đến Nguyễn Văn Trổi và Võ Thị Sáu. Họ đã trồng người trên một thửa đất đầy căm thù giai cấp và ươm những tâm hồn thơ ngây bằng nấm độc được hái dọc đường Trường Sơn. Những con người họ trồng với những chất liệu như vậy, không cần trăm năm như lời bác dạy, chỉ cần vài chục năm, họ đã có kết quả.
 
Ở Việt Nam bây giờ, đang có rất nhiều Phù Đổng xuất thân từ Khu Dân Sinh
và chợ Cầu Ông Lãnh. Những Phù Đổng một sớm một chiều lớn lên không phải bằng nồi cơm tri thức mà bằng những nồi cơm được trộn với ma túy và thuốc lắc. Những Phù Đổng không phá nổi giặc Ân nghèo đói, nhưng cúi mặt trước những sức mạnh đến từ Bắc Kinh.
Qua mất rồi Hà Nội thanh lịch và con sông Hồng lộng lẫy chảy qua những cửa ô. Qua mất rồi những trái tim hồn nhiên của Loan và lãng mạn của Dũng. Của “đêm qua Hà Nội dáng kiều thơm...”
Khi tôi còn là học sinh Trung Học, trong lớp tôi có những người bạn gái là dân Hà Nội chính thống. Tâm hồn của họ ngày đó sao thơm những hoa ngâu hoa sói. Tâm hồn của họ bồng bế những bình minh mùa xuân và ngậm ngùi mùa hạ:
“Tình cô là đóa hoa đơn
Bình minh nở để hoàng hôn lại tàn”
(Nguyễn Bính)
 
Những tấm lòng thiếu nữ của họ ngày đó rất chân thật, rất nồng nàn. Như  họ sinh ra để bổ sung thêm cho cuộc đời này những má hồng môi thắm:
 
Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi
Nào đâu cái yếm lụa sồi
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang sông
Nào đâu cái áo tứ thân
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen...
 
Và:
Nói ra sợ mất lòng em
Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh
Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
 
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng cỏ nội bay đi ít nhiều…
 
Hay thơ của Quang Dũng:
 
Tiền nước trả em rồi, trưa nắng gắt
Tôi yêu em mà em đâu có hay…?
 
Và từ những ngày tháng êm đềm đó, tôi đã để lòng tương tư những cô gái Bắc. Như Nguyễn Bính. Tôi con trai miền Nam yêu vô vọng những cô gái Bắc Kỳ kiêu hãnh. Những “sư tử Hà Đông” tương lai và những “Hoạn Thư “ tân thời của thế kỹ sẽ mãi đi vào trái tim khờ dại của tôi, cho đến ngày tôi thi rớt, vào lính.
 
Nếu những thanh niên thiếu nữ Hà Nội không nhớ, hay quên dần dà hai tiếng “cám ơn” và lời “xin lỗi” thì tôi sẽ buồn ghê gớm. Tôi sẽ làm sao để không thổn thức về những tình yêu đi qua những năm tháng thanh xuân. Làm sao để hướng lòng cho đủ về những nụ cười làm rạng rỡ trái tim giữa rét căm Hà Nội, khi em là một cô bé chạy tung tăng một mình, năm cửa ô lùi lại sau lưng. Vạt áo tứ thân và đôi guốc mộc nhạt nhòa giữa lá cỏ trong khi mắt em cười dưới hồn nhiên của nắng
 
“Hoa sửa vẫn nồng nàn đậu phố đêm đêm
Có lẽ nào anh lại quên em?”
 
Câu thơ của ai viết về hoa sửa?
Tôi không biết hoa sửa là hoa gì và màu sắc như thế nào? Nhưng nói đến hoa sửa là người ta nghĩ về Hà Nội. Chỉ có Hà Nội mới có nhiều hoa sửa. Cũng như con gái Hà Nội luôn thanh lịch 36 phố phường. Có lẽ nào nhân cách của những tấm lòng thiếu nữ Hà Nội lại xuống cấp, để trái tim tôi đau đớn như ngày nào tôi đã từng đau đớn, vì một tình yêu đã gẫy.
 
4.
Bạn sẽ hỏi tôi làm thế nào để yêu mến được quê hương của tôi? Tôi xin trả lời là không ai có thể tự mình yêu hay ghét được một quê hương. Chuyện yêu hay ghét, không phải là một quán tính thông thường như yêu một cái áo hay một viên kẹo. Tình yêu đó như hơi thở, như không khí quanh ta mỗi ngày. Nó trộn lẫn trong trái tim ta bằng những nhịp đập của đất đai, của núi đồi, sông biển. Nó không thể bị đồng hóa hay bị vỗ ngực xưng tên. Nó không thể bị đánh lừa bằng chủ thuyết.
 
Quê hương của tôi không còn là chùm khế ngọt của Đổ Trung Quân, để tôi trèo hái mỗi ngày. Dù Việt Nam bây giờ vẫn còn nhiều những cây khế, nhưng chắc không còn tươm mật ngọt ngào. Những cây khế không còn quyến rũ những con quạ phương xa để quay về ngậm trái trên cành và trả lại một túi ba gang đầy đô la xanh đỏ.
 
Người ta, nhân danh kẻ thắng trận, đã lấy mất trong hồn tôi nhịp đập hào phóng của đất đai từ những ngày tháng tư. Họ đã ngăn chận những dòng chảy bình an và phì nhiêu của sông không cho thoát ra ngoài biển cả. Chỉ còn lại cánh đồng Việt Nam còn trơ gốc rạï còi cộc và những bông lúa lép bên đường...
 
Phạm Ngũ Yên

Sắc Son * Phạm Tín An Ninh

Sắt Son

Không ngờ tôi lại là người bưng tấm ảnh chị Ngà theo sau quan tài của chị. Và cũng chính tôi là người đào huyệt chôn chị. Đám ma của chị có lẽ là một đám ma buồn nhất mà tôi chứng kiến. Có cái chết nào lại không buồn.

Những ngày ở trong trại “cải tạo”, tôi đã từng khiêng xác vài người bạn tù đi chôn ở ven triền núi hoang vắng đến lạnh lẽo, trong cảnh nhá nhem của buổi chiều đông trên khu núi rừng Việt Bắc. Nhưng đó là chuyện trong tù, còn hôm nay ngay trên làng quê mình, chị Ngà đến nơi an nghỉ cuối cùng mà không có một người ruột thịt tiễn đưa, ngay cả cái áo quan cũng do bà con láng giềng góp tiền mua cho chị.
Chị nằm bên cạnh cha mẹ cùng người em trai, trên một ngọn đồi đầy những cỏ may và cây hoa bộng giếng, nhìn xuống cái làng quê mà gần cả một đời chị sống quanh quẩn ở đây, cô đơn, lặng lẽ. 
Chôn cất xong, mọi người ra về, tôi nán lại, dựng tấm bia bằng gỗ trước mộ chị. Khi ngồi một mình nắn nót viết cái tên của chị lên tấm gỗ, nước mắt tôi ràn rụa, mơ hồ như thấy mình đang trở về cái thời nào đó thật xa xăm.
Ngày xưa cha tôi làm thầy giáo, dạy trường Pháp Việt. Tôi mồ côi mẹ từ lúc mới lên ba, cho nên những ngày đi dạy học ông thường dắt tôi theo. Đến lớp, ông giao tôi cho mấy anh, chị học trò lớn của ông để tôi vừa chơi vừa  học. Nhờ vậy mà lúc còn bé tí xíu tôi đã biết “con ngựa cheval nhảy qua hòn núi montagne ăn cỏ herbe uống nước de l’eau “.
Trong số các anh chị dạy tôi học, tôi thích nhất là chị Ngà. Chị là con gái lớn của ông bà Tần, chuyên nuôi tằm, bán tơ, một gia đình thuộc hàng khá giả trong làng, có ngôi nhà ngói lớn, ở cách nhà ông bà nội tôi chỉ mấy cái vườn cây.
Chị Ngà có làn da trắng, mái tóc thật dài. Lúc nào gặp tôi chị cũng cười và nói năng nhỏ nhẹ. Nghe cha tôi nói lại, chị hiền lành ngoan ngoãn và học rất giỏi, nên là một trong số học trò cưng của cha tôi.
Thấy tôi mồ côi mẹ, lại là con của thầy mình, nên chị rất thương tôi. Ngay cả những ngày nghỉ, chị cũng thường ghé lại nhà ông bà nội, dắt tôi đi chơi, mua cho tôi mấy con bò, con gà bằng đất. Có điều tôi ít khi đến nhà chị, vì  rất sợ những con tằm. Tôi bảo đó là những con sâu, mặc dù chị tốn bao nhiêu công sức để nói về lợi ích của con tằm đã làm nên tơ lụa, và những con bướm đẹp đẽ đang bay ngoài vườn kia là hoá thân từ chính những con tằm. Nhưng lúc ấy tôi nghĩ là chị đã kể từ một chuyện thần thoại nào đó nên không tin những điều chị nói.
Cả một thời ấu thơ, lớn lên ở nhà ông bà nội, ngoài cô Út ra, chị Ngà là người mà tôi gần gũi nhiều nhất. Chị có một người em trai tên Ngọc, lúc nhỏ tôi rất phục tài đá banh của anh. Gần như không trận bóng nào có anh mà thiếu tôi trong hàng khán giả nhi đồng. Nhờ anh mà đội bóng của làng tôi giữ chức vô địch mấy năm liền trong huyện. Tôi mê anh đá banh, nhưng nhiều cô gái trong làng thì mê anh đẹp trai, cao lớn. Sau này anh đăng vào lính thủy quận lục chiến. Nghe nói anh đánh giặc hăng lắm, nên mới ba năm đã lên tới chức trung sĩ. Lâu lâu về phép dắt theo cô bồ có mái tóc quăn, trông anh oai phong lắm.
Khi tôi từ giã quê lên tỉnh học, cũng là lúc chị Ngà ra nghề làm cô giáo, dạy một lớp nhỏ  trường làng, rồi lấy chồng. Tôi cũng vinh dự được mời, và quà cưới tôi cho chị hôm ấy là bức tranh chân dung của chị do chính tay tôi vẽ. Tưởng chồng chị là ai, hoá ra là anh Phúc,cũng là học trò của cha tôi, học trên chị một lớp, người cùng làng. Nghe nói anh học giỏi, nhưng thầm lặng, ít nói và không thích giao du với bạn bè. Anh là con trai một của bà ba Tịnh. Bà góa chồng từ lúc nào tôi không biết. Chỉ nghe người ta bảo ông Tịnh theo vợ bé, là một cô đào trong gánh hát rong, rồi biệt tăm luôn.
Anh Phúc thi đậu lấy bằng primaire, nhưng viện cớ mẹ goá con côi, nên không đi làm công chức như những người khác, mà lại tự mình khai thác một khu vườn bên kia sông Gốc, trồng nhiều loại cây và có ao nuôi cá. Trong làng ai cũng khen anh biết tính toán và có lòng hiếu thảo.
Trong đám học trò của cha tôi cũng có vài anh khác ngắm nghé chị Ngà, nhưng vâng lời cha mẹ, chị lấy anh Phúc, bởi anh là con một của bà mẹ góa, được nhà nước cho miễn dịch, khỏi phải đi lính xa nhà, để chị còn được gần gũi săn sóc ông bà khi đến tuổi già.
Đám cưới nhà quê, nhưng khách khá đông, mà hầu hết là bạn học của hai người và cũng là học trò của cha tôi. Trong lễ cưới, sau khi cô dâu chú rể lạy tạ cha mẹ hai bên, rồi xin được lạy cha tôi một lạy để đền ơn sư. Cha tôi cầm tay anh chị dặn dò nhiều thứ, tôi không nhớ hết, chỉ còn mang máng hai tiếng thủy chung.
Từ ngày chị Ngà lấy chồng, tôi ít có dịp gặp lại chị. Mặc dù nhà chồng chị cũng không xa mấy, nơi ven làng, bên con sông Gốc, mà phía bên kia sông là khu vườn của anh Phúc và cánh rừng tiếp giáp với dãy trường sơn.
Tôi gặp lại chị đúng vào một ngày buồn. Chỉ đứng nhìn chị ấy khóc. Anh Ngọc, em trai duy nhất của chị, bị tử trận đâu trong Rừng Sát. Cha mẹ chị ngất xỉu khi nhận chiếc quan tài mà không hề được báo trước. Đám ma hôm ấy nghiêm trang lắm, có cả ông quận và mấy anh lính bồng súng chào đi theo. Tôi dìu chị đi sau linh cửu, tiễn đưa anh Ngọc đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Điều làm tôi - và nhiều người - ngạc nhiên là trong đám ma của anh Ngọc, không ai nhìn thấy mặt anh Phúc, chồng chị. Mọi  người thì thầm “cha nào con nấy, chắc là lại mê con đào hát nào, bỏ con Ngà rồi! ’’
Tội nghiệp cho chị và oan cho anh Phúc. Vì trước đó mẹ anh Phúc đã thay mặt con trai xin lỗi gia đình sui gia, bởi anh Phúc ốm nặng bất ngờ phải nằm bệnh viện.
Hai tháng sau, một trận lụt lớn tràn qua làng tôi, kéo theo một số nhà cửa và trâu bò, nhưng không có ai chết, ngoại trừ cái tin anh Phúc bị nước cuốn đi, khi anh còn ở khu vườn bên kia sông Gốc, chưa kịp về nhà.
Mẹ anh Phúc rước thầy ngồi đồng đi tìm xác anh Phúc suốt mấy ngày liền, nhưng người ta nghĩ là xác anh đã trôi ra biển.
Trong nhà cũng lập bàn thờ, nhưng chị Ngà nhất định không chịu để tang. Chị bảo linh tính báo cho chị biết là anh Phúc, chồng chị vẫn còn sống. Có thể trôi giạt đến một nơi nào đó rồi được người ta cứu như câu chuyện nàng Thúy Kiều mà chị thường đọc cho cha mẹ chị nghe...
Tôi rời quê vào Sài gòn học, rồi sau đó đi lính. Lâu lâu nghỉ phép về quê, tôi tìm đến thăm chị. Sau ngày cha mẹ mất, chị nghỉ dạy học, bán ngôi nhà ngói lớn của ông bà, đem tiền bạc về xây lại ngôi nhà mẹ chồng thành ngôi nhà lớn ba gian, mua luôn cả khu vườn bên cạnh có trồng đủ loại cây ăn trái. Chị dành lại một số tiền mở một nhà máy xay xát nhỏ, nuôi bà mẹ chồng bị đau bệnh mấy năm nay, chỉ nằm một chỗ.
Trong làng, có người thì bảo chị ấy “khôn nhà dại chợ, bán nhà cha mẹ để gây dựng nhà chồng, và mang cả bàn thờ cha mẹ, em út sang bên ấy, không sợ tủi hổ vong linh”. Nhưng cũng có người, trong đó có ba tôi, thì khen chị, bảo là “xuất giá thì phải tùng phu, con Ngà nó làm vậy là đúng theo sách thánh hiền !”
Không hiểu có phải vì chị nghe lời dặn dò của ông Thầy, từng khai tâm và dìu dắt chị nên người, thuộc lòng hai chữ thủy chung, nên dù chồng đã biệt tích từ lâu, chị vẫn ở vậy, thờ phụng nhà chồng, trong lúc chị vẫn còn trẻ và có nhan sắc trong vùng. Có mấy ông thầy giáo ở xa đổi tới từng mon men đến chị nhưng chị khước từ.
Ngày mẹ chồng chết, cũng chỉ có mỗi một mình chị mặc áo tang. Nghe nói cái đám ma đúng vào một ngày gió mưa, ảm đạm. Người ta không chỉ thương cho người chết, chẳng có chồng con trong phút lâm chung, mà còn tội nghiệp cho cả cô dâu, một mình cô đơn đi sau quan tài, tiễn đưa bà mẹ chồng về nơi chín suối, mà cũng đưa cuộc đời mình vào chốn quạnh hiu.
Chiến tranh càng lúc càng leo thang. Sau ngày mấy ông tướng nghe theo Mỹ hạ bệ và giết hai anh em ông Ngô đình Diệm, không biết đất nước có thực sự khá hơn không, nhưng ở quê tôi thì không còn bình yên như trước nữa. Một vài người làm việc trong chính quyền bị ám sát. Cứ vài ba tuần lại có một cuộc đụng độ giữa các toán dân vệ với quân du kích. Ba tôi phải bỏ quê, về sống ở thành phố, giao ngôi nhà từ đường của ông bà nội cho cô Út tôi chăm nom thờ phượng.
Tôi về phép thăm ba tôi đúng vào ngày giỗ ông nội, nên hai cha con cùng về thăm quê. Tôi gặp chị Ngà  khi vừa bước chân vào nhà ông nội. Chị đến đây từ sáng sớm, phụ cô tôi dọn dẹp nhà cửa, bàn thờ, chùi bóng mấy bộ lư đồng và mấy tấm liễn.
Thấy ba tôi, chị vòng tay cúi đầu thưa Thầy như cái hồi còn bé. Chị nắm tay tôi, miệng nở nụ cười. Nhưng nhìn trong đôi mắt chị, tôi thấy phảng phất buồn.
Không biết ba tôi thay đổi quan niệm từ lúc nào, sau đám giỗ, ông bảo tôi tìm chị Ngà, dặn chị ở lại cho ông nói chuyện. Ông khuyên chị Ngà nên bước thêm bước nữa, hy vọng còn sinh đẻ được để có mụn con, hầu tránh cảnh tuổi già đơn chiếc, chẳng có ai lo lắng cho mình.
Hôm ấy tôi cũng phụ họa nhiều điều và hứa sẽ làm mai cho chị. Lần này Chị không một mực khước từ, nhưng xin để tang mẹ chồng cho đủ ba năm. Tôi giận chị nhưng cũng cảm phục tấm lòng thủy chung của chị.
Tháng tư bảy mươi lăm, khi chị Ngà chưa mãn tang mẹ chồng, thì cả miền nam để tang cho đất nước. Cái “đại thắng mùa Xuân” của những người Cộng sản đã gây biết bao nhiêu thê lương tang tóc. Ba tôi bị bắt trong lúc tôi còn theo đơn vị từ cao nguyên“di tản chiến thuật” vào các địa danh xa lạ ở tận Long An tham dự những trận đánh cuối cùng cô đơn và buồn tẻ.
Miền Nam mất. Trong lúc những người Cộng Sản ngơ ngác hò reo chiến thắng, tôi lặng lẽ quá giang đủ các loại xe trở về quê. Tìm tới trại tù Đá Bàn, một mật khu lúc trước nằm sâu trong núi, nơi ba tôi bị giam giữ, nhưng cuối cùng tôi vẫn không được phép gặp ba tôi. Tôi về nhà ông nội, thăm bà cô út và thắp hương từ biệt trước bàn thờ gia tộc.
Cô tôi đau lòng cho biết, người ký lệnh bắt ba tôi là một anh học trò của chính ông ngày trước. Anh bỏ nhà lên núi rồi tập kết ra Bắc. Bây giờ đang giữ một chức vụ  khá lớn trong Uỷ Ban Quân Quản.
Cô tôi chưa kể hết câu chuyện thì chị Ngà đến. Chị nắm chặt hai bàn tay tôi, không nói điều gì. Tôi thấy chị đang khóc. Tôi nghĩ là chị thương và lo lắng cho cha con tôi trong cái cảnh sa cơ này. Tôi lấy lại bình tĩnh, chưa kịp nói lời trấn an, thì chị nhìn tôi nghẹn ngào:
-Em, em.. xin Thầy và em tha thứ cho chị. Chị không ngờ.., chị thật sự không ngờ.
Và chính tôi cũng không ngờ. Anh học trò ký lệnh bắt cha tôi chính là anh Phúc, chồng của chị. Tôi rút nhanh tay ra khỏi bàn tay của chị.
Dường như đây là lần đầu tiên trong đời, nhìn những giọt nước mắt - mà lại nước mắt của một người rất gần gũi thân quen – lòng tôi dửng dưng không hề xúc động. Tôi có cảm giác đắng cay của một người bị lừa gạt và phản bội. Tôi giận cho tình đời và thầm ân hận là cha tôi đã từng “nuôi ong tay áo”.
Tôi từ biệt làng quê và bà cô cả một đời nuôi nấng chăm lo cho tôi từ thời tấm bé, bước vào trại “cải tạo” với ngổn ngang trăm mối trong lòng. Tự dưng tôi mất mát gần như tất cả mọi thứ trên đời, kể cả những tình cảm mà tôi cứ ngỡ là nó sẽ không bao giờ mai một.
Hơn tám năm trong nhiều trại tù từ Nam ra Bắc, bị hành hạ đói khổ khốn cùng. Tôi sống còn có lẽ là nhờ những giấc mơ về quá khứ. Trong đó tôi bắt gặp lại hầu hết bóng dáng những người thân yêu của cái thời hạnh phúc. Và khuôn mặt xinh đẹp hiền hậu dễ thương của chị Ngà vẫn thường hiện lên rõ nét, mặc dù khi đầu óc tỉnh táo, tôi đã cố gắng xua đuổi hình ảnh ấy ra khỏi ký ức mệt mỏi của mình. Tôi thương chị mà hận chị. Tôi nghĩ là chị đã đồng lõa với nhà chồng để lừa gạt chúng tôi hơn mười mấy năm qua.
Ra khỏi tù, tôi không được phép về sống chung với vợ con ở thành phố Ninh Hòa, quê vợ. Lý do hết sức đơn giản là : chính quyền ở đó không nhận tôi tạm trú. Công an tỉnh bắt buộc tôi phải về “trình diện chính quyền”nơi sinh quán. Tôi lại một mình khăn gói về quê cũ, mà ở đó chỉ còn một bà cô già goá bụa sống âm thầm trong ngôi nhà từ đường có mái ngói âm dương của ông bà nội tôi để lại.
Nghe tin tôi về, bà con hàng xóm đến thăm. Mới hơn tám năm mà trông ai cũng già nua, khắc khổ. Trong số đó tôi để ý một người đàn bà, đứng ngoài cửa nhìn tôi, đôi mắt thất thần, đầu tóc rối bù, áo quần rách rưới bẩn thỉu. Tôi ngờ ngợ nhớ tới một người. Nhưng khi vừa đứng lên định bước tới hỏi thăm, thì bà ta vụt chạy về phía sau vườn.
Tôi ngẩn người khi cô tôi bảo nguời đàn bà ấy chính là chị Ngà, vợ anh Phúc ngày xưa.
Buổi tối, sau khi dắt tôi lên căn nhà thờ thắp hương lạy ông bà, cô tôi đóng kín cửa, khêu ngọn đèn dầu, ngồi kể cho tôi bao nhiêu nỗi niềm tâm sự.
Cha anh Phúc, theo lời tiết lộ sau này từ những đồng chí thân tín của anh Phúc, thực ra không hề theo một ả hát rong nào cả, mà bỏ làng vào bưng từ khi anh Phúc mới lên mười. Ông đã chết từ lâu, nhưng hàng năm vợ con vẫn nhận được thư ông do một vài người lạ mặt mang tới.
Trong mấy lá thơ, hầu hết là “động viên” tinh thần anh Phúc nối gót cha đi làm “kách mệnh”. Trước khi lên núi, anh Phúc làm quen, rồi tỏ ra yêu chị Ngà, nhưng thực ra đó là kế hoạch đã được các“đồng chí  thủ trưởng “ giao cho anh Phúc phải thi hành, để giải quyết việc nuôi nấng mẹ của Phúc, mà bọn họ biết là bà đã trở thành goá bụa từ lâu rồi.
Những ngày làm vườn bên kia bờ sông, anh Phúc đã hoạt động cho phía bên kia. Dưới căn hầm trong khu vườn là sào huyệt từng che dấu cho nhiều cán bộ. Sau một trận tấn công chiếm trụ sở xã bất thành, sợ hành tung bại lộ, anh Phúc đã lên núi rồi tập kết luôn ra Bắc, sau khi dựng lên vở kịch chết trôi trong trận lụt năm nào.
Tất cả mọi việc không phải chỉ để qua mắt mọi người, mà còn đánh lừa cả chị Ngà. Chị nhẹ dạ cả tin, nên ban đầu cứ tưởng chồng mình còn sống bị trôi giạt ở đâu đó, nên vẫn chờ đợi trong hy vọng. Sau một thời gian dài bặt vô âm tín, chị mới nghĩ là anh đã chết. Tội nghiệp, chị không hề biết là mình đã bị lừa dối để uổng phí cả một đời xuân sắc.
-Thế bây giờ ông Phúc ở đâu và vì sao chị Ngà lại ra nông nỗi ? Tôi hỏi.
- Sau ngày “giải phóng” chưa đầy một tháng, thằng Phúc đưa vợ con từ ngoài Bắc vô đây, giành lấy ngôi nhà do công sức của con Ngà gầy dựng, trong đó phần lớn là tài sản của chính cha mẹ nó. Con Ngà phải ra phía góc vườn che một cái chòi tranh để trú nắng trú mưa.
-Còn cái máy xay xát ở đâu mà trông chị nghèo khổ đến như vậy ? Tôi thắc mắc.
-Họ mang vào hợp tác xã. Thời gian đầu họ cho con Ngà làm công nhân xay lúa, nhưng lại trả lương bằng bo bo. Chỉ sau vài tháng tất cả các máy xay xát tâp trung về huyện, nó bị mất việc.
-Bây giờ gia đình ông Phúc vẫn còn bên ấy? Con không muốn có ngày gặp mặt ông ta.
- Thực ra nó giành nhà, nhưng chỉ ở một vài tháng rồi cho gia đình một“đồng chí”nào của nó cũng từ ngoài Bắc vào tá túc, trong khi chờ chia chác những ngôi nhà lớn mới tịch thu.
Sau đó thằng Phúc bán cả nhà lẫn vườn tược lại cho người khác, vào thành phố nhận một chức hàm lớn hơn. Con Ngà nó phát điên từ dạo ấy. Ngày nghe tin ba con chết trong trại tù cải tạo, nó như một kẻ không hồn. Ban đêm, người ta nghe tiếng nó gọi Thầy ơi, Thầy ơi rồi khóc nức nở.
Tôi theo cô Út, đi dọc theo phía sau mấy khu vườn, tìm đến chị Ngà. Trong căn chòi lụp xụp tối tăm, chị Ngà đang ngồi thẫn thờ trên cái giường tre như một pho tượng cũ. Trên đầu giường có ba tấm ảnh của cha mẹ chị và anh Ngọc, em chị, nhem nhuốc, úa màu. Không ngờ cái ngày đổi đời, người chồng biệt tăm bao nhiêu năm bây giờ bỗng dưng về, trở thành ông lớn thì cuộc đời của chị lại tàn tạ bi thảm như hôm nay.
Tôi ngồi xuống bên cạnh chị, ôm đôi vai gầy còm của chị mà trong lòng tựa hồ như bao nhiêu vết chém.
 -       Chị Ngà ơi, chị vẫn mãi mãi là chị của em mà. Em thương chị và sẽ lo lắng cho chị.
Chị Ngà ngồi bất động. Rồi bất ngờ òa lên khóc. Cô cháu tôi càng dỗ dành an ủi, chị lại càng khóc to hơn, tôi nghe tiếng ấm ức nghẹn trong cổ họng chị.
Tôi năn nỉ, khóc lóc với chị bao nhiều lần mới đón được chị về ở chung trong nhà ông nội. Tôi mang mấy tấm ảnh của cha mẹ chị và anh Ngọc về để một góc trên bàn thờ gia tộc. Từ ngày ấy chị khá hơn xưa. Những lúc ngồi tâm tình với cô cháu tôi, chị vui vẻ bình thường như thuở còn con gái, nhưng cũng có nhiều đêm khuya chị ngồi trước bàn thờ lẩm bẩm một mình và khóc sụt sùi.
Từ ngày có chị, tôi cũng thấy mình đỡ bớt cô đơn, và có lúc còn thấy mình hạnh phúc trở lại với cái thời thơ dại.
Vậy rồi chị lìa bỏ thế gian này cũng thật bất ngờ. Buổi sáng thức dậy sớm, tắm rửa xong chị thay quần áo mới, kẹp lại mái tóc, trông chị trẻ ra.
Cả ngày hôm ấy chị cười đùa hồn nhiên vui vẻ, ngồi ôn lại bao nhiêu kỷ niệm của những ngày tôi còn bé, và chị còn là cô học trò cưng của ba tôi. Khi vui, trí óc chị trở nên minh mẫn lạ thường. Chị còn nhớ bao nhiêu điều mà chính tôi đã quên từ lâu lắm.
Trước khi đi ngủ, chị còn ôm đầu tôi vào lòng, nhại một câu hát đã lâu “ may mà có em đời còn dễ thương..”. Và sau đêm hôm ấy, chị không bao giờ thức dậy nữa.
Trước ngày vượt biển, phải cắt ruột bỏ quê mà đi, tôi đến nghĩa trang gia tộc thắp hương cho ông bà và mẹ tôi, rồi đến thăm mộ chị cuối cùng. Trong lúc cầm ba nén hương đứng trước mộ chị, tôi nghĩ đến thuyết luân hồi của nhà Phật, và hình dung bây giờ chị Ngà đang sống ở một thế giới khác, xinh đẹp và rất hạnh phúc với một người chồng xứng đáng, bởi chị là một nguời đàn bà thánh thiện, sắt son.
Một con bướm trắng không biết từ đâu bay lại đậu trên tấm bia bằng gỗ, mà chính tay tôi đã dựng lên cho chị, nhịp nhịp đôi cánh rồi vụt bay theo cơn gió lốc, biến mất trong bầu trời xanh.
 
Phạm Tín An Ninh

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013