Thi Ảnh

Văn

Văn

Đôi Điều Về..* Phạm Tín An Ninh

Đôi Điều Về Một Vị Thầy Khả Kính:
GS Lưu Trung Khảo
 
Thời còn đi học, tôi không được may mắn học với giáo sư Lưu Trung Khảo. Thầy dạy ở Sài gòn và một vài trường ở các tỉnh miền Nam, tôi chỉ học ở Nha trang. Lúc vào lính tôi cũng chưa hề được gặp thầy, khi thầy có một thời gian trong quân ngũ. Thầy phục vụ ở Tổng Cục CTCT và Tòa Đô Chánh, còn tôi thì ở một đơn vị chiến đấu tại Vùng 2.
 
Sau 1975, Thầy định cư ở Mỹ, còn tôi ở mãi tận Bắc Âu, nên không biết những hoạt động của thầy. Sau này thỉnh thoảng đọc được một số bài viết của thầy, về chính trị, văn hóa và một số lãnh vực khác, tôi ngưỡng mộ một người hiểu biết rộng, rất nặng tấm lòng với quê hương dân tộc, và đặc biệt với các thế hệ hậu sinh. Thấy trước cái tên thật đẹp của thầy thường có kèm theo hai chữ giáo sư, tôi đi hỏi mấy anh bạn tốt nghiệp sư phạm, hy vọng đã từng là đồng nghiệp của thầy, cũng chỉ được biết có thời thầy dạy ở Nguyễn Trãi sau này là Chu Văn An, và cuối cùng về Bộ Quốc Gia Giáo Dục. Ngoài ra tôi cũng được biết thêm về các hoạt động rất đa diện và tích cực của thầy từ khi thầy đến  định cư ở Hoa Kỳ.
 
Năm 2007, nhân dịp sang Cali thăm con và mấy người bạn cùng đơn vị cũ, tôi bất ngờ được nghe vài chương trình Phật Giáo Hải Triều Âm trên Little Saigon Radio, có giới thiệu một số truyện ngắn của tôi: Người Bán Sách Trên Bãi Biển Nha Trang, Thằng Bé Đánh Giày Người Nghĩa Lộ, Tiểu Thơ, Đà Lạt Trời Mưa, Những Điều Mơ Ước… Người giới thiệu chính là giáo sư Lưu Trung Khảo. Tôi vui và hạnh phúc lắm, vì nghĩ mình chỉ mới tập tành viết lách, vậy mà được một vị giáo sư tiếng tăm giới thiệu và dành nhiều mỹ cảm cho các bài viết. Dù vậy, tôi cũng chỉ mới được nghe qua giọng nói từ tốn, mạch lạc và có sức lôi cuốn của thầy, nhưng chưa biết mặt thầy.
 
Đầu năm 2008, Tiến sĩ Trần Huy Bích, môt người tôi cũng chưa được hân hạnh quen biết, đọc ở đâu đó một số bài viết của tôi, đồng cảm và dành cho tác giả một cảm tình đặc biệt. Giáo sư Bích đã liên lạc với tôi qua email, hướng dẫn và khuyến khích tôi nên tập trung các bài viết để in thành sách, và ông sẽ giúp tổ chức một buổi ra mắt sách tại miền Nam Cali. Tôi khá bất ngờ, vì đó là điều tôi chưa hề dám nghĩ tới. Hơn nữa lúc ấy tôi còn khá lạ lẫm với Little Saigon, và ngại ngùng trước bao chuyện bon chen. Nhưng qua chữ nghĩa và lời nói, tôi biết đây là một vị thầy mực thước, khiêm cung, có tấm lòng nhân hậu đáng kính. Tôi vâng lời thầy dù trong lòng chưa hết băn khoăn. Lâu nay, tôi nghĩ viết lách chỉ là một hình thức giải tỏa phần nào những ẩn ức còn đè nặng trong lòng, và cũng chỉ để chia sẻ với một số đồng đội cũ, những bạn bè có tên trong các câu chuyện kể hay cùng hoàn cảnh thăng trầm, thế thôi. Tôi chưa hề có ý nghĩ phổ biến rộng rãi những bài viết, huống hồ chuyện in thành sách và ra mắt tác phẩm.
 
Giáo sư Trần Huy Bích liên tục khuyến khích, giới thiệu tôi đến một số bạn bè khác của thầy, những nhà văn, nhà giáo lão thành có tiếng tăm, trong số đó có giáo sư Nguyễn Thanh Liêm và giáo sư Lưu Trung Khảo. Lần đầu tiên nhận đựợc thư của thầy Lưu Trung Khảo, tôi vui và hãnh diện lắm. Không ngờ có một ngày được thầy gọi đến tên mình. Chưa gặp thầy, nhưng tôi cứ tưởng tượng và ái ngại, nghĩ mình từng là một đứa học trò dở, học hành nhếch nhác, liệu có xứng đáng được một vị thầy có tiếng tăm thương yêu, giúp đỡ.
Nhờ sự khuyến khích của giáo sư Bích rồi đến thầy Khảo, tôi mạnh dạn in tập truyện đầu tay “Ở Cuối Hai Con Đường” và xin chỉ xuất bản với mục đích góp vào quỹ Cứu trợ Thương Phế Binh VNCH. Điều mà tôi hằng ước ao, như để được trả phần nào món nợ máu xương quá lớn mà mình sẽ không bao giờ trả hết được.
 
Tháng 6/ 2008 tôi đến Mỹ. Giáo sư Trần Huy Bích tận tình giúp đỡ, đưa tôi đến gặp một số các cơ quan truyền thông: Little Saigon Radio, Radio Bolsa, Nhật báo Người Việt, Việt Báo, Viễn Đông, và đặc biệt gặp giáo sư Nguyễn Thanh Liêm và Lưu Trung Khảo. Hai thầy đã đồng ý giới thiệu tác giả và tác phẩm, không những trên một số đài phát thanh mà còn trong buổi ra mắt sách tại hội trường Nhật báo Viễn Đông.
 
Lần đầu tiên tôi được gặp thầy Lưu Trung Khảo tại văn phòng Hội Quán Tả Quân Lê Văn Duyệt của thầy Nguyễn Thanh Liêm. Hai thầy đã hỏi tôi nhiều điều về gia đình, cuộc sống, đặc biệt chia sẻ những đau đớn mất mát mà tôi đã phải trải qua trong và sau cuộc chiến. Thầy Khảo cho biết đã đọc qua tập truyện “Ở Cuối Hai Con Đường” và dành cho tôi nhiều khích lệ. Hôm ấy, tôi cùng đi với một người bạn. Anh là một sĩ quan cùng đơn vị, rất hiền lành. Sau 75, khi anh vào tù chưa tròn một năm thì cô vợ đã bỏ anh để lấy một cán bộ Cộng sản. Điều đau lòng hơn là ngay sau khi vừa mới ra tù, anh bị cô vợ bất nhân bất nghĩa này nghe lời xúi giục của gã chồng mới, đưa anh ra tòa với lý do là thời gian ở tù 7 năm chưa đủ “đền tội ác” để xin tòa bắt anh vào tù trở lại. Đã vậy còn đầu độc và xúi hai đứa con đến chửi bới hổn láo và định đánh cả cha ruột của mình. Kể xong câu chuyện, tôi nhìn thầy Khảo. Đôi mắt của Thầy đỏ hoe và vài giọi lệ còn đọng trên khóe mắt. Ngoài các đức tính khác, bây giờ tôi còn biết Giáo sư Lưu Trung Khảo là một người dễ động lòng trước nghịch cảnh, trái tim thầy luôn đầy ắp yêu thương, cảm xúc.
 
Buổi ra mắt tập truyện hôm ấy rất thành công. Phần lớn là nhờ sự giúp đỡ tận tình của Giáo sư Trần Huy Bích, và đặc biệt là sự thương yêu, cổ võ và những lời giới thiệu rất chí tình, cảm động của thầy Lưu Trung Khảo.
Tôi tự biết và cũng không bao giờ dám nhận mình là một nhà văn.  Về khả năng viết lách, tôi thấy mình vẫn mãi chỉ là một đứa học trò. Nhưng điều làm tôi vinh dự và hạnh phúc là được làm học trò của thầy Bích, thầy Liêm và thầy Lưu Trung Khảo.
 
Một người từng trải, khiêm cung như thầy, chắc chắn không thích người khác ca ngợi, nói tốt về mình. Kính mong thầy thứ lỗi. Viết những dòng này chỉ muốn nhắc lại vài kỷ niệm ít oi mà tôi may mắn đã có với thầy. Có thể, đối với thầy chỉ là nhỏ nhoi, nhưng với tôi là  rất đáng trân quý. Và cũng để mừng thầy trong ngày thượng thọ 80, khi tôi không có mặt chúc thọ thầy, để được nói với thầy một lời cám ơn, dù rất muộn màng.
 
Phạm Tín An Ninh
 
(Mời Xem Những Bài Viết Khác Của Phạm Tín An Ninh Ở Trang Văn Xuôi)

Bài Thơ Cho Bạn Tôi

Bài Thơ Cho Bạn Tôi
 
(Tưởng niệm Nguyễn Phương Loan)
 
Dáng anh cao lớn và oai nghiêm, thoạt trông trẻ con hoảng sợ. Nhưng rồi chúng đến vây quanh anh thân ái, khi chúng nhìn thấy đôi mắt hiền, buồn như mắt của một nghé tơ và giọng nói nhẹ dịu lòng. "Các cháu lại đây với chú. Nào, lại đây với chú"
 
Anh hãy còn độc thân. Anh yêu một người con gái, nhưng nàng không yêu anh, đã từ lâu, và anh còn yêu nàng mãi... Anh vẫn viết thư thường xuyên cho nàng, những bức thư là những bài thơ tình tuyệt vời không bao giờ có hồi âm.
 
Bạn tôi, anh là lính trận, nhưng cũng là một thi sĩ. Tôi nghĩ rằng anh chỉ là một thi sĩ. Anh viết những bài thơ trong bụi rậm, trên quyển sổ tay nhỏ, giấy bao thuốc lá hay những mảnh giấy vụn. Những bài lục bát không bao giờ xuất hiện trên mặt báo. Nhưng cây lá, những cỏ mọn hoa hèn và côn trùng - những chú dế nhỏ, cào cào, sâu bọ - biết qua giọng ngâm gợi cảm của anh. Và vài người bạn thiết nhận được những bài thơ của anh từ những vùng hành quân xa xôi.
 
Anh liên miên đi từ chiến trường này đến chiến trường khác.
 
Đầu Thu: Anh đang ở mặt trận Tây nguyên, Kontum. Nơi đó có gia đình vợ con tôi. Anh thường ra thăm lũ trẻ, đem theo những viên kẹo và những chiếc bánh ngọt - anh đã mua với số tiền nhín ra từ đồng lương ít ỏi của anh.
 
Khi tôi về phép thăm nhà thì anh đã theo đơn vị đến một chiến trường khác vùng duyên hải. Tôi không được gặp anh.
 
Anh gởi người bạn mang về cho tôi tập thơ “Kẻ tiên tri” của Kalil Gibran, anh đã cẩn thận, sửa những lỗi in sai. Anh viết cho tôi trong một bức thư ngắn với nét chữ run rẩy, rằng anh đang bị sốt rét rừng. Anh gởi lời thăm tôi và gia đình an mạnh, mong giữa mùa thu sẽ gặp lại. Tôi viết thư trả lời anh. Cầu chúc anh luôn gặp những điều may mắn và cũng mong sẽ còn gặp lại nhau.
 
Nhưng anh đã nhận được thư của tôi chưa?
 
Giữa mùa thu:
 
Tôi được tin anh đã trở lại chiến trường Pleime, nơi đó anh bị thương. Một mảnh thép đã len vào thân thể anh, nằm trong phổi khiến máu anh chảy ra nhiều cùng với những chiếc bong bóng màu hồng. Việc tản thương chậm chạp và anh đã bất tỉnh. Anh vào nằm bệnh viện và qua một cuộc giải phẫu.
 
Người bạn anh nhờ mang sách về cho tôi kể chuyện:
 
Buổi sáng, anh tỉnh dậy sau cơn mê man suốt đêm. Anh đã ngồi lên được và anh hút thuốc - thú vui duy nhất của anh đó mà. Buổi trưa anh cảm thấy mệt nhiều. Anh đã nói với người bạn nhờ nhắn lại cho gia đình tôi biết, nếu anh mệnh hệ nào. Đúng nửa đêm hôm đó...
 
... Bạn tôi, người bạn thi sĩ mà tâm hồn cao thượng và hiền hòa như lá cây đã vĩnh viễn từ biệt cuộc đời.
 
Có linh hồn không? Và linh hồn anh đã bay về đâu? Hẳn là linh hồn anh đã nhập vào những nụ xanh của một mùa xuân vĩnh cửu. Hay đến cư ngụ nơi một vì sao, trong ánh trăng vô thủy vô chung, hay đang bay lượn trên những tầng thanh khí? Ở đó, anh không còn là thi sĩ nữa, anh chính là thơ. Một bài thơ vô thanh vô sắc mà con người chỉ có thể nhận ra bằng linh cảm, với xúc động bàng hoàng. Một bài thơ đẫm lệ âm u.
 
Từ nay, trên thế gian, không nơi đâu tôi có thể tìm thấy bạn tôi, với nụ cười hiền hòa và đôi mắt như mắt một con nghé tơ nữa. Cuộc đời chúng tôi đã bị chia cách bởi một vực thẳm huyền bí mang tên Tử biệt. Chúng tôi có bị chia cách thật không? - Không - Tôi muốn tin như thế cho đến ngày tôi bước vào thế giới của anh và cuộc đời chúng tôi được nối kết lại - anh vẫn còn tiếp tục sống trong đời sống của tôi.
 
Tôi lần dở những trang sách anh tặng tôi vào đầu mùa thu. Thỉnh thoảng tôi bắt gặp vài nét chữ của anh. Hẳn những dấu tay anh mà tôi không trông thấy còn in lại trên những trang sách? Những trang sách giữ lại một cách vô tình hơi hướm của anh? Tôi đọc lại bức thư cuối cùng. Những nét chữ run rẩy vì cơn sốt rét rừng giờ đây run rẩy trong tâm hồn tôi.
 
Sáng nay, một buổi sáng xanh có nắng trong nhuộm rực rỡ khu rừng nơi dừng quân, tôi nhớ đến bạn tôi. Tôi muốn nghĩ rằng ở một nơi nào đó anh vẫn còn đang sống. Trong ánh nắng vàng trong vắt của bình minh kia anh đang cười và trên những chiếc lá xanh kia anh đang viết những câu thơ lục bát bằng ngòi viết tâm hồn anh và mực nắng ban mai. Anh đang nhớ đến người con gái anh yêu, gia đình anh, bè bạn và đời sống.
 
Nhưng không, mặc cho sự phỉnh phờ của cơn mơ mộng, trong tận cùng tâm trí tôi có một nơi bóng tối không chịu rời xa - dù chỉ một chút bóng tối nhỏ nhoi - từ đó một tín hiệu âm u liên tục đánh đi và tâm hồn tôi luôn tiếp nhận, rằng: “Bạn anh đã chết! Bạn anh đã chết! Đã. . . chết!"
 
Kinh Dương Vương
 
Mời Xem Những Bài Viết Khác Của Kinh Dương Ở Trang Văn Xuôi

luân Hoán...* Tuyền Linh

Luân Hoán Với Giai Nhân
 
1. Phần Đời
 
  Luân Hoán tên thật là Lê Ngọc Châu, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1941 (năm Canh Thìn) tại phố cổ Hội An. Cha anh là ông Lê Hoán và mẹ là bà Nguyễn Thị Luân. Bút hiệu Luân Hoán được ghép từ tên cha và tên mẹ của anh. Ngoài ra, anh còn các bút hiệu khác như: Châu Hải Châu- Cự Hải-Trần Gia Nam- Lý Phước Ninh- Lê Bảo Hoàng.  Quê nội Luân Hoán ở làng Liêm Lạc, Hòa Đa, Hòa Vang Quảng Nam, quê ngoại tại Vĩnh Điện, Điện Bàn Quảng Nam. Trong nhiều năm chiến tranh ( 1945 ) gia đình anh di tản về sống ở vùng Tiên Phước Quảng Nam. Vào năm 1951, gia đình anh lại di chuyển về sống tại Huyện Hòa Vang, và sau cùng về định cư tại Thành phố Đà Nẵng. Đến ngày 02 tháng 02 năm 1985, anh được người em trai bảo lãnh để qua sống tại Montreal Canada. Anh là cựu học sinh Trường Trung Học Phan Chu Trinh Đà Nẵng.
  Tính tình Luân Hoán rất trầm lặng, ít nói, phong cách xề xòa, lè phè, rất rõ nét là một nhà thơ từ khi còn ngồi ghế nhà trường. Luân Hoán sống nội tâm nên ít thích nhóm họp, tiệc tùng nơi đám đông. Anh đam mê nhất là Thơ, ngoài ra Luân Hoán cũng thích hội họa, âm nhạc, nhiếp ảnh, nhưng Thi Ca vẫn là con đường chính anh chọn và theo đuổi cho đến bây giờ. Luân Hoán biết làm thơ từ nhỏ,
từ lúc lên mười, nhưng là những bài thơ rất ngô nghê của tuổi thiếu niên, như bài Hàm Tiếu v..v…
  Luân Hoán bắt đầu viết chính thức từ năm 1960, thường có bài trên các báo: Gió Mới-Tuổi Xanh-Thời Nay- Phổ Thông-Bách Khoa-Văn Học-Mai- Ngàn Khơi- Kỷ Nguyên Mới-Văn-Trình Bày (trước 1975 ). Anh cũng có chân trong Ban Biên Tập các Tạp chí Văn học Sài Gòn ( 1964 – 1975 )
Từ khi chuyển về sống ở Canada, thơ anh cũng góp mặt trên nhiều báo tại hải ngoại.
 
Tác Phẩm Đã Xuất Bản: Về Trời ( Văn Học-Sai Gòn, 1964 ) Trôi Sông ( Văn Học-Sai Gòn 1966 ) Chết Trong Lòng Người ( Ngưỡng Cửa, 1967 ) Viên Đạn Cho Người Yêu Dấu ( Thơ, 1969- tái bản 1995 ) Hòa Bình Ơi Hãy Đến ( Thơ, 1970, cùng Phạm Thế Mỹ và Lê Vĩnh Thọ ) Nén Hương Cho Bàn Chân Trái ( Thơ, 1970, với các bạn văn ) Thơ Tình ( in cùng Khắc Minh, nxb Thơ, 1970 ) Ca Dao Tình Yêu ( nxb Thơ, 1970, cùng Khắc Minh ) Lục Bát Ca ( cùng Lê Vĩnh Thọ và Vĩnh Điện, nxb Thơ, 1970 ) Rượu Hồng Đã Rót ( nxb Thơ, 1974, tái bản 1995 ).
  Từ khi qua định cư tại Canada, Luân Hoán cũng đã xuất bản khá nhiều sách, như: Ngơ Ngác Cõi Người, Đưa Nhau Về Đâu, Cám Ơn Đất Đá Trổ Thơ, Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài, Mời Em Lên Ngựa, Nuôi Thơm Chùm Kỷ Niệm Xanh, Cỏ Hoa Gối Đầu, Sông Núi Cùng Người Thơm Ngát Thơ, Tác Gỉa Việt Nam ( Tự Điển dưới tên Lê Bảo Hoàng ) Ổ Tình Lận Lưng, Em Từ Lục Bát Bước Ra, Theo Gót Thơ, Thanh Thi…..
 
2. Thơ và Giai Nhân
 
  Nói đến thơ của Luân Hoán thì bao la lắm, nói cả ngày  cũng không hết, bao la như tình của anh đối với Giai Nhân vậy. Thơ Luân Hoán mang hơi thở rất riêng, không giống nhà thơ nào cả. Chính cái riêng đó làm cho tôi và các bạn cùng trang lứa, cùng Lớp cùng Trường mê mệt và luôn nhớ đến anh, như luôn nhớ đến thời hoa niên của mình  – anh đúng nghĩa là một nhà thơ lớn của tuổi học trò. Anh làm thơ như đùa giỡn với thơ, trêu ghẹo ngôn ngữ. Những ngôn từ anh dùng trong thơ thật bình dị, chơn chất, y như đi đứng, ăn uống và tắm rửa hàng ngày. Thơ anh không trau chuốt, gọt giũa nhưng lại đầy sức sống, truyền cho người xem nhiều rung cảm . Chất ngọt ngào trong thơ Luân Hoán không phải vị ngọt của thứ đường đã được tinh luyện, mà là vị ngọt của cây mía lau mía đường nơi ruộng đồng thôn dã. Sự bình dị chân phương mà Luân Hoán có được trong thơ là cả một nghệ thuật, không phải ai cũng có thể viết được như thế. Nhờ tính chất chân phương này nên thơ Luân Hoán mang rất nhiều nhạc tính ( musicalite ). Tôi đã phổ nhạc thơ Luân Hoán rất nhiều, nhưng tiếc là điều kiện tài chánh chưa cho phép nên mới chỉ thu âm được ba bài ( Em và Thơ, Hỏi Thật và Bệnh Rình Hương Sắc ). Hy vọng một ngày gần đây, tôi sẽ trình làng tiếp những nhạc phẩm tôi đã phổ từ thơ Luân Hoán.
  Với Luân Hoán, thơ chính là hơi thở, luôn hít vào thở ra từng giây…từng phút…từng giờ…và cứ thế nối đuôi nhau không bao giờ dứt được. Bởi thế, thơ luôn theo anh cả lúc ăn, lúc thức giấc, lúc đi đường, lúc đứng đợi xe, lúc làm việc, và ngay cả lúc đang dạy học:
                   
                
                      tôi đứng lặng vài giây trên bục giảng
                      giáo án thuộc lòng bỗng chốc lãng quên
                      nét phấn lạc dòng chữ run mặt bảng
                      trở lại bàn hồn nghe đã lênh đênh
 
                      thôi tôi hiểu ra rồi em bé bỏng
                      chẳng có gì mới lạ phải không em
                      trái tim đựng bao nhiêu điều bí mật
                      cũng chỉ là tôi đã chớm yêu em
                                                         (Điều Bí Ân Bình Thường)
 
Như tôi đã nói ở trên, thơ luôn theo anh, và anh luôn theo thơ, cũng như anh luôn theo gái vậy. Nếu suy nghĩ của tôi không quá chủ quan thì  trên đời này không có giai nhân, Luân Hoán chẳng bao giờ có được thơ hay (?) Anh yêu mỹ nhân như yêu chính bản thân mình, có nhiều khi còn hơn thế, phải không Luân Hoán ? Vậy thì Luân Hoán biết đến mỹ nhân từ lúc naò ? Chúng ta cùng nghe anh thổ lộ:
                      
                      Khi gặp em độ chừng lên 8
                      Tôi chớm 10 rất đỗi ngô nghê
                      Em quá đẹp bởi vì em lai Pháp
                      Tôi lên rừng rồi trở xuống nhà quê
                       …………………………………..
                      Tôi mỏi đớ nắm chân em lưỡng lự
                      Tay vụng về tinh nghịch úp lung tung
                      Em ú ớ nói gì như đang mớ
                      Tôi khi không nghe nhịp máu lạ lùng
 
                      Từ phút đó nằm thức hoài đến sáng
                      Tưởng tượng ra nhiều chuyện chẳng đầu đuôi
                      Da em ấm tôi hít hà ngột thở
                      Nghe nhiều nơi rất khác lạ trên người
                                                                              (Hàm Tiếu)
                                       
  Đọc xong những câu thơ trên của Luân Hoán, tôi biết nhiều đọc giả sẽ thắc mắc và muốn đánh đòn Luân Hoán. Tại sao biết yêu sớm vậy ? Xin thưa, đây không phải là một tình yêu đúng nghĩa giữa đôi trai gái. Đây là một hiện tượng tâm sinh lý ở tuổi vị thành niên. Luân Hoán cũng như bao thiếu niên khác, do trong thời kỳ phát triển cơ thể mất cân bằng nên đã dẫn đến những thay đổi tâm sinh lý, làm xuất hiện cảm giác, cảm xúc mới lạ đối với người khác phái. Vì Luân Hoán có tài biết làm thơ quá sớm nên Luân Hoán bộc bạch ra được, thế thôi, còn những em thiếu niên khác thì luôn giữ kín trong lòng. Dẫu sao, cũng cám ơn Luân Hoán, anh đã cho mọi người thưởng thức những câu thơ rất ngô nghê, rất thật và không kém phần dễ thương ( da em ấm tôi hít hà ngột thở- tay vụng về tinh nghịch úp lung tung ). Rất dễ thương !
 
  Thơ của Luân Hoán luôn cuốn hút người đọc, thi phong thật đằm thắm, nhẹ nhàng, và rất diễm tình:
 
                      mười sáu tuổi em tập làm thiếu nữ
                      vai tóc thề áo lụa trắng bay bay
                      quai nón đỏ ngậm hờ vành môi ướt
                      vuông khăn thêu kín đáo xếp trong tay
 
                      em đến lớp nắng theo đùa trên áo
                      cặp che ngang ngực thơm ngát ngọc lan
                      tay giở vở tưởng chừng như đệm nhạc
                      hồn thanh xuân em lót xuống từng trang
                                                                                      
                                                                (Điều Bí Ân Bình Thường)
 
  Thơ anh không thể nói là không hay được, Luân Hoán dùng những từ ngữ rất mộc mạc, dung dị, nhưng cách dùng từ ngữ của anh rất uyển chuyển khiến thơ Luân Hoán luôn uốn lượn, bay bổng. Tiếng thơ anh chính là những cung bậc bổng trầm trong âm nhạc :
 
                      Em từ bụi chuối bước ra
                      Ánh trăng làm nũng chao qua ống quần
                      Niềm vui giấu dưới bàn chân
                      Vỡ theo sợi gió lâng lâng ngậm ngùi
                                                                       
                                                                 (Trăng Đêm Nở Hoa)
 
 
                      Mỗi lần sắp sửa yêu ai
                      Tự nhiên mặt mũi tóc tai lạ lùng
                      Hình như có triệu vi trùng
                      Ngo ngoe đòi được nhớ nhung với mình
                                                                               
                                                                         (Triệu Chứng)
 
  Hình như Luân Hoán thật sự đi vào con đường tình ái năm mười sáu tuổi, cái tuổi đầy mộng mơ, thêu hoa dệt gấm. Tuy nhiên, tình yêu thời bấy giờ của chúng tôi không thực tiễn như thời a còng (@) này, hễ yêu nhau là tự nhiên, tự do đủ mọi mặt, thậm chí có thể sống thử với nhau. Ở thế hệ chúng tôi, giữa đôi trai gái yêu nhau, chỉ biết nhìn mặt nhau, trao gởi những tình thư rất kín đáo, người nào bạo dạn lắm thì cũng chỉ biết nắm tay nhau là cùng. Tất cả nỗi lòng của mình đều được giấu kín, chẳng ai biết, ai hay. Cũng vì thế đã có những mối tình đơn phương rất tội nghiệp, chẳng hạn như tôi đây. Tôi thầm yêu trộm nhớ một cô nữ sinh học dưới tôi hai lớp, tôi học Đệ Ngũ, cô ta học Đệ Thất, chúng tôi cùng học tại Trường Trung Học Phan Chu Trinh Đà Nẵng. Tôi và cô ta cùng cư trú trong Làng Nại Hiên, cùng chung đường về nhà sau khi tan trường, nhưng suốt mấy năm trời tôi không dám hé một lời. Tôi cũng không hiểu tại sao lại như vậy. Để cuối cùng, buồn tình, tôi viết một bài thơ gởi đăng trên báo Bán Nguyệt San Phong Lan và bỏ đi biệt xứ. Tôi còn nhớ, năm đó là cuối năm Đệ Nhị. Mối tình đầu đời của tôi gói gọn trong bài thơ sau:
                   
                  
                      Áo tím em mang tự thuở nào ?
                      Kinh kỳ ngập nắng rộn xôn xao
                      Áo em lã lướt trong gió thoảng
                      Hứng lại giùm ta chút máu trào
 
                      Ta đến nơi đây nén dặm đường
                      Mập mờ áo tím lướt trong sương
                      Mắt em xanh quá là xanh quá !
                      Ta biết rồi ta sẽ đoạn trường
 
                      Dáng liễu đong đưa tắm ánh hồng
                      Mây buông lõa xõa cợt thu phong
                      Trân Châu chừng tưởng là sương nhạt
                      Em nỡ không mang chiếc áo hồng ?
 
                      Lê gót tìm hoa thỏa ước mong
                      Những tưởng em mang chiếc áo hồng
                      Ngờ đâu em đắp lên màu tím
                      Tím cả lòng ta mấy độ trông
 
                      Mây xám chiều nay đổ xuống rồi
                      Rớm sầu nguyệt lệ ánh sao rơi
                      Đường về lối nhỏ hoa tim tím
                      Cánh bướm bay qua tủi phận đời
                            
                                                             (Áo Tím – Tuyền Linh)
 
  Luân Hoán thì khác tôi, anh ấy bản lĩnh hơn tôi trong việc giao tiếp với phái nữ, chỉ hơn tôi thôi vì tôi quá nhát gái, chứ thật ra theo  nhận xét của bạn bè thì Luân Hoán bạo thơ hơn bạo gái.  Mối tình đầu đời của Luân Hoán chớm nở vào năm mười sáu tuổi, cũng mặn nồng trong cốt cách khù khờ của tuổi mới lớn :
 
                      Thuở mới yêu em độ chừng mười bảy
                      Sắc hương thơm đằm thắm nở nụ hoa
                      Ta lụt lịt chỉ thua em một tuổi
                      Sao khù khờ nhút nhát – nghĩ không ra
                      ………………………………………..
                      Môi với lưỡi chưa một lần dám chạm
                      Nước bọt nhau mặn nhạt ngọt ra sao
                      Vào xi nê chỉ dính chùm mái tóc
                      Và mười ngón tay siết thật khít khao
                                                             
                                                                  (Nụ Trăng Đầu Đời)
 
  Hình như đường tình của bất cứ ai trong thế gian này cũng đều như nhau, mối tình đầu chẳng bao giờ bền vững cả, như một quy luật. Luân Hoán cũng không ngoại lệ. Anh đã chia tay mối tình đầu một cách bất ngờ, không rõ nguyên do, để lại trong ký ức bao nỗi nhớ ngu ngơ…dễ thương…khó tả :
 
                      Yêu chẳng biết làm gì hơn ngoài nhớ
                      Nhớ lạ kỳ, nhớ tưởng phát cuồng điên
                      Mới chia tay vừa đến nhà đã viết
                      Trao gởi cho nhau liên tiếp nỗi niềm
 
                      Chữ chẳng nói thay lòng hay đều vụng
                      Để bất ngờ chia biệt chẳng nguyên do
                      Vết thương tình của nhau không hiện rõ
                      Vì hình như hai đứa giỏi giả đò
 
                      Giờ em đã là chim lồng quí phái
                      Ngậm nụ trăng đầu hay nhả từ lâu ?
                      Ta nhờ nuốt đã như là thi sĩ
                      Nụ tình xưa thành nụ thơ nhạt màu
                                  
                                                            (Nụ Trăng Đầu Đời)
 
  Thơ của Luân Hoán luôn gợi lên một hình ảnh rất đẹp của tuổi học trò, rất học trò. Những cử chỉ vụng dại nhưng ngọt ngào, ngây ngô nhưng sâu lắng. Anh dùng ngôn ngữ rất đẹp, rất trẻ con, rất đời thường nên người đọc dễ nhập tâm, thấm đẫm. Luân Hoán sắp xếp những từ ngữ bình dân này vào thơ một cách rất khoa học, làm cho thơ anh sinh động hẳn lên, khiến người đọc tưởng như đang thực sự sống với cảnh thơ, quên bẵng đi thế giới bên ngoài rẫy đầy gai góc :
 
                      mang vào lớp bài thơ anh mới tặng
                      khoe bạn bè cho chúng lác mắt chơi
                      í mà chết, anh viết gì trong đó ?
                      chuyện chúng mình? Em hổng chịu đâu
                      anh phải viết chuyện con mèo con chó
                      chuyện con chim con cá gì thôi
                      hay cùng lắm chuyện trời mưa trời nắng
                      chuyện chúng mình, kỳ lắm, thôi thôi…
                              
                                                         (Nhõng Nhẽo – Đưa Nhau Về Đâu)
 
  Rất hồn nhiên, trong sáng, chơn chất :
 
                      mà thôi, chắc không được
                      ba mẹ chẳng chịu đâu
                      anh người dưng nước lã
                      đâu phải…xì, còn lâu
                              
                                            (Tết Mười Sáu)
 
  Rất thật thà, ngây ngô, dễ thương :
 
                      em có nhớ trong sân trường bữa ấy
                      cô giáo đau, ta được nghỉ giờ đầu
                      rất tình cờ hai đứa chợt gặp nhau
                      em mở cặp vội vàng trao quyển sách
                      sợ bạn thấy ta kẹp vào dưới nách
                      đi một hơi không kịp cám ơn em
                      trốn vào cầu hối hả giở ra xem
                      mảnh giấy nhỏ nét mực nghiêng nghiêng tím
                                    
                                                                  (Trong Sân Trường Bữa Ấy)                      
 
   Thơ Luân Hoán không mang tính ẩn dụ cao, thỉnh thoảng ta mới bắt gặp, nhưng những tình huống ẩn dụ trong thơ anh rất tinh tế. Thơ anh luôn phơi bày ra tất cả những ngõ ngách của tâm hồn mình, nhờ vậy thơ Luân Hoán dễ đi sâu vào lòng người đọc :
 
                      tôi đã viết những gì trong lưu bút
                      một đôi dòng tạm biệt vu vơ
                      chiếc ảnh nhỏ tôi dán vào bên góc
                      ghi khiêm nhường ba chữ đơn sơ
                      khi chụp ảnh nào đâu tôi có khóc
                      sao mắt buồn chan chứa bao la
                      suốt niên khóa cùng chung trường chung lớp
                      chung thầy cô, chung chúng bạn thân quen
                      sao hình như vẫn vô cùng xa cách
                      trai gái đôi đường cách trở chia ngăn
                      ……………………………………………
                      em có nhớ những lần đi du ngoạn
                      em vui đùa nhí nhảnh như con chim
                      không hiểu sao bỗng nhiên tôi buồn bã
                      tiếng em cười nghe đau nhói trong tim
                      sau ba tháng biết  em còn đến lớp ?
                      mùa hè này ai đi hỏi em không ?
                      tập lưu bút của em tôi mở đó
                      viết làm sao cho hết những chuyện lòng
                          
                                                         (Lưu Bút – Đưa Nhau Về Đâu)
 
 
  Có nhiều người cho rằng Thơ chỉ là Thơ, Thơ không là đời sống thực. Tôi thì không cho như vậy. Tôi không quá mẫn cảm với thơ Luân Hoán, nhưng tôi tâm đắc dòng thơ  anh vì thơ anh kết hợp được thế giới hiện thực với thế giới tưởng tượng, cái hay trong thơ Luân Hoán là ở chỗ này. Vì rằng,thế giới hiện thực có giới hạn, trong khi thế giới tưởng tượng là vô hạn. Như các triết gia Tây phương đã nhận định, tưởng tượng làm sống lại những kỷ niệm và tôn giá trị niềm vui sướng mà những kỷ niệm ấy gợi lên. Tưởng tượng sáng tạo như Luân Hoán được đánh giá là rất tích cực, mang đến cho con người phương tiện để thoát khỏi những buồn rầu trong cuộc sống; làm cho con người hạnh phúc hơn trong thực tế, làm phong phú cảm xúc con người.
Nghệ sĩ không thể không tưởng tượng trong khi sáng tác, bởi tưởng tượng là tự do vượt lên trên hiện tại, thực tại để trở về đó một cách sâu sắc hơn. Như Sigmund Freud đã nói: “ nghệ thuật cũng chính là một giấc mơ ( giấc mơ ban ngày ) Nghệ thuật là một cách để con người ghi lại những giấc mơ. Giấc mơ nghệ thuật giúp con người được sống nhiều cuộc đời, trải nghiệm nhiều tình huống, thỏa mãn những khát vọng không phải lúc nào cũng thực hiện được “
 
  Vâng, đúng thế. Vậy chúng ta hãy cùng xem thế giới tưởng tượng của Luân Hoán khi ra Huế đi thi Tú Tài gặp các cô sinh viên ra sao :
 
                      chào em lộng lẫy Luật Khoa
                      cho tôi thay cái cặp da tầm thường
                      kẻo không phí mất mùi hương
                      em đang bỏ lại trên đường em đi
                      xin thề tôi chẳng nói chi
                      nằm ngoan trong ngón xuân thì trổ thơ
                      (Ngàn năm người đẹp Hương Giang
                      Vẫn còn đi đứng đàng hoàng trong tôi)
                          …………………………………………               
                                                     
                     chào em đài cát Văn Khoa                                
                     cho tôi thế cái yên da em ngồi
                      đường dài nhớ đạp thảnh thơi
                      cho tôi uống trọn hương đời thơm tho
                      xin thề không dám làm thơ
                      chỉ thiêm thiếp mộng bên bờ tồn sinh
                      (Ngàn năm người đẹp Hương Giang
                      Vẫn còn đi đứng đàng hoàng trong tôi)
                                                         
 
  Dù thế giới tưởng tượng là vô hạn, nhưng không kết hợp được với thế giới hiện thực thì cũng chẳng có thơ hay. Chúng ta hãy nghe Luân Hoán ra Huế thi Tú Tài, ngồi đúng vào cái bàn có khắc tên các nữ sinh Đồng Khánh Huế. Anh nói gì đây :
 
                      ngồi thi nhìn cái mặt bàn
                      Thu, Sương, Bích, Thảo nhẹ nhàng hóa thơ
                      …………………………………………….
 
                      không biết chỗ này ngày mấy buổi
                      ai ngồi duỗi thẳng búp chân thơm
                      cánh tay chắc hẳn tròn ghê lắm
                      tựa nhẳn mặt bàn ửng nước thơm
                      …………………………………..
 
                      này ả thơ cưng trường Đồng Khánh
                      tay ta cầm bút trả bài thi
                      hồn ta lơ lửng trong hương Huế
                      đạt cả hai tay chẳng có chi
                      ……………………………………...
 
  Vâng,” chẳng có chi “, và cậu học trò Lê Ngọc Châu, Trường Phan Chu Trinh Đà Nẵng đã chẳng có chi, thi hỏng Tú Tài kỳ 1.
 
  Có thể nói rằng, Luân Hoán kết hợp thế giới hiện thực và thế giới tưởng tượng một cách rất nhuần nhuyễn, bởi trí tưởng tưởng cũng nằm trong vùng tâm thức cá nhân anh. Nói như John Lennon: “ Hiện thực để lại nhiều điều cho trí tưởng tượng “, Vâng, đúng thế. Ở bất cứ hình ảnh nào trong thơ Luân Hoán, cái nhìn của anh luôn xuyên suốt, vượt qua tất cả sự vật bằng trí tưởng tượng của mình, nhờ thế hình ảnh trong thơ anh luôn mỹ miều dễ cảm :
 
                      ta đứng tựa trong hành lang lớp học
                      trên lầu cao nhìn xuống mộng bâng khuâng
                      lòng cúi theo từng ngọn tóc phân vân
                      hôn rất nhẹ trên tóc thề đen nhánh
                      môi em đỏ sao hình như quá lạnh
                      răng trắng thơm níu giữ lấy hồn ta
                      lưỡi rót thương tình rót mật đậm đà
                      ta nương náu bên em bằng mộng tưởng
                      bởi quá yêu nên ta giàu tưởng tượng))
                                  
                                                               (Trong Sân Trường Bữa Ấy)
 
  Tưởng tượng như thế này thì thú vị biết bao !
 
                      ngoắc kêu một bác xe lôi
                      một mình mà tưởng đang ngồi với em
                      quanh co xe chạy đã thèm
                      bác phu nhỏ nhẹ:” thầy quên chỉ đường “
                         
                                                       (Nhật ký chặng đường Đà Nẵng – Sài Gòn)
 
  Hoặc dặn dò vu vơ :
 
                       nhớ đừng gục xuống mặt bàn
                       gỗ hôn trộm má môi hoàng hậu ra
                                                                                (Nhật Ký)
                         
  Nhờ trí tưởng tượng phong phú nên không gian thơ Luân Hoán rất rộng: ở trường học, ở ngoài phố, ở chợ, ở hồ bơi, ở bãi biển, ở sông ngòi, ở vùng quê, ở miếu đình, và nhất là ở trước cổng nhà của các mỹ nhân; chỗ nào có giai nhân là chỗ đó có thơ anh. Tất cả hình như đều đến rất bất chợt, không hẹn trước. Chính sự bất chợt này đã phát triển năng khiếu bẩm sinh của anh một cách mạnh mẽ, nhanh chóng và đưa thơ anh lên ngôi. Trong thơ Luân Hoán, thỉnh thoảng ta thấy anh muốn hóa thân ra nhiều ảnh hình như:  mây, gió, hạt bụi, ánh nắng mặt trời, cái yên da xe đạp, cái cặp da nữ sinh, con tàu bập bềnh trên sóng biển…Nói chung, tất cả những gì có thể tiếp cận được với mỹ nhân là anh hóa thân ra thứ ấy, để ve vãn, để trêu cợt hay nói một cách thực tế hơn là để được thưởng thức mùi hương của người đẹp (?) :
 
                      gáy ngà đỡ mái tóc cao
                      rõ ràng có hạt bụi thao thức nằm
 
                      mây cao chốc chốc muốn sa
                      nắng soi từng góc thân hoa thiên thần
                      câu thơ biết phận cù lần
                      rút lui vào trái tim trần nằm mơ
                                 
                                                             (Thả Thơ Trên Biển)
 
                      chào em đài cát Văn Khoa
                      cho tôi thế cái yên da em ngồi
 
                      chào em lộng lẫy Luật Khoa
                      cho tôi thay cái cặp da tầm thường
                      (Ngàn năm người đẹp Hương Giang
                      Vẫn còn đi đứng đàng hoàng trong tôi)
 
  Luân Hoán hóa thân trong thơ thật đẹp, thật dễ thương, thật diễm tình :
 
                      em nằm đắp nắng bãi chiều
                      cồn hoa che ngọn thủy triều trắng phau
                      tôi ngồi vốc cát xây lầu
                      hóa thân thả triệu con tàu viễn mơ
                      ngực em đè phải câu thơ
                      còn nằm trong trái tim khờ dại tôi
 
 
  Một đôi lúc, trí tượng của anh vượt quá vùng hiện thực, anh vẫn cho ra đời những câu thơ rất ngộ nghĩnh :
 
                      nằm nghiêng
                      thừa cánh tay ôm
                      nằm ngửa
                      thiếu cánh tay thơm lạnh đùi
                      nằm sấp
                      bức rức cả người
                      ngồi lên
                      chạm mỹ nhân ngồi chung quanh
                                           
                                                                            (Nhớ)
                                                     
 
  Như tôi đã nói ở trên, thơ Luân Hoán ít mang tính ẩn dụ, nhưng một đôi khi những bài thơ của anh mang tính ẩn dụ thì lại đầy sức sống :
 
                      em ngồi trải cánh chân phơi
                      nắng thơm nghiêng một góc trời săm se
                      tôi ngồi đờ đẫn tay che
                      com-chim-thơ-đội-mộng xòe cánh bay
                    
                      gió rình trong nách lá cây
                      hồ đồ rơi trúng mình dây em mềm
                      hoảng hồn, gió vãi hương lên
                      thanh xuân cỏ biếc hai bên tôi nằm
                      mon men tôi ướm tay thăm
                      vô tình vướng phải cái dằm nhớ nhung
                                    
                                                                           (Trên Đồi Cỏ)
 
  Theo nhận định của tôi, thơ Luân Hoán và Giai Nhân luôn hòa quyện với nhau, có Giai Nhân là có thơ Luân Hoán và có thơ Luân Hoán là có hình bóng Giai Nhân. Hay nói một cách chính xác hơn, Giai Nhân chính là mạch nguồn của dòng thơ Luân Hoán. Trong lòng anh không lúc nào là không có hình bóng giai nhân ngự trị, bởi cõi lòng anh mênh mông quá như chính thơ anh tự nó đã lắm mênh mông. Chúng ta hãy đọc những câu thơ dưới đây sẽ hiểu anh hơn :
 
                      chiều chiều luồn chợ Vườn Hoa
                      trôi theo Đồng Khánh bám tà áo bay
                      mắt hồng liệng cái ngoắt tay
                      dắt qua Độc Lập dựa cây đèn đường
                      chập chùng xuân ảnh vãi hương
                      ngó ai lòng cũng yêu thương tức thì
                      giả vờ châm thuốc nhâm nhi
                      nuốt thầm vóc đứng, dáng đi quanh mình
                                           
                                                                          (Đà Nẵng – 1960)
 
   “ Nuốt thầm vóc đứng, dáng đi quanh mình “. Vâng, thèm hơn thèm thuốc lá. Nhưng sự thèm khát của anh không phải là sắc dục, mà anh thèm hứng dòng mạch nguồn chảy ra từ tâm hồn mình. Bởi thế, cảm xúc anh lúc nào cũng tuôn trào để hóa thành thơ. Với anh, một ngày không làm được thơ kể như ngày ấy muốn bịnh. Anh tâm sự :
 
                      làm thơ là để bình thường
                      cái ta cứ thích đứng đường ngó em
                      làm thơ là để lênh đênh
                      trên giòng rảnh rỗi chợt quên mất mình
                      làm thơ là để làm thinh
                      im nghe ta tự tỏ tình với ta
                      làm thơ là để dần dà
                      trở thành ông thánh hóa ra ông khùng
                      làm thơ là sống ung dung
                      để cho óc khỏi lùng bùng nổi điên
                      làm thơ là có đủ quyền
                      ba hoa tưởng tượng đã ghiền mới thôi
                      với ta, thơ như bầu hơi
                      của hai lá phổi lôi thôi thở hoài
                      ngày nào thơ chẳng lai rai
                      kể như ngày đó coi mòi muốn đau
                                  
                                                                      (Ta Phỏng Vấn Ta)
 
  Đọc thơ Luân Hoán, ta cảm thấy thời gian như chậm lại, như chính cốt cách lè phè ngoài đời của anh. Với anh, thời gian luôn thong thả xuôi dòng, thong dong tự tại :
 
                      trong đầu nhú chút vẩn vơ
                      trong bụng vài ngọn chữ lơ mơ nằm
                      kể như cái ổ lót xong
                      nằm-ngồi-đi-đứng thong dong đẻ đều 
 
  Vâng, anh đẻ ra thơ thật đều, thật nhiều. So với tỷ lệ thời gian, anh là một trong những nhà thơ Việt Nam có số lượng sách xuất bản nhiều nhất. Tôi nghĩ, thơ anh được đa số học sinh, sinh viên yêu thích. Riêng tôi, tôi rất tâm đắc dòng thơ trữ tình của anh nếu không muốn nói là đồng cảm. Thơ Luân Hoán không mang tính ước lệ, thơ anh rất gần với đời thường. Luân Hoán không sáng tạo ngôn ngữ nhưng anh sắp xếp ngôn ngữ rất uyển chuyển, mới lạ :
 
                      em từ bụi chuối bước ra
                      ánh trăng làm nũng chao qua ống quần
hay:
 
                      mỗi lần sắp sửa yêu ai
                      tự nhiên mặt mũi tóc tai lạ lùng
                      hình như có triêu vi trùng
                      ngo ngoe đòi được nhớ nhung với mình
 
  Chỉ chừng đó con chữ, rất đời thường, nhưng anh đưa vào những ý tưởng thật mới lạ. Theo tôi, thơ anh luôn sống mãi với thời gian, nó như đã được thẩm định thời tính, nó chính là tiếng thời gian, tuy vô hình nhưng hiện hữu. Thơ của Luân Hoán đi từ cái không đến có, từ quên đến nhớ. Vâng, sau bao thăng trầm trong cuộc sống, vật lộn với cơm áo gao tiền, tha phương cầu thực,  khi đọc được thơ anh, cả một Đà Nẵng lai hiện rõ trong tôi với bao hoài niệm. Từng con đường góc phố, từng hàng cây, từng những ngã tư, ngã ba hẹn hò, từng thôn xóm làng mạc, và nhất là hình ảnh những bóng hồng tha thướt một thời, tất cả đều đã được phát họa một cách rõ nét trong thơ anh. Tiện đây, tôi cũng xin phép các giai nhân một thời cùa Thành phố Đà Nẵng để ghi lại những dòng thơ trữ tình rất học trò và đầy tinh nghịch của Luân Hoán, một giọng thơ mà theo tôi nghĩ, các bạn ( xin phép được xưng hô như vậy cho thân mật ) khi đọc đến không khỏi phì cười lẫn bùi ngùi cho anh bạn học trò Lê Ngọc Châu. Phì cười vì nhìn được những cử chỉ rập rình như kẻ trộm của anh trước cổng nhà các bạn, và bùi ngùi khi thấy anh ghẹo gái thật nhiều nhưng rốt cuộc lại trắng tay. Nếu bạn nào chưa đọc, xin mời đọc những dòng này :
 
               người tôi yêu, ở Lầu Đèn
               cây cao lá rậm ánh trăng khó vào
               trèo rào, tôi lén dán thơ
               mạch tình dẫn những đường sao đi về
 
               người tôi yêu, ở Thanh Khê
               quanh năm cát đóng quân che hải triều
               buộc thơ, tôi thả thay diều
               sáng khoe khoang gió xẩm chiều về không
 
               người tôi yêu, ở Cầu Vồng
               hương luồn hẻm cỏ những vòng thanh xuân
               nhiều khi gió lạc dấu lưng
               treo thơ tôi ngóng ở từng ngã ba
 
               người tôi yêu, ở Tam Tòa
               con đường, bụi, tóc đuôi gà bay chung
               mắt thơ khuyến khích, nhắc chừng
               mê, xin tự tiện, nhưng…đừng ghé vô
 
               người tôi yêu, ở Thanh Bồ
               tiếng cười đọng góc nhà thờ nuôi mây
               ngày ngày tôi đợi gió bay
               thở ra một ngụm thơ đầy mái hiên
 
               người tôi yêu, ở Nại Hiên
               vông đồng đứng chốt hữu biên canh chừng
               giả đò giày vướng lai quần
               thò tay tôi lượm thơ từng búp xanh
 
               người tôi yêu, ở Thuận Thành
               mấy đường sắt rỉ cỏ xanh mòn dần
               bóng tôi cùng nắng lần quần
               đọng thành vết sẹo trong ngần nhớ nhung
 
               người tôi yêu, ở tứ tung
               Phước Ninh, Thạch Gián, Khuê Trung,Thanh Hà
               Hải Châu, An Hải, Xuân Hòa
               vun vun mấy cõi đất tà ma chôn
               hạt tình bén giữa môi son
               nở tôi, tôi nở những con thơ tình
              
               người tôi yêu, những con tinh
               ngo ngoe sống thật hiển linh muôn đời
               người tôi yêu, ở mọi nơi
               nhưng chưa có được một người yêu tôi
                       
                                                                  (Cõi Bén Tình Thơ)
 
  Vào thập niên 60 – 70, không hiểu trời phú thế nào mà Đà Nẵng sản sinh ra nhiều  mỹ nhân đến thế ! Như tôi đã nói ở trên, nơi nào có giai nhân là nơi đó có thơ Luân Hoán. Lúc bấy giờ, dòng thơ anh tuôn trào như thác đổ. Tôi thấy trên toàn cõi đất nước Việt Nam chúng ta, chưa có một tỉnh thành nào có nhiều giai nhân được thi nhân ưu ái như Thành Phố Đà Nãng cả. Có lẽ đó cũng là một nét đặc thù  trong thơ Luân Hoán chăng ? Dựa theo thơ anh, tôi tính tất cả là 23 Nữ Sắc được anh đưa lên ngôi và bắt anh hầu hạ mệt nghỉ. Tiện đây, tôi cũng xin phép có vài lời với các giai nhân Thành Phố Đà Nẵng một thời. Khi viết bài này, tôi đưa mỹ danh của các bạn lên với ý nghĩ trang trọng, và xin các bạn hãy hãnh diện khi thấy mỹ danh mình được ngồi chểm chệ trên dòng thơ Luân Hoán- một dòng thơ mượt mà, trữ tình, sâu lắng. Như anh đã từng nói :
 
                      trời sinh em, trời sinh thơ
                      nếu không chẳng biết phải thờ em đâu
                      trái tim dù rất là sâu
                      chắc gì em được ở lâu đời đời
                                   
                                                                 (Em và Thơ) (*)
 
(*) Bài Thơ này đã được phổ nhạc, các bạn muốn nghe hãy vào Google và tìm “ Tình Khúc Nguyễn Văn Thơ “ sẽ gặp.
 
  Vâng, đúng vậy, trái tim tuy sâu thật,nhưng trái tim rồi cũng sẽ chết theo người. Chỉ có thơ là sống đời với thời gian, mà thơ sống đời thì mỹ danh của các bạn cũng sống mãi…Xin được chúc mừng !
 
  Vậy thì bây giờ, xin các bạn khe khẽ, theo gót anh chàng học trò Lệ Ngọc Châu để mục kích cái tật rình mò của anh ta như thế nào nhé!
  Tôi cũng xin thưa với các bạn ở đây, tôi chỉ ghi dấu bước đi của Lê Ngọc Châu qua các ngõ nhà của mỹ nhân để các bạn tiện theo dõi, tôi không tiện diễn giải nhân vật và địa danh nơi cư trú của các giai nhân. Nếu bạn nào muốn biết thật rõ từng chi tiết, xin tìm đọc bài của tác giả Nguyễn Đông Giang, với tựa đề:” Sống Đời Với Thơ “.
 
  Bây giờ  chúng ta hãy cùng theo bước chân Luân Hoán :
 
                   rập rình qua ngõ Minh Xuân
                   liếc cho đỡ nhớ dải lưng lụa vàng
                   nhìn nghiêng, nắng gác hành lang
                   nhìn xéo, nắng giữ hai hàng sứ xanh
                   long lanh mắt vượt qua thành
                   vén màn hỏi nhỏ bức tranh treo tường…
                   âm thầm gởi tặng mùi hương
                   lên bàn tay vãi tiếng dương cầm buồn
                   lòng tôi phiêu lãng mười phương
                   bỗng vể ở trọ trên trường túc hoa
 
                    thấp thỏm qua ngõ Như Thoa
                    vòng cung Độc Lập nối qua Bạch Đằng
                    phóng mắt lên nóc lầu đen
                    lên bao lơn rọi thấy trăng Sơn Chà
                    trầm hương từ cõi thịt da
                    trải xanh ngọn gió ngấm ra sông Hàn
                    bàn tay cầm vợt bóng bàn
                    lỡ cho ai nắm lấm vàng tình thơ
                    tôi ngồi dựa gốc cây mơ
                    hóa thân thương nhớ thành tơ bắc cầu
 
                    e dè qua ngõ Trân Châu
                    cây vông đồng đứng phía sau nhắc chừng
                    bởi ai lỡ thắt dây lưng
                    lên voi làm sống bà Trưng thuở nào
                    cho tình thức cũng chiêm bao
                    cho tình ngủ cũng nhả thơ nhớ đời
                    hàng rào chẳng phải mồng tơi
                    ném thư không tới, vói lời chẳng qua
                    thôi đành làm đóa sao sa
                    rơi hoài chẳng lọt nóc nhà hoa lan
 
                    ngập ngừng qua ngõ Lâm An
                    mưa dông hộ tống hai bàn chân thơ
                    tưởng như đang đến nhà thờ
                    thủ lời xưng tội vẩn vơ trong lòng
                    lỡ quên hái bậy nhành bông
                    ngửa tay hứng giọt mưa trong ngỡ là
                    cô em chưa vướng vòng hoa
                    chuỗi kim cương nước khác xa mọi người
                    trông qua cổng, thấy em cười
                    chúa tha tôi tội yêu người sau lưng
 
                    lò dò qua ngõ Bích Quân
                    giú bàn tay ở túi quần, đăm chiêu
                    loanh quanh trong bóng xẩm chiều
                    nghe chân mày thả lời phiêu bồng chào
                    ngu ngơ dừng bước cổng vào
                    dòm anh khuyển rất bảnh bao cau mày
                    co chân buộc lại dây giày
                    tam sông, tứ núi…chút này ngán chi
                    ngại em…lững thững quay đi
                    bâng khuâng ngoái lại chung qui cũng là
 
                    mon men qua ngõ Thu Hà
                    dẫu lơi chân đạp cổng nhà cũng qua
                    nắng chiều đang thở trên hoa
                    hình như có bóng thướt tha vói nhìn
                    quay đầu xe lại, khó tin
                    nụ cười thơm ấy vô tình thật sao ?
                    gáy ngà đỡ mái tóc cao
                    rõ ràng có hạt bụi thao thức nằm
                    váy thơ đang độ thong dong
                    chiếc xe đạp bỗng phải lòng quên đi
 
                    tà tà qua ngõ Quỳnh Chi
                    hai hành lang gió thầm thì quanh năm
                    nắng không vào lọt chỗ nằm
                    hạt thơ đâu dễ bén mầm bên hoa
                    mê người nhớ cái ngã ba
                    Đông Kinh Nghĩa Thục rẽ qua Nguyễn Hoàng
                    ba nhành nhan sắc đoan trang
                    có khi nào thấy anh chàng ngu ngơ
                    chỗ nào véo cũng ra thơ
                    yêu ai chưa biết vu vơ để dành
 
                    phất phơ qua ngõ Thúy Oanh
                    một gian cư xá long lanh mắt cười
                    ai cho phép một con ruồi
                    yêu người hóa điểm son tươi bên cằm
                    trang Kiều mở dưới gối nằm
                    thơm lừng hương tóc trăng rằm ngủ quên
                    cánh tay tròn mướt tơ mềm
                    làm sao dám gối chỉ thèm vu vơ
                    lỡ mang bệnh nghiện làm thơ
                    ngại chi đôi phút bất ngờ tà tâm
 
                    bâng khuâng qua ngõ Ái Cầm
                    chợ Cây Me ngó, thì thầm trên vai
                    chàng này coi cũng bảnh trai
                    tiếc rằng thiếu bước chân dài trổ hoa
                    phòng hồng đã chật tiếng ca
                    một nhà thơ ở phương xa đã vào
                    trời thừa bao nhiêu vị sao
                    thừa thêm vị nữa chẳng sao đâu tình
                    vẩn vơ vào cõi u minh
                    Tây cười dưới mộ giật mình làm thinh
 
                    lờ khờ qua ngõ Diệu Minh
                    trèo tường sân vận động nhìn mây bay
                    nhạc luồn theo những ngón tay
                    xoay lưng ong những vòng quay vật vờ
                    dáng hoa đài cát thanh cao
                    bước dần ra khỏi vạt thơ mê tình
                    lầm bầm tụng một câu kinh
                    một câu kinh trị thất tình vô ngôn
                    ngó quanh trời đất vẫn tròn
                    ngả lưng đánh giấc thả hồn lưu linh
 
                    lừng khừng qua ngõ Phước Ninh
                    lolita hiện hiển linh cười cười
                    giá bứng được cánh môi tươi
                    lấy thơ lấp lại cho đời khỏi ghen
                    tình yêu là cái mặt bằng
                    xây bao gác gió lầu trăng, vẫn thừa
                    hôn nhau từ sáng đến trưa
                    từ chiều sang tối vẫn chưa thơm lòng
                    đường Phan Than Giản cong cong
                    cái chân đứng lại, cái lòng bâng khuâng
 
                    buồn buồn qua ngõ mỹ nhân
                    Qúy Phẩm, Thạch Trúc, Ý Vân, Bích Hà
                    Xuân, Đông, Hồng, Phú, Phước, Nga…
                    những môi, những mắt, những da thịt nồng
                    những vồng đất biết trổ bông
                    thuận, không, tôi cũng đã trồng ra thơ
                    dài đời trôi nổi phất phơ
                    sờ trong ngực áo vẫn thao thức tình
                    gởi người thánh nữ siêu hình
                    nụ hôn này để tạ tình thế gian
 
                    nguyện đem theo xuống suối vàng
                            
                                                           (Qua Ngõ Mỹ Nhân)
 
  Từ đầu đến giờ, tất cả những hình ảnh giai nhân mà tôi đã đề cập qua bài viết, xem như là tảng băng nổi trong cuộc đời tình ái của Luân Hoán. Vậy phần băng chìm còn lại ra sao ? Trước khi xem phần băng chìm còn lại, tưởng cũng cần tìm hiểu quan điểm về tình yêu của Luân Hoán. Dựa trên đời sống thực tại, tôi thấy Luân Hoán loại bỏ tất cả mặt tiêu cực và anh phát huy mặt tích cực. Quan điểm của anh thật rõ ràng :
 
                    đâu có yêu ai để thất tình
                    chỉ toàn thinh thích những em xinh
                    sóng là của biển vô cùng tận
                    chưa tiến thêm lên đã quay mình
                   
                    cứ thế mà giàu những ước mơ
                    nhiều khi còn bạo phổi làm thơ
                    em Y, em X, em J nữa
                    thật giả thành ra khá mơ hồ
 
                    cho dẫu rằng yêu hay là không
                    thất tình cao lắm cũng vài năm
                    trái tim không hạn bao nhiêu chỗ
                    nhưng dễ dầu chi em mãi nằm
 
                    thơ thẩn nhiều khi chỉ vẽ trò
                    mười thằng thi sĩ chín ngài cho
                    nhớ thương bành trướng theo con chữ
                    một gã dường như giỏi giả đò
 
                    em cứ tha hồ hãnh diện đi
                    trăm năm còn mãi nét xuân thì
                    từ trong máu thịt người thi sĩ
                    lắng đọng thơm tình ngọn tuyệt thi
 
                    thơ mới cũ gì cũng có em
                    dẫu “ tân hình thức “ cũng xêm xêm
                    mắt môi mông ngực linh tinh nữa
                    những thứ tình yêu vốn rất thèm
 
                    tôi bảo chưa yêu, em có tin ?
                    ghê chưa, tôi quá đỗi hợm mình
                    nhưng thôi, tha thứ em yêu nhé
                    em có tôi và tôi có em
                                
                                                       (Yêu và Thất Tình)
 
  Vâng, “ em có tôi và tôi có em. “ Có thể đây là bước ngoặt trong đời sống tình cảm của anh chăng ?  Vậy ta thử tìm hiểu ra sao :
 
                    ta đến trọ nhà em từ thuở
                    em chưa qua hết tuổi mười ba
                    bút mực thơm từng ngọn tóc đuôi gà
                    miệng liếng thoắng vụng về như con sáo
                    hoa cỏ dại mọc đầy trong túi áo
                    gót chân hồng không mệt mỏi nhảy dây
                    trái mù u chuyền thẻ chạy quanh tay
                    em cười hát, ăn quà, vòi vĩnh mẹ
                    chừng nấy việc dắt dìu em nhè nhẹ
                    dạo vòng vòng trong thế giới ngây thơ…
                                           
                                                                         (Chiều Mưa)
 
  Như anh đã nói: “
 
                    sóng là của biển vô cùng tận
                    chưa tiến thêm lên đã quay mình
 
  Vậy anh quay mình về đâu ? Thực tế đã cho ta thấy, anh quay về ở trọ nhà cô học trò chưa qua hết tuổi mười ba. Mà chẳng ai xa lạ cả, đó chính là người đẹp Lý Phước Ninh mà
trước đây anh đã nhiều lần rập rình qua ngõ mỹ nhân. Ở đây, anh đã cho và  nhận được nhiều hương tình trong vườn hoa tình ái. Cũng dễ hiểu thôi, bởi tình yêu là sự cuốn hút cả tâm hồn lẫn thể xác, và tình yêu đích thực chỉ có thể có khi đi từ hai phía.
  Rồi việc gì đến cũng phải đến, tảng băng nổi qua nắng cháy thời gian dần dần tan đi để nhường lại phần chìm nhô lên như một sự khởi đầu thách thức. Có thể nói rằng, suốt khoảng thời gian dài phất phơ qua ngõ mỹ nhân để rập rình,
Luân Hoán đã cập bến tình với người đẹp Trần Thị Lý một cách êm ả. Nàng vừa là một người tình, vừa là tri kỷ, vừa là hiền thê mẫu mực đảm đang, lại vừa là nàng thơ của anh :
 
                     tên em, tên một loài hoa
                     thơm từ chạng vạng đậm đà suốt đêm
                     cánh mỏng mảnh, hương mông mênh
                     dịu dàng tẩm ướp hồn lên đời thường
                   
                     Dạ Lý Hương, Dạ Lý Hương
                     cũng là bông Lý bình thường đơn sơ
                     đứng góc sân, ẩn ven rào
                     xác là thực vật, hồn thơ chập chùng
                                        
                                                                        (Qúy Danh)
 
  Nếu không quá lời thì tôi có thể nói rằng, Luân Hoán là một nhà thơ lớn của tuổi học trò, lãng mạn, đa tình nhưng rất chung thủy. Tới đây, tôi xin phép không diễn giải thơ anh nữa, tôi chỉ trích đưa lên những đoạn thơ mà tôi cho tự nó đã nói lên quá nhiều về một mối tình thuần hậu, trường cửu…
 
                    em có biết em vẫn còn trẻ mãi
                    bởi vì ta còn mãi mãi yêu em
                    nối tay nhau đan từng sợi võng mềm
                    ta kính cẩn mời em yêu ngã xuống
                    chiều bát ngát mưa ngoài hiên phiêu lãng
                                        
                                                                              (Chiều Mưa)
 
                    đóng cây đinh treo ảnh em lên vách
                    nhìn mặt em cười trong ảnh muốn hôn
                    xinh đẹp như ri sao mà lận đận
                    theo ta làm gì hỡi ả mèo con ?
                                    
                                                                     (Đưa Nhau Về Đâu)
 
                    năm tháng bình thường không chậm nhanh
                    lúc nào em cũng rất xuân xanh
                    tuy rằng sương tuyết trên nhành tóc
                    chẳng ấm lòng thơm những hiền lành
                   
                    em vẫn là thơ của những thơ
                    ngày xưa ta viết đến bây giờ
                    cho dù bay bướm đôi ba bận
                    tình vẫn về em hóa kiếp thơ
                             
                                                                       (Cho Lý ngày 61)
 
                    trộn chút tình ta vào bột giặt
                    vò nhẹ nhàng bởi sợ em đau
                    vải còn đượm mùi thịt da em ngát
                    tay bùi ngùi như đang vuốt ve nhau
                    trông thau nước đục lờ những cáu bẩn
                    ta bỗng thương lớp bụi nổi màng màng
                    chúng là những nhọc nhằn em gánh chịu
                    nuôi chồng con dài năm tháng gian nan
                                   
                                                                        (Giặt Áo Quần Cho Vợ)
 
  Thưa quý đọc giả, trong bài viết này, mục đích của tôi chỉ muốn đưa lên những hình ảnh giai nhân, không nhiều thì ít, cũng liên quan đến dòng thơ và đời sống tình cảm của nhà thơ Luân Hoán; chứ nếu phân tích về thơ anh thì còn nhiều điều tích cực phải nói lắm. Bởi, khi đọc qua thơ anh thì ta thấy rất bình thường, nhưng suy nghĩ cho kỹ thì sẽ tìm ra được nhiều điểm lạ. Điểm lạ lẫm nổi cộm nhất trong thơ anh là các con chữ và ý từ. Anh luôn sáng tạo ý tưởng mới để đưa vào các con chữ cũ. Tôi không biết có nên cho đây là sự cách tân hay không, nhưng chắc chắn là rất lạ lẫm.
 
   Tới đây, tôi xin mượn câu danh ngôn của M. Gorki để khép lại bài viết này :
    “ Trên thế gian này, chẳng có vị Thần nào đẹp hơn Thần Mặt Trời, chẳng có ngọn lửa nào kỳ diệu hơn Ngọn Lửa Tình Yêu “ ./.
 
Tuyền Linh Nguyễn Văn Thơ

Nắng Về...* Hồ Trường An

Nắng Về Theo Bướm Lạ
 
Cụ Thông bà vốn là chị của bà cụ Bắc. Cụ có hai cô con gái đồng trang lứa với Thắm. Cụ Thông ông khi di cư vào Nam mang theo chứng bịnh suyễn. Khi gia đình cụ thiên cư về vùng Cái Sắn thì cụ ông chết vì cái bịnh dị ứng đó. Người nhà chở cụ ra Trạm Y Tế quận mà vẫn cứu sống cụ không kịp.
Nhận thấy mình ngoài em gái và cháu gái ra thì chẳng còn ai thân thích, cụ bà đem hai cô con gái là cô Hồng và cô Lam về Vĩnh Long để gần gũi em gái và cháu gái của mình. Nhưng cụ không chịu ở xóm Bánh Phồng đâu. Cụ mua một ngôi nhà ở xóm Thiềng Đức vì theo cụ nhận xét thì ở đây nhà cửa đông đúc, lại gần cầu sắt bắc qua bên kia thành phố. Tuy cụ nói vậy, nhưng cụ Bắc thừa biết chị của cụ sợ thằng rể trời đánh Chín Giảo Kim của cụ ve vãn hoặc tòm tem cô Hồng lẫn cô Lam. Đời nào cụ chị chịu nói ra điều mình phòng ngừa. Cũng vậy, cụ em không bao giờ bày tỏ điều mình hiểu biết. Nhưng hai cụ thầm hiểu như nhau rằng tên chồng lựu đạn của Thắm tên là Huỳnh văn Khanh, nhưng lại có cái hổn danh là Chín Giảo Kim không phải là hạng nguời thẳng thắn và đứng đắn đối với phụ nữ như Đức Quan Thánh Quân hay ông Liễu Hạ Huệ thời xửa thời xưa bên Tàu đâu. Thà hai gia đình ở khác xóm nhau thì hai cụ mới tránh được hậu hoạn lãng nhách có thể xãy ra, có thể giữ phẩm tiết cho cô Hồng và cô Lam.
Cụ Thông bà mới có 65 tuổi mà tóc trắng như bông lau, thân khô héo võ vàng như thân cây sậy. Môi cụ mỏng lét, khi cụ cười trở nên nhăn nhở, lộ tất cả vẻ nghiệt ngã cay cú. Sắc mặt cụ hầm hừ, cái nhìn dò xét. Cụ thường đay nghiến Chín Giảo Kim trước mặt con gái:
-- Chúng mày còn khờ dại, làm thế nào mà biết được cái tên tiểu tặc phải
gió của bọn đàn ông? Đúng là cây gậy ăn mày, bạ đâu thọc đấy, các con nỡm ạ. Tao thừa biết tên Chín Giảo Kim kia có cái nhìn rất gian, nụ cười rất lẳng, cái miệng rất tếu, cái lưỡi rất uyển chuyển. Thứ đàn ông mà đĩ mồm dẻo miệng như nó thì tránh sao khỏi có đĩ tính? Chị em chúng mày vốn mềm lòng lỏng dạ; nó chỉ hót líu lo vài câu là cả hai tụt quần tốc váy nạp l... cho nó để nó đéo tả tơi ngay. Tao còn lạ gì bọn đàn ông! Thằng bố chồn cáo hổ báo yêu tinh của chúng mày ngày xưa ưa phá trinh con gái nhà nguời. Tao chỉ sợ chúng mày trả ác quả cho thằng bố chết tiệt chết toi, thằng bố diều moi quạ mổ kia.
Cụ Thông bà thường nói bóng nói gió cho cụ Bắc hiểu rằng cụ muốn gả hai cô con gái rượu của cụ cho người có chút ít chữ nghĩa như các thầy giáo dạy ở trường tiểu học Thiềng Đức, hoặc như thầy Trưởng Chi Bưu Điện, hay thầy Trưởng Chi Y Tế ở các quận lỵ nhỏ bé cũng được.
Cho nên, cụ Thông bà dạy con rất kỹ. Cụ cấm Hồng và Lam ăn mặc chải chuốc, cấm cười lớn tiếng, cấm uốn tóc, cấm chà lết quế xảm cái đít trên ghế nhà hàng xóm. Bà bảo em gái:
-- Cô Hảo ( Hảo là tên của chồng cụ Bắc) xem đấy, cô Hai Phụng Tường và
cô Ba Phụng Thoại chẳng những có ăn học mà còn ăn nói hoa mỹ, hạnh kiểm chặt chẽ hơn người nên họ mới lấy chồng tử tế như thế. Chồng cô Hai bây giờ là Trưởng Ty Thông Tin, còn chồng cô Ba là Trưởng Toán Công Dân Vụ. Hai ông ấy đều là công chức, có phải không nào?
Cụ Bắc gật đầu xác nhận. Nghiệt một nỗi chị của cụ giống bà Tư Hơn, bà bạn thân thiết của cụ ở cái tật hay mắng chửi và hay rủa sả con cái những câu tục tằn thì bậc cha có tư cách làm sao có can đảm cưới cô Hồng hoặc cô Lam cho con trai của họ? Chị cụ dạy con bằng những lời gai góc, bằng những câu chửi tổn thương, bằng thái độ ầm ỉ như dậy giặc. Hồi còn độc thân, miệng lưỡi chị cụ nổi tiếng là hổn dữ, lại còn ưa ăn nói trây trúa và tục tĩu. Bởi đó mà ngày xưa mãi tới 32 tuổi, chị cụ mới lấy được một người đàn ông tuổi ngoại tứ tuần và trải qua hai đời vợ tức là cụ Thông ông đó. Ông chồng lại có số đào hoa, dù lớn tuổi mà vẫn được mấy con dâm phụ non nheo nhẻo say mê. Và dù bà vợ có nhan sắc mặn mòi, nhưng ông ta vẫn thích cắm lên đầu vợ vô số cặp sừng cong vút như sừng con trâu pháo.
Giờ đây, ngày nào nhà cụ Thông bà cũng vang tiếng ó ré của cụ. Truớc khi giáo huấn hai cô thục nữ, cụ bà giáo đầu bằng hai câu châm ngôn bất hủ:
-- Bởi tao mang nghiệp dầy đức mỏng mới đẻ con đần độn như chị em chúng mày. Các cụ ta thường bảo rằng: Đẻ con khôn mát l.. rười rượi/ Đẻ con dại, thảm bại cả l...
Cụ kêu hai con mình bằng những hổn danh thập phần kiều diễm: hai con nỡm, hai con chết chìm chết cháy, hai con mắc quái mắc yêu, hai con Thị Mầu
đi cầu không chùi đít, hai con uống máu l... Ngữ vựng của bà về cách chửi rủa thì dồi dào bừa bãi như cỏ hoang, lênh láng tràn ngập như nước trong ao vào những ngày mưa dầm.
Nhà cụ Thông bà ở đối diện dãy phố ông thầy thuốc Khương Hữu Long, sau dãy cây còng lớn cỡ vòng ôm, tàn tỏa rợp bóng râm. Nhà thuộc loại một căn hai chái, vách ván bổ kho, mái lợp ngói, nền lót gạch tàu. Khuôn viên của cụ gồm nửa mẫu đất, nhưng có hai cái ao choáng ở phía sau. Được cái là ao lưu thông với giòng rạch ở Xóm Rẫy. Đó là nhờ hai khe nước nhỏ chui lòn qua lớp hàng rào xương rồng và hàng rào tre gai vây xung quanh nhà bằng hai ống cống. Do đó mà cụ có thể xài nước ao để giặt giũ, vo gạo, rửa rau hoặc múc nước vào các lu khạp ảng bồn, rồi lóng phèn để xài cho các công việc bếp núc khác.
Cụ Thông bà vốn thực tế, nghĩ tới cái ăn ngay khi cụ mới dọn về đây: cụ thả rau muống xanh lẫn rau muống tía trong ao lớn. Còn ao nhỏ kia, cụ thả rau nhút. Xung quanh mỗi ao, ở chỗ xâm xấp nước, cụ trồng rau om, rau cần.
Trong khuôn viên chỉ có cây khế chua, vài cây chuối hột. Trước nhà lại có cây da xà. Ngoài ra là lùm bụi hoang dại cùng cỏ ống, cỏ chỉ, cỏ mần chầu tràn lan khắp khuôn viên. Nhưng đối với cụ, đó là những thứ cây hữu dụng cả. Lá chuối hột xum xuê và rườm rà, cụ có thể rọc từng phiến bán cho thím Chín Lực gói bánh tét và bánh ú, và bán cho chị Năm Ổi gói mắm ruốc và ba khía khi chị ta đem hai thứ nầy ra bày bán ở chợ Cầu Lầu. Khế thì dành nấu bún ốc hoặc làm mức nguyên trái, được nhuộm nước cốt cỏ mần chầu nên đượm màu xanh thắm như ngọc thạch hoàng gia. Cây da xà tỏa vùng bóng râm lớn, dùng để che nắng trong sân. Dưới đôi tay cần mẫn của cụ, cỏ và cây hoang dại bị bứng sạch để dành chỗ cho lũ ổi xá lỵ còn tơ, những khóm chuối sứ, chuối cau, chuối già hương và những cây mận chiết nhánh. Ngoài ra, cụ còn trồng những khóm bông trang, những cây điệp ta, những luống trồng bông huệ, những luống trồng bông hoàng điệp, toàn là những thứ hoa dành để bán cho các thiện nam tín nữ cúng Phật. Cụ cũng không quên trồng kinh giới để ăn cặp với bún ốc, trồng thìa là để xối mỡ ăn cặp với chả cả, trồng cà pháo để muối trái, và để làm món cà pháo dầm mắm tôm.
Một hôm nọ, Chín Giảo Kim vưng lịnh mẹ vợ đến biếu cụ Thông bà hai con cá duồng để cụ Thông bà có thể nấu ngót với rau cần và cà chua rồi chan lên bún. Vừa buớc qua khỏi cổng do cô Lam mở, Chín Giảo Kim ta chợt thấy một vùng cây kiểng, bông hoa cùng các luống rau tươi hơn hớn dưới ánh nắng trong suốt và vàng tơ của tháng chạp. Cô Hồng mặc chiếc áo túi bằng nhiễu màu tím than, quần vải xăng-đầm đen, đầu đội nón bài thơ trắng nõn. Cô đứng gần vạt đất trồng rau, húng, tía tô, kinh giới, tần ô, thìa là... Sau lưng cô là cây điệp ta trổ hoa đỏ và những bụi bông trang cao cỡ sãy tay, nào là trang trắng, trang vàng, nào là trang hường, trang đỏ và có cả trang tím nữa... Nụ cười của cô trong vành nón lá như sáng lên, hài hòa với thân thể khỏe mạnh và màu da hồng hào của cô. Chín ta chợt hiểu đây công trình tạo dựng do những bàn tay cần mẫn của mẹ con cụ Thông. Từ một vùng hoang dại, họ sửa sang thành một vùng hoa cỏ, rau dưa ngoạn mục. Và có thể, sở đất sẽ đem lại cho họ một vài lợi tức nho nhỏ song song với cái đẹp của khuôn viên. Chàng cảm thấy yêu cái lẽ sống mãnh liệt cùng cách sống đẹp của họ mà quên đi thể chất nồng nàn của cô Hồng cùng cái đẹp dịu dàng và trong sáng của cô Lam.
Cô Lam và cô Hồng đã có nghề may quần áo phụ nữ và quần áo trẻ em. Cả hai nhờ may khéo nên chẳng bao lâu có nhiều mối tìm tới đặt may. Còn cụ Thông bà gói giò thủ và chả lụa, rồi đem bỏ mối ở ngoài chợ. Bề sanh sống của họ tạm gọi là bảo đảm.
Năm đó, cô Hồng đã 20 tuổi, còn cô Lam được 18. Như vậy tuy là vai chị mà họ kém tuổi hơn cô Thắm. Cô chị kém 2, cô em kém 4. Cô Hồng đẹp lẳng, mặt hơi vuông chữ Điền, mắt ướt, môi tươi, nụ cười đĩ ngầm, thân vóc cao lớn và nồng nàn , khỏe mạnh. Cô Lam với vóc vạc vừa tầm, mặt trái soan, mắt xếch và sáng oai nghiêm, nụ cười đoan trang thùy mị, khuôn mặt hiền hậu nhưng tiềm ẩn vẻ can truờng, nhẫn nại. Họ không vấn tóc trần như phụ nữ Bắc Kỳ mà cũng không búi tóc thành cái bí bo sau ót như phụ nữ Nam Kỳ. Dù không uốn tóc, nhưng họ biết cách ăn diện: họ cột tóc theo kiểu đuôi ngựa hoặc đánh bính hình con rít rồi thả trước ngực. Trông họ tân thời lắm, dù họ không xài tới son phấn mà chỉ tỉa cặp mày cho sắc nét.
Ba mẹ con cụ Thông bà giữ đạo Thiên Chúa. Hai cô con gái đều gia nhập vào ban đồng ca của nhà thờ Vĩnh Long. Cả hai có giọng khỏe và ngân vang. Ngoài việc hát thánh ca, cô Lam không hề hát loại nhạc cải cách đương thời. Cô chỉ hát bản Ave Maria hoặc bản Santa Lucia bằng lời Việt cho ban văn nghệ nhà thờ khi họ tổ chức một buổi trình diễn văn nghệ cốt gây ngân quỹ giúp viện mồ côi, giúp trường mù hay cho cuộc cứu trợ nạn nhân bão lụt miền Trung. Còn cô Hồng cãi lời mẹ, nhứt định gia nhập vào ban Văn Nghệ của Phòng Thông Tin Vĩnh Long. Cụ bà chửi rùm beng:
-- Văn nghệ Phòng Thông Tin cái mả mày đấy à? Động đĩ trá hình đấy, con
đĩ chồn chín đuôi ạ. Mày liệu hồn mà theo bọn gái đú đỡn trong ban văn nghệ ấy, cái bọn dâm không ra dâm, trinh chẳng phải trinh, tao thấy thế nào ấy!
Cô Hồng hùng hổ:
-- Con cóc cần các cô ấy, con chỉ cần thầy Hán Sơn cưới con.
Cụ Thông bà liền ngưng chửi, lõ mắt ngó con gái:
-- Có thật không đấy? Thầy ta đã tỏ thái độ gì đối với mày? Thầy ta đã ướm lời mày cách nào? Mày mà bịa chuyện thì chết với tao.
Cô Hồng nghinh mặt, cười hí hởn:
-- Thầy ta đòi đưa cụ bà thân sinh đến đây viếng nhà cho biết
Thím Hai Xuân tán thành:
-- Cô Hồng khéo lựa bạn trăm năm đó, thưa cụ. Cháu nghe nói thầy Mai
Hán Sơn là giáo sư âm nhạc và huấn luyện viên thể thao của trường Tống Phước Hiệp. Thầy có giọng tốt, lại đẹp trai, khoẻ mạnh. Trong ban Văn Nghe Phòng Thông Tin, thầy giữ các tiết mục đơn ca, đồng ca, hài kịch... đều hoàn hảo. Nữ sinh chạy theo thầy rần rần. Mấy ả chịu chơi trong tỉnh sẵn sàng cho thầy... chơi chịu.
Thấy chị vui, cô Lam cũng khôi hài:
-- Nhưng rồi ra, chị Hồng lại có hy vọng chiếm được trái tim thầy và hy
vọng được thầy rước về nhà làm Hán Sơn phu nhân.
Cô Hồng không giấu giếm tình cảm của mình:
-- Chỉ nghĩ khi mình cho in trên danh thiếp hàng chữ Madame François Xavier Mai Hán Sơn là chị sướng run, sướng đến rụng rời. Chị em mình hát trội hơn các nữ ca sĩ tài tử địa phương vì giọng chúng mình lảnh lót, chúng mình lại còn biết ngân nga như ca sĩ đài Phát Thanh Sài Gòn.
Từ khi hai cô Hồng và Lam theo mẹ về đất Vãng thì các xóm trong xã Long Đức Đông đều xôn xao. Cái đẹp của họ chưa thể gây sóng gió bằng giọng hát và nghệ thuật trình diễn của họ. Thuở đó, trường Trung học không nhiều, cho nên nữ sinh trung học được giới bình dân quý trọng. Nghe nói hai chị em họ chỉ học xong lớp nhứt và thi đậu bằng Cơ Thủy ngoài Bắc mà thôi, chớ chưa học tới bực trung học ban Thành Chung hay ban Đệ nhứt cấp. Vậy mà cái dáng dấp nữ sinh cùng phong thái cao sang đài các và giọng hát đẹp của họ chẳng những làm cho các nam sinh của các trường tư thục ao ước mà giới công chức, tư chức bực trung phải ngây ngất say sưa nữa.
Cô Thắm lúc đầu sợ thằng chồng thợ mộc đẹp trai, có biệt tài ca Vọng Cổ du dương của mình dòm hành, tơ tưởng hai cô chị nhà bác của mình. Tới chừng cô Hồng chê dân ưa ca Vọng Cổ là dân nhà quê, tới chừng dân tân học xun xoe xung quanh cả hai thì cô yên lòng lắm. Vậy là hình ảnh thằng chồng bảnh trai, lại có số đào hoa của cô chẳng có đặc điểm nào dưới mắt của hai cô chị tân thời kia.
Riêng bà Tư Hơn thì nơm nớp lo sợ hai thằng con trai uống máu què (sic) của mình vớ nhằm con vợ Bắc. Đang thân thích với bà cụ Bắc, đang thích ăn các món Bắc như bánh cuốn, phở, bún thang, bún ốc.., bà quay mặt 180 độ liền:
-- Xời ơi, tui trầy vi tróc vảy đẻ con trai rồi để cho tụi nó thả đuôi chuột
vọc hũ mắm tôm hay sao? Rước thứ dâu Bắc kỳ về nhà để tụi nó cho mình ăn mắm tôm, ăn tương đậu nành đều đều hay sao? Gái Bắc khi xổ ngọt thì lời lọt tận xương, còn khi họ phun nọc vào mình thì mình chỉ có nước nhức tê nhức bại, nếu không thì cũng bải hoải tứ chi chớ không chơi đâu. Đâu phải ả Bắc Kỳ hoặc mụ Bắc Kỳ nào cũng mềm mỏng dễ thương như cụ Bắc, cũng biết điều như vợ thằng Chín Giảo Kim?
Hai cậu con trai bà Tư Hên là Phi Long và Phi Phụng được người chú ở Sài Gòn cho ăn học tại trường tư thục Lê Bá Cang. Nhưng Phi Long chỉ học tới năm thứ hai, còn Phi Phụng chỉ học tới năm thứ ba ban Thành Chung rồi bỏ học. Anh thì đi học sửa xe hơi và xe gắn máy, còn em thì học ngành điện; cho nên cả hai kiếm bộn tiền. Bởi đó, bà Tư Hơn có thể hãnh diện rằng con mình có văn hóa tạm đủ để lấy le với chòm xóm, lại có nghề chắc chắn trong tay. Bởi vậy bà ra mặt kén dâu. Thuở trước khi thấy hai chàng Phi ve vãn hai cô Phụng Tường và Phụng Thoại, bà sợ nơm nớp mình sẽ bị hai thằng uống máu què kia bắt mình thỉnh hai cây văn hóa về thờ cúng vì hai cô Phụng học tới năm thứ tư, dù có thi rớt bằng Thành Chung, nhưng vẫn học trên hai chàng một hai bực. Lại nữa, hai cô Phụng lớn hai chàng Phi vài tuổi, có vẻ khôn ngoan hơn. Giờ đây, bà sợ hai thằng con trai kia xáp cục với hai cô gái Bắc lạ hoắc lạ huơ kia. Cô Lam và cô Hồng lại có bóng sắc tuy không trội hơn bóng sắc của những thiếu nữ đẹp nức tiếng trong tỉnh, nhưng cũng đủ nịch ái chúng, biến chúng thành kẻ chỉ biết thờ phụng vợ như tiên thánh mà coi rẻ mẹ như bọt bèo, cặn bã.
Hình như do oan trái đâu từ bao kiếp truớc, cụ Thông bà và bà Tư Hơn vừa gặp nhau là không ưa nhau. Cả hai cùng chung cách ăn nói thô tục như nhau. Nhưng trong thâm tâm, cụ Thông cho mình là tục sâu sắc theo kiểu mấy cụ đồ xưa làm thơ châm biếm thế thái nhơn tình, còn bà Tư Hơn dưới mắt cụ là thứ tục bừa bãi, bộc tuệch, bạ đâu tục đó. Riêng bà Tư Hơn cho rằng mình tục ngọt tục trơn, chẳng cào sướt tự ái ai, còn mụ già Bắc Kỳ sâu hiểm kia là thứ tục có ngạnh có mắc như lưỡi câu, chỉ làm cho thiên hạ đau thốn tim gan vì tự ái bị mụ quào rách te tua như cái nùi giẻ. Rõ ràng đây là trường hợp đồng bịnh tương đố, chớ không phải trường hợp đồng bịnh tương lân.
Nhưng cái ghét của bà Tư Hơn đậm đà nhứt là ở chỗ mẹ con cụ Thông bà ưa giao du với thím Hai Xuân và cô Năm Kim Nga. Thím Hai Xuân là con nhà bác của Chín Giảo Kim, còn cô Năm là em chồng thím. Cô ta ở trong một căn của dãy phố Trung Thành, cách nhà vợ chồng thím 50 thước.Vào mùa ốc từ tháng năm cho tới cuối tháng tám âm lịch, hễ đi ngang qua nhà thím Hai Xuân là bà Tư Hơn bắt gặp mẹ con cụ Thông bà và chị em thím Hai Xuân ngồi ăn ốc, cười nói véo von với thím. Tiệc ốc thường dọn duới bóng cây trứng cá trong sân. Nhà chú Hai Xuân chỉ có cái rào bện kẽm gai nên khách bộ hành ngoài con lộ trải đá xanh trước cổng có thể nhìn rõ cái sân trần trụi của chú. -c miền nước ngọt vùng Tiền Giang có nhiều thứ: ốc lác và ốc bươu đem luộc để chấm nước mắm gừng, ốc gạo luộc để chấm nước mắm chanh, ốc dừa và ốc đắng luộc để chấm mắm sả, ốc len xào nước cốt dừa. Ngoài ra ốc gạo còn được cuốn với dừa nạo, thịt phay, rau thơm trong lớp bánh tráng nhúng nước để làm món gỏi cuốn ốc gạo. Mẹ con cụ Thông bà mê tơi các món ốc. Có hôm dù không được cụ đãi ốc, thím Hai Xuân cùng cô Năm Kim Nga cũng mua ốc đem qua tặng gia chủ để cùng ăn với gia chủ. Cụ Thông bà dạy thím Hai và cô Năm nấu món bún ốc nên tình lối xóm thắt chặt thêm.
Bà Tư Hơn biết quá rõ hành trạng dâm đãng táo tợn của cô Năm Kim Nga.
Bà chì chiết với bà cụ Bắc:
-- Cái con đĩ chuột cống chuột xạ đó nếu không phải là con Hạ Cơ, thì cũng
con Tuyên Khương, hoặc con Văn Khương hay con Võ Chiếu đầu thai chớ chẳng sai. Bạ trai nào, nó cũng chổng đít cho hắn đục lỗ, gặp tên mổ nào nó cũng nằm ngửa cho đương sự xỏ kim. Nó mắc bịnh cuồng dâm đó đa cụ. Hễ vắng đờn ông chừng một đêm là nó ngứa ngáy, không chịu nổi. Vậy mà nó ưa đi chùa làm công quả, miệng niệm Phật dẻo quẹo mới là chướng chớ! Thành tâm mộ đạo gì nó! Miệng tuy niệm A-di-đà Phật/Thấy sãi xinh, tay trật quần ra. Chỉ trong một buổi tối, nó dám cho thằng Chín Giảo Kim và hai thằng con trai tui thụt súng cối, thụt ô-buýt vào cái hang ổ mắc dịch của nó cho tới nghiêng trời lệch đất. Có động trời không cụ?
Từ lâu, Thắm đã biết cô Năm Kim Nga đã từng tằng tịu với hầu hết trai vùng nầy trong đó có Chín Giảo Kim, trước khi tên chồng khí gió lăn đùng kia cưới cô làm vợ. Cho nên cô khinh ghét cô Năm ra mặt. Eo ơi, y thị đã cụp lạc với tên oan gia lòng dơi dạ chuột của tôi. Rồi đây, biết đâu y thị sẽ tái diễn cảnh dâm bôn thêm nhiều lần nữa. Cho nên Thắm vuốt đuôi lươn:
-- Thế ư, cụ Tư? Thế thì hỏng quá!
Hăng chí, bà Tư Hơn tuôn ào ào giọng thổ:
-- Mợ Chín chưa biết đâu, con đĩ xà bần hổ lốn đó còn thầm thụt với thằng
Chệt Pạt Yục Tàng (Bạch Ngọc Đường) ở cùng dãy phố với nó. Đêm đêm, nó mở cửa cho Chệt ta qua đạp mái tưng bừng tở bở, giường kêu cót két như cóc nghiến răng.
Pạt Yục Tàng làm nghề cán mì, cán bột gói hoành thánh để đếm cho những gánh mì, cho các tiệm nước trong thành phố. Nghe nói hắn có nhiều tiền. Hắn lớn con, trắng trẻo, khôi ngô. Nhờ bửa cũi, gánh nước, nhồi bột, cán bột mà hắn có vóc mình lực lưỡng, nạc nhiều, mỡ ít, bụng thon. Tuy nhiên, Thắm vẫn chì chiết:
-- Cô ta ăn nằm với trai Việt chưa thỏa mãn hay sao mà còn tòm tem qua tên
Chiệc? Xấu hổ quá đi thôi!
Bà Tư Hơn tuy ngồi bán các món quà ở Xóm Chuồng Gà, nhưng mấy mụ khách hàng thèo lẻo thường đến ăn và thông tin cho bà biết đủ mọi chuyện khắp làng trên xóm dưới, cho nên chuyện phòng the của cô Năm, bà biết khá bộn.
Việc bà Tư Hơn rải muối độc và trồng nấm độc lên cuộc đời cô Năm Kim Nga vẫn được các mụ thèo lẻo rót lai láng vào tai cô, cô chỉ cười hề hề bảo chị dâu:
-- Bà Tư Hơn nói xấu em là việc của bả. Còn việc cho hai thằng con của bả
chết chung một lỗ là chuyện giải trí dài dài của em. Bả coi chừng ông chồng dê xồm của bả. Có ngày em thiếm xực luôn ổng, cho bả tức trào máu què chơi. Hà! Hà! Hà!
Thím Hai Xuân vốn có bụng thương mến cô em chồng của mình, nhưng thím không quên nhiếc móc:
-- Mầy mà chưa lấy chồng, anh Hai mầy và tao phải chịu đội quần khắp
thiên hạ. Còn bực cha mẹ và đờn bà ở vùng nầy phập phồng, chằng biết lúc nào chồng của họ bị mầy rinh đi mất, chẳng biết lúc nào đầu họ sẽ bị mầy cắm sừng! Thôi em cưng, em gắng tu bỉ, cứ thả trôi thả nổi hoài e có ngày cưng dến bịnh tiêm la, bịnh lậu mủ... đa em.
Cô Năm Kim Nga là gái chịu chơi; khách chơi cho cô tiền thì cô nhận, bằng không thì cô cho chơi miễn phí hoặc cho chơi... chịu. Không bao giờ cô tính sổ với người đờn ông nào đã ăn nằm với cô một cách nghiệt ngã. Nghe nói cô làm nghề áp-phe, buôn bán hột xoàn cẩm thạch lai rai. Cô mập mạp, vóc vạc vừa tầm, khuôn mặt đĩ lộ, nụ cười dễ dãi và tươi tắn, sóng mắt sáng ướt, tròng mắt đưa đẩy loang loáng. Cô ăn mặc chải chuốc, tóc bới cái bí bo sau ót có bao lưới và giắt trâm. Thường ngày, cô trang điểm nửa chợ nửa quê, tuy quê bảy chợ ba mà cô vẫn đẹp mặn mòi. Cô đeo xâu chuỗi cẩm thạch, đôi bông tai cẩm thạch, đôi kim hoàn xâm hình rồng đoanh, cặp cà rá nạm ngọc lựu, chiếc trâm cài chéo áo cẩn hột hổ phách và san hô. Nhưng khi đi làm áp-phe, cô cuốn tóc tay rế, mặc áo nhung trơn, đeo nguyên sưu bộ hột xoàn chấp chới. Ở cô, cái gì cũng óng ả, mướt rượt. Cô cặp xách với ai cũng kín đáo. Cô không nói tục, không nói trây với người ngoài, nhưng cô khoái nghe chuyện tiếu lâm, nghe rồi cười hềnh hệch một cách thống khoái, nhưng không bình phẩm. Cô rất dễ thương. Ai nói xấu cô sau lưng cô, lời nói xấu kia có khi tới tai cô, cô vẫn cười híp mắt, rồi tròng mắt đưa đẩy loang loáng, trông thiệt dễ thương!
Thầy Mai Hán Sơn cứ chà lết nhà cụ Thông bà thêm một tháng nữa , rồi mới dắt mẹ mình là bà Biện Mai văn Giang đến dạm hỏi cô Hồng cho thầy. Hỏi ra, bà Biện Giang là em con nhà cô của bà Tư Hơn. Dù bà Tư Hơn hết lòng khuyên chị mình đừng cưới cô Hồng cho thầy Hán Sơn, nhưng bà Biện Giang ngáp dài :
-- Dì ơi, thời buổi nầy tụi trẻ kỳ cục lắm, tụi nó ưng con nào thì mình nên
cưới con đó cho tụi nó, bất chấp con lủng hay con lành. Nên thì tụi nó nhờ. Hư thì tụi nó rán cắn răng mà chịu. Nếu mình ép duyên tụi nó, rủi mai sau gặp cảnh cơm không lành canh không ngọt, tụi nó sẽ đổ thừa mình, điếc tai điếc đít lắm!
Vậy là đám hỏi tiến hành rùm rụp. Cô Hồng đem chia trầu cau và bánh trái cho họ hàng và chòm xóm thân thiết. Mỗi lần qua thăm hôn thê của mình, thầy Mai Hán Sơn cũng đèo theo thầy Trần Thanh Thoại, giáo sư môn Pháp văn của trường Long Hồ, bạn chơi bóng rỗ rất thân của thầy . Thầy Thoại có vóc vạc trung bình, thân mình cân đối và liền lạc. Đã vậy thầy đẹp trai theo kiểu thư sinh thời cổ bên Tàu: mắt sáng, mày thanh, mũi thả giọt mật, môi đào, răng lựu, da mặt mỏng và trắng hồng.
Bà Tư Hơn, một hôm nọ đến thăm bà Biện Giang, bảo thầy Hán Sơn :
-- Dì không hiểu tại sao cháu lại lấy vợ Bắc Kỳ ? Tụi Bắc Kỳ không biết nấu
cơm, mà cũng không biết ăn cơm.
Thầy Hán Sơn lấy làm lạ:
-- Thưa dì, sao lạ vậy? Chẳng hay họ nấu món gì và ăn món gì?
-- Họ chỉ biết thổi cơm và xơi cơm thôi, cháu à.
Rồi bà kể xấu gia đình cụ Thông bà, toàn là những điều do bà tưởng tượng. Những điều tưởng tượng đó dựa lên cuộc sống phóng dật lăng loàn của cô Năm Kim Nga. Bà Biện Giang và thầy Hán Sơn cứ gật đầu chấm câu để làm vui lòng bà. Họ thừa biết dù mẹ con bà cụ Thông có giao thiệp với cô Năm Kim Nga, nhưng không bao giờ họ qua chơi nhà cô Năm; lại nữa cô Hồng lẫn cô Lam không bao giờ đi chung với cô ta khi có dịp đi chợ hay đi thăm viếng ai.
Không hiểu sao những lời vu khống ấy lọt đến ai cụ Thông bà. Cụ đâu có thể nhịn bà Tư Hơn một cách dễ dàng. Cụ tìm cách trả đũa mụ già độc miệng kia. Nhưng cụ không dám nói với ai, ngay cả cô Năm Kim Nga và thím Hai Xuân, mà chỉ dám tâm sự với em và cháu gái:
-- Cái mụ già Tư Hơn khốn nạn kia cứ tưởng đâu hai thằng con giai của mụ
quý báu lắm đấy. Hai thằng ấy tuy làm nghề có nhiều tiền, nhưng chúng nó hời hợt, cười nói oang oang, người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm, trông thế nào ấy! Người Nam thô lổ, ăn nói tao nhã bằng người Bắc chúng mình thế nào được? Cô Hảo xem đấy, hoa sơn chi thì họ gọi là hoa dành dành; còn hoa bạch ngọc thì họ gọi là hoa lài trâu; nhà bưu điện thì họ gọi là nhà giây thép; tòa hành chánh thì họ gọi là tòa bố. Ngôn ngữ gì mà thô tháp, thô bạo, thô tục, chẳng ra sao cả. Nghe nói loại kim hoàng thảo thì họ gọi là cỏ chó đẻ. Còn lá mơ tam thể, họ gọi là lá thúi địt nữa đấy!
Cô Thắm mỉm cười:
-- Thưa bác, thế mà tại sao người Nam kêu lá cúc mốc là lá nguyệt bạch?
Bác thử nghĩ xem, tiếng nguyệt bạch và tiếng cúc mốc thì tiếng nào hoa mỹ hơn, hở bác?
Cụ Thông bà nguýt cô cháu gái của mình thật bén. Ai mà chẳng biết, tên chồng Chín Giảo Kim của Thắm là người Nam? Hèn chi nó chẳng binh tiếng Nam và người Nam chầm chập? Đã vậy cô Hồng còn bồi thêm:
-- Mẹ ạ, tiếng Nam cũng hay lắm cơ, đã phong phú ý tình mà còn thấm
thía cảm xúc. Giọng Nam nếu không ngọt thì làm sao hai nghệ sĩ Út Trà Ôn và Huỳnh Thái, kẻ Nam người Bắc ca Vọng Cổ làm say lòng khách mộ điệu Bắc Kỳ hở mẹ?
Bà cụ Bắc bảo chị:
-- Bác nhớ chứ, ngày xưa gánh cải lương Trần Đắt từ trong Nam ra trình
diễn ở Hà Nội, có đêm nào mà bác chẳng đến xem? Bác cũng đã từng khen lấy khen để với em rằng Cải luơng Sè-Goòng hay hơn chèo cổ Bắc Kỳ vạn bội đấy chứ. Bác còn suýt soa ông Năm Châu, bà Phùng Há mỗi khi cất giọng lên ca là bác muốn tan thành khói thành mây...
Cụ Thông bả rên:
-- Thế này là thế nào? Mụ em của tôi thì chả nói làm gì vì đương sự trước sau
vẫn có lòng ngay dạ thẳng. Còn đứa gái lớn chết tiệt này khi chưa si tình thày Mai Hán Sơn thì nó chê ai mà hát Vọng Cổ là quê mùa, bây giờ nó lại lật lộng nói khác một cách tỉnh bơ!
Cô Lam bảo mẹ:
-- Mẹ ơi, nếu duyên giời dong duổi, con được lấy chồng Bắc, nhưng lũ con
của con mai sau trên đất nước Nam Kỳ nay sẽ nói tiếng Nam với người ngoài một cách rành rẽ, còn khi trở về nhà thì chúng chỉ nói tiếng Bắc ba sồn bốn sựt với bố mẹ chúng mà thôi.
Cụ Thông bà giáng cho cô Lam một cái nhìn sấm sét. Tuy nhận thấy cô thứ nữ của mình nói nhằm lẽ, nhưng cụ vẫn ghét cô vì cô chêm vào câu nói bốn tiếng ba sồn bốn sựt nghe chối tai lắm lắm! Cụ thừa biết hiện giờ cô Lam đang để ý thầy Trần Thanh Thoại. Mỗi khi thầy tháp tùng thầy Hán Sơn qua thăm, thế nào cô Lam cũng diện chiếc áo bà ba mới bằng nylon hay bằng demi nylon in hoa hòe hoa sói choáng lộn. Nhưng để dằn cho màu sắc bớt hỗn, bớt gắt, cô mặc chiếc quân sa teng tuyết nhung đen. Áo thì chẳng nói chi nhiều tấm lòng háo hức và phấn khởi của cô. Độc đáo nhứt là cặp mắt cô khi cô được hầu chuyện với chị và ông anh rể tương lai của mình cùng thầy Thanh Thoại. Trời, cặp mắt sao mà sáng ngời ngời, reo vui một cách lạ lẫm! Khi cô đuợc hai chàng tân học yêu cầu hát bài Sérénata của Enrico Tosselli mà Phạm Duy phổ lời Việt và ban cho nó cái tựa là Chiều Tà thì cặp mắt đó ướt rượt, nói lên rất nhiều tấm lòng sôi nổi của cô. Riêng thầy Thanh Thoại, mỗi khi bắt chuyện với cô là mặt thầy đỏ rạo đỏ rực, đỏ hực đỏ hừng, cặp mắt thầy đắm đuối, rèm mi thầy chớp lia chớp lịa, coi thuốc chuột quá! Đến khi nghe cô hát, mặt thầy đực ra một cách dễ thương, thộn ra một cách thơ mộng. Thôi rồi, anh ả đang ở vào tình trang tình trong như đã, mặt ngoài còn e mất rồi!
Thầy Thanh Thoại cũng là dân di cư. Tía thầy là ông Phán Trần Thanh Lương hiện làm việc ở Tòa Hành Chánh. Còn thầy nhờ có bằng Thành Chung nên dạy Pháp Văn bực Đệ nhứt cấp ở trường Tư thục Lam Sơn. Ông Phán đông con, có tới chín đứa lận. Vợ ông mập mạp, mặt lúc nào cũng đỏ ké. Hai đứa con gái đầu lòng đã lấy chồng ở Vũng Tàu. Hai thằng con kế đi lính Bảo An, giờ đã trở thành hai ông Trung úy. Kế đó là thầy Thanh Thoại, Còn cô em gái kế của thầy theo ở với người dì trên Sài Gòn; cô ta dạy lớp nhứt ở trường Tiểu Học Cầu Kho. Còn bốn đứa con chót đều là gái cả. Năm ngoái, bà Phán Lương báo tin cho chồng và thằng con trai thứ ba hay rằng bà có triệu chứng mang bầu lần thứ mười. Chàng Thanh Thoại bảo:
-- Mẹ ơi, sau khi sinh nở xong, xin mẹ kiêng đi.
Bà Phán Lương quắc mắt rồi dảy đành đạch, miệng bù lu bù loa:
-- Mày nên bảo thằng bố phải gió của mày kiêng, chứ bà nhất định... không
kiêng. Thằng bố của mày kinh khiếp lắm nên bà kiêng thế nào được, hả giời?
Bà gào, bà rống, bà lôi ra một ngàn lẻ một nỗi khổ tâm trong cuộc đời làm vợ và làm mẹ của mình để kể tội chồng con. Bà luôn lập đi lập lại câu: Bà kiêng thế nào được, hả giời? làm các cô con gái chót cười chúm chím, mặt đỏ rạo rực. May là kỳ đó bà hư thai. Chồng bà hy vọng từ đây bà bặt đường sanh nở luôn cho ông dễ thở.
Ông bà Phán Lương khi mới dọn về đây mướn một căn phố lầu đường Đồng Khánh, ngó xéo xéo qua dãy tiệm hớt tóc. Tối tối, mấy anh hớt tóc vầy cuộc đờn ca bài bản cải lương om sòm nên bà Phán Lương òn ỉ chồng dọn về Cầu Đào, gần Chùa Bảy Phủ thờ Đức Quan Thánh Đế Quân. Ông mua ngôi nhà lợp ngói móc, có vòm cổng trồng cây huỳnh anh trổ lai rai hoa vàng đan lộn với cây bông giấy thường trổ hoa tím đỏ.Từ Cầu Đào đi thẳng bon một vạch chưa đầy 10 phút là tới Xóm Thiềng Đức, nào có xa xôi, lâu lắc gì. Nhưng thầy Thanh Thoại vì nhút nhát không dám đến viếng cô Lam. Thầy phải đợi thầy Mai Hán Sơn từ dãy phố bà Thông Vịnh, gần đất Thánh Tây, cỡi mô-tô qua để cùng đề huề đến trồng cây si tại nhà nhị kiều ca hát Tân nhạc rựa ràng như các nữ ca sĩ đài phát thanh kia.
Một hôm, cụ Thông bà đãi bún ốc cho hai chàng giáo sư trẻ tuổi, có mời thím Hai Xuân và cô Năm Kim Nga qua ăn. Vừa chạm mặt hai chàng, cô Năm cười chúm chím, mắt long lanh tinh quái. Ôi, tưởng ai xa lạ, hai ông tướng nầy đã có vài ba lần tìm đến cô, không phải lần lượt chết chung một lỗ của cô, mà cùng cô giao hoan tập thể để đổi món ăn chơi hấp dẫn hơn. Khám phá được điều hoan lạc lạ lẫm, về sau họ cứ bày trò tập thể. Trong phút hành lạc với cô, họ còn hôn nhau giao hữu trên trán. Hỏi ra họ đã đi theo vết Đào Viên kết nghĩa thời Tam Quốc. Thầy Mai Hán Sơn ra công dạy thầy Trần Thanh Thoại môn võ Thiếu Lâm. Đáng lẽ thầy Thanh Thoại kêu thầy Hán Sơn bằng sư phụ cho đúng phép tắc,
đúng lễ nghĩa. Nhưng thầy Hán Sơn vì không muốn chịu leo lên bực ông già và cũng không muốn ai biết mình có võ nghệ nên chỉ nhận thầy Thoại làm nghĩa đệ mà thôi.
Riêng cô Năm Kim Nga, cô cũng cảm nhận cái kiểu làm tình mới lạ kia sao mà kích thích thể xác nhạy cảm của cô một cách gay gắt và thập phần tuyệt diệu. Đó là vào buổi tối đầu tiên trong căn nhà của chị cô gần gò đất cao có xây mã thương gia Tào kê Giang, giữa cánh đồng loáng nước. Chị cô đã thiên cư về Rạch Giá, theo chồng mới. Bà ta có nhờ cô trông coi nhà và tìm cách bán nhà, hứa cho cô huê hồng. Trong lúc dọ giá và tìm người mua, cô dùng ngôi nhà đó làm nơi hành lạc cho mình. Và lần đầu tiên, cô đưa hai chàng Hán Sơn và Thanh Thoại đến đó, mưa tháng bảy rào rào như trút nước lên mái ngói, lên cánh đồng xung quanh. Bàn ghế đã dọn đi gần hết, chỉ chừa cái bàn nhỏ bên cửa sổ bằng cây thao lao, chiếc vạt tre và chiếc divan nhỏ.
Mưa cứ tuôn tầm tã, hết đám nầy tới đám khác. Giữa hai cơn mưa, gió lộng hành trên những cây me keo, cây bằng lăng và cây mù u, cây mộc lan xung quanh nhà. Chưa bao giờ cô Năm no phỉ khoái lạc bằng cuộc ân ái đêm đó. Tấm thân cường tráng và dáng dấp hùng tráng của Mai Hán Sơn tương phản với thân thể tươi non và cân đối cùng khuôn mặt trong sáng tuyệt vời của Trần Thanh Thoại làm cô thập phần hứng khởi. Cả hai thành khẩn quăng mình vào cuộc chơi. Họ trân quý cô, xem cô như một nữ thần nhục thể. Họ liếm láp hai chỗ bài tiết của cô mà không nhờm gớm. Họ quăng mình một cách say đắm vào cơn săn tìm khoái lạc. Rồi cả ba, khi ngưng cuộc làm tình, cứ tỉ tê tâm sự với nhau gần suốt đêm. Cô pha cà phê sữa và hâm soong bánh canh nấu với cá lóc cùng giò heo đã làm sẵn để đãi họ cho họ mau lợi sức.
Chiếc đèn Hoa Kỳ đặt trên bàn cây thao lao luôn cháy sáng. Vào cuối canh tư, cô phải châm thêm dầu vào bình đèn. Còn hai chàng tuấn mã lương câu đó đúng là trên răng dưới thùng xăng, xài chỉ bốn hiệp trong một đêm thì làm sao xăng cạn vơi được? Và đó cũng là lần đầu tiên, cô Năm Kim Nga làm tình với hai chàng trí thức tỉnh lẻ. Chèn ơi, một khi họ lăn xả vào cuộc săn đuổi tình dục thì mọi mức độ kiến thức chẳng can dự vào cơn khoái cảm gay gắt mù lòa làm chín nhừ thân xác của họ. Họ hành xử theo một phản ứng như nhau: sống hoàn toàn theo bản năng con thú đực. Cơn sướng khoái tột độ làm cho Trần Thanh Thoại khóc nhễu nhão và làm cho Mai Hán Sơn thở hổn hển và rên hừ hừ. Cô thừa biết khóc nhễu nhão, thở hổn hển hay rên hừ hừ của họ không phải chỉ là cái phản ứng suông trơn của cơn lạc thú, mà còn là cái ý thức tăng cường khoái lạc của họ. Họ giống như bao người đàn ông hồn nhiên hay thô lỗ khác đã từng ăn nằm với cô: trong cuộc giao hoan, tuy buông thả theo bản năng, nhưng họ vẫn không quên rên rỉ hoặc khóc lóc để họ được thăng hoa vào thiên đường cảm giác gay gắt và nồng đậm hơn. Nói rõ hơn: đó là các phương pháp leo lên tuyệt đỉnh của nhục cảm bằng một ý thức trong sáng và tỉnh táo tuyệt vời.
Cụ Bắc, từ khi thầy Mai Hán Sơn đã dạm hỏi cô Hồng rồi, liền khuyên chị:
-- Bác ạ, nay mai cháu Hồng sẽ về làm vợ giáo sư Hán Sơn, tức là trở thành
cháu dâu cụ Tư Hơn rồi. Bấy lâu nay, bác và cụ ấy cứ hiềm khích nhau. Cụ ấy cứ bịa nhiều chuyện bất lợi cho hai đứa cháu gái cưng của em luôn. May mà cụ Biện Giang biết suy đi nghĩ lại nên mới cho phép con giai mình kết hôn với cháu Hồng. Còn giáosư Thanh Thoại đang gấp ghé cháu Lam. Nếu cụ Tư Hơn cứ tiếp tục phun nọc tới tấp vào gia đình bác, em e rằng hai cụ Phán Lương sẽ cản trở không cho giáo sư Thanh Thoại tiến tới cuộc hôn nhân với cháu Lam. Vậy bác và cháu Hồng nên xử nhũng với cụ Tư Hơn là thượng sách. Có thế, cháu Lam sẽ được duyên ưa phận đẹp mai sau.
Cụ Thông bà có vẻ tư lự rồi thở dài sườn sượt.
Sau khi thầy Thanh Thoại ăn hỏi cô Lam, vào một buổi sáng lành lạnh, cụ Thông bà vào Xóm Chuồng Gà để viếng hàng bánh cuốn của em mình. Tại đây, cụ gặp cô Năm Kim Nga. Cô ăn mặc nhã đạm: áo nhiễu tím, quần mỹ a đen dệt bông cúc bông mai. Tóc cô vừa uốn gọn, phơi chiếc gáy trắng mịn.
Hôm đó nhằm Chúa nhựt. Trường tiểu học Thiềng Đức đóng cửa nên cửa hàng thưa thớt. Tuy nhiên, bà Tư Hơn vẫn bán quà cho bợm nhậu như khô mực và khô cá gộc nướng, trứng vịt lộn và trứng vịt ung luộc, me cùng cốc, ổi chấm mắm ruốc, ốc lác và ốc bươu luộc. Mà lạ dữ kìa, giữa mớ bánh ú, bánh tét, bánh ích, bánh dừa còn có cốm dẹp ngào đường và trộn dừa nạo được đựng trong chiếc thau nhôm sáng loáng.
Cô Năm hớn hở bảo cụ Thông bà:
-- Cụ bà ơi, ăn bánh cuốn xong, cháu mời cụ dùng thử cốm dẹp ngào đường
của bác Tư để cụ thưởng thức món quà độc đáo của bác.
Cụ Thông Bà gởi về mụ già đối thủ một cái nhìn thân thiện và một nụ cười cầu tài; cụ ngọt giọng:
-- Gì chứ cốm dẹp trộn đuờng của cụ Tư thì ngon phải biết! Vậy xin cụ bán
cho tôi ba gói. Còn cháu Năm thì sao đây? Ăn bánh cuốn xong, cháu dùng quà đặc biệt của cụ Tư tráng miệng chứ?
Cô Năm Kim Nga cười một cách nịnh bợ:
-- Cụ ơi, cháu tới đây cốt ăn cốm dẹp ngào đường của bác Tư đó thôi.
Cụ Bắc bảo:
-- Cô Năm ạ, hôm qua cụ Tư có cho tôi một gói bột gạo. Còn bác Thông lại cho khá nhiều chả quế. Hôm nay tôi làm bánh cuốn Thanh Trì đãi cụ và đãi chị tôi. Sẵn tiện, tôi xin mời cô Năm luôn. Tôi đã rán đậu hủ thật ròn để ăn cặp với bánh cuốn rồi đấy!
Hôm đó, sẵn ngon miệng, cô Năm Kim Nga ăn thêm trứng vịt lộn cho bà Tư Hơn vui lòng. Khi cùng về xóm Thiềng Đức, cụ Thông bà hỏi cô Năm Kim Nga tại sao hôm nay cô tỏ vẻ thân thiện với bà Tư Hơn? Cô Năm cười buồn:
-- Cụ Bắc khuyên cháu đó đa. Cái miệng độc dữ của bà Tư Hơn, đố ai kình
địch nổi? Chọc bả ghét, mình chỉ bị thiệt hại nặng nề. Đánh lớn thua lớn, đánh nhỏ thua nhỏ, thua dài dài , cụ ơi!
Trong vòng hai tuần, bà cụ Thông và cô Năm Kim Nga cứ tìm đến bà Tư Hơn để ăn quà. Cho nên cả ba dần dần bắt chuyện với nhau cởi mở hơn. Lại nữa, Hồng còn biếu bà chả cốm và bánh cốm, kêu bà bằng dì và xưng cháu ngọt xớt. Tuy biết mẹ con cụ Thông bà muốn lấy lòng mình; nhưng bà vốn yếu đuối trước quà cáp và lời nịnh nọt của mẹ con cụ. Do đó, bà ngần ngại gì mà chẳng gọi cô Hồng bằng vợ thằng Hai Sơn và xưng dì với cô? Chu choa ơi, cách xưng hô ngọt sao mà ngọt lìm lịm! Thỉnh thoảng, mua được tôm càng hay cá bống trứng, bà đích thân đem tới nhà cụ Thông bà để tặng mẹ con cụ.
Có lần qua Thiềng Đức thăm vị hôn thê, Mai Hán Sơn tình gặp cô Năm Kim Nga đem gấm lụa qua hai chị em Hồng và Lam để may áo dài. Cô Năm Kim Nga ỏn ẻn bảo chàng:
-- Thầy Hán Sơn à, tui đặt may một lượt ba cái áo dài. Cái bằng mousseline
màu xanh rắc bông mận trắng dành đi ăn cưới cô Hồng. Cái áo gấm đen in lông công mặt nguyệt dành dự tiệc cưới cô Lam. Còn cái áo xường xám bằng gấm đỏ dệt bông tròn thêu long phụng bằng kim tuyến chen ngân tuyến là áo cưới của tui.
Mai Hán Sơn làm thinh, mắt đăm chiêu, mặt buồn chẳng ra buồn, vui chẳng ra vui. Cụ Thông bà dặn cô Năm:
-- Tôi xin chúc mừng cháu sắp gá duyên với ông hàng xóm cán mì và bột
gói hoành thánh. Mà này, áo dành đi dự tiệc cưới nên may cổ đứng, đừng may cổ hở như kiểu áo bà Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Áo do bà ta sáng chế ra bị dân quê gọi là áo cổ khoét l... trâu đấy!
Chợt thấy bóng cô Thắm cùng cô Lam hái bông huệ bên hè, cô Năm Kim Nga cất giọng thẽo thợt:
-- Cô Hồng nè, khi tui mặc áo dài cổ cao có chít ben , ai cũng nói tui giống
Thẩm Thúy Hằng. Mới hôm qua tui mặc áo xường xám, ai cũng trầm trồ tui giống nữ minh tinh Lý Lệ Hoa ở Hương Cảng. Số là ông Trưởng phòng Thông Tin tỉnh nhà muốn thành lập ban kịch tố Cộng. Ổng hứa đào tạo tui thành nữ diễn viên chánh. Tui phân vân không biết lấy nghệ danh là Thẩm Thúy Nga hay Lý Lệ Nga đây? Cô có ý kiến gì khôn
Cô Hồng chỉ cười cười, không nói không rằng. Bên hè, cô Thắm trề môi dài thòn, mắt nguýt lia lịa về phía cô gái chịu chơi.
Sáng hôm sau, tình cờ thầy Hán Sơn cùng thầy Thanh Thoại dùng điểm tâm tại tiệm Đồng Hính, nổi tiếng các món hấp như xíu mại, há cảo, bánh bao, bánh ướt Triều Châu, bánh ướt Quảng Đông, ngoài các món mì, hủ tíu, hoành thánh, xủi cảo... Chợt thấy cô Năm Kim Nga mặc áo xường xám bằng hàng mỏng nền xanh rắc hoa ti-gôn trắng, đi giày cao gót, xách bóp da láng ở ngoài xăm xăm bước vào. Cả hai mời cô cùng điểm tâm với họ. Cô Năm ngồi bên cạnh thầy Thanh Thoại, phía dưới tấm gương vẽ hình Tiên Nữ Tán Hoa treo trên vách. Cô vui vẻ, chìa bàn tay trắng mềm với năm ngón sơn móng đỏ như da trái ớt sừng trâu cho hai anh em cột chèo tương lai bắt. Cô líu lo:
-- Cám ơn hai anh. Em đã ăn cơm tấm bì gần Miễu Quốc Công rồi. Hôm
nay em đến đây tìm bà chủ tiệm để bán cặp vòng cẩm thạch, chớ không định ăn uống gì hết.Thầy Hán Sơn hỏi:
-- Nghe nói em sắp lấy chồng Khách Trú, có đúng không, em cưng?
Cô Năm Kim Nga lộ vẻ nghĩ ngợi xa xăm, rồi nở nụ cuời ngỏn ngoẻn trên cặp môi tô son màu hồng đào ngọt lịm:
-- Đúng y chang đó, hai anh à! Em lăng loàn, phóng dật nhiều quá rồi. Tới
tuổi 31 nầy, em nên trụ là vừa.
Thầy Thanh Thoại ngồi trơ một đống, chẳng biết nói gì hơn, chỉ biết ngó cô gái chịu chơi bắng cái nhìn ngây ngô, khờ khạo vì thèm muốn. Thầy Hán Sơn đề nghị:
-- Tụi anh sắp cưới vợ. Em cũng sắp lấy chồng. Tại sao tụi mình không tìm
một dịp chót để chơi trò một bà Táo cùng hai ông Táo giao hội, hả em?
Cô Năm Kim Nga ngún nguẩy:
-- Thú thiệt với hai anh, trót nửa năm nay, em đụng độ với thằng Chệt Pạt
Yục Tàng, em mới nhận thấy nó không thô lỗ như em hằng tưởng. Nó có cái bửu bối ... rùng rợn lắm, lại sành việc gối chăn, biết đủ ngón nghề do Đức Huỳnh Đế cùng hai ả Tố Nữ, Huyền Nữ chỉ vẽ để cho hậu thế làm chuyện giao hoan khoái lạc. Về cái chuyện ... đó đó, bốn người đờn ông nhập lại không bằng nó đâu. Hồi nào em tác quái tác yêu, dập dìu ong bướm, nhưng em không áy náy với lương tâm. Giờ đây, em đã thề nguyền sẽ ăn đời ở kiếp với nó, lẽ nào em cặm sừng nó cho đành hay sao? Hơn nữa, em đang có thai; nó đã hì hục ra công đúc cốt thì lẽ nào em để cho người đàn ông khác thảnh thơi tráng men lên con của nó hay sao? Tội chết đa! Con người dù có lòng rác dạ rơm cách mấy cũng phải biết liêm sĩ chớ bộ !
Giảng đạo thánh hiền tới đây, cô nheo mắt nguýt hai chàng mô phạm, rồi bựt ra cười hăng hắc. Cô nhấn mạnh từng tiếng:
-- Càn khôn vũ trụ ơi, ông bà ông vãi ơi, thằng Chệt đó...kinh khủng lắm,
ác ôn côn đồ thổ phỉ lắm! Hì! Hì! Hì! Cho nên con dâm phụ Lý Lệ Nga nầy từ đây thề bỏ thói đi ngang về tắt, đoạn tuyệt chuyện bắt kép dê trai. Hì! Hì! Hì!
Cô kêu ly cà-phê đá, rồi mở gói Cotab, lấy một điếu thuốc ngậm trên môi. Thanh Thoại bật lửa châm điếu cho cô. Cô lim dim phà khói, mơ màng:
-- Mấy anh nên coi chừng bà Tư Hơn. Lóng rày bả thân thiện với cô Hồng và cô Lam lắm đó. Hễ bả biết em còn tò tí với hai anh, bả sẽ rủ mấy mụ Chằng ăn trăn quấn, mấy bà sư tử Hà Đông xách dao bằm nhuyễn em rồi chiên thành chả quế, chả cá thu. Còn hai cô kia thay gì dùng giọng ngọt như mía Gò Mây hát cho hai anh nghe, họ sẽ dùng giọng khế giọng chanh để cằn nhằn hai kẻ ngoại tình cả năm chưa chán, huống hồ suốt tháng chưa nguôi hay sao?
 
Hồ Trường An

Chào...* Hoàng Quỳnh Hương

Chào Xuân Mới Với Những Nụ Cười Nụ Hôn
Độc Đáo Trong Ca Dao Miền Nam
 
San Jose 2013
 
Từ thời xa xưa đến nay, mỗi khi mùa Xuân đến, không ai bảo ai, đều chuẩn bị mừng đón Tết Nguyên Đán . Đó là ngày vui nhất của năm sau ngót hơn 365 ngày đầu tắt mặt tối. Tết chẳng riêng ai mà cho khắp mọi nhà, mọi dân tộc, là một tục lệ cổ truyền của người Việt Nam. Trong các cái Tết chỉ có Tết Nguyên Đán được xem là vô cùng hệ trọng. Đối với quốc gia thì Tết tượng trưng và tiêu biểu cho linh hồn của một dân tộc, cho dù sống ở bất cứ nơi nào trên thế giới, cũng không thể nào quên phong tục tập quán của quê hương mình. Đó còn là dịp để chúng ta gặp gỡ nhau, hứa nguyện trước bàn thờ Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ giữ gìn ý tứ, lời nói, và nhất là hành động sao cho trong sạch suốt năm.
Ngày Tết có lắm tập tục, chẳng hạn như tục xông đất, tục dựng nêu, tục lì xì v.v…Người đến chúc Tết lúc nào cũng được gia chủ đón tiếp nồng hậu với nụ cười tươi, cùng tất cả lời chúc lành đẹp nhất. Thể hiện bằng chén trà, ly rượu, bánh mứt…Cũng có nơi gia chủ mời ăn vài món đồ mặn để nhâm nhi với chung rượu lạt nữa.
 
Như “luật bất thành văn”, người Việt Nam chúng ta cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có tục lệ tổ chức những ngày lễ Tết trọng thể, tưng bừng và tiệc tùng linh đình vào ngày đầu năm.
Ngày Tết Nguyên Đán còn có tục gặp nhau là phải cười, dù cho có ghét nhau mấy đi nữa, có đói, có no, giàu hay nghèo, gặp nhau ba ngày Tết ai cũng vội nhoẽn miệng cười tươi tắn để chúc phúc cho nhau…Ông bà Tổ Tiên ta đã dạy:
Thứ nhất là đạo làm người
Dù no dù đói cho tươi mặt mày.
 
Những ngày đầu năm mới, kỵ nhất là mặt mày ủ rủ, phải vui tươi thì mới hy vọng cả năm làm ăn khấm khá. Sau đây tôi xin đơn cử nhiều kiểu cười khác nhau, tất cả mọi tình huống mà chúng ta không ít người có thể bắt gặp trong đời sống hằng ngày, hoặc đọc qua và tìm thấy trong ca dao tục ngữ miền Nam.
Có người khi gặp nhau thì có nụ cười gượng gạo, cười trừ, cũng có người có nụ cười vô duyên thì lại cũng có người ta bắt gặp có nụ cười bẽn lẽn, hoặc cười khúc khích cười bả lả…
Để có dịp làm vui cho mọi người những ngày đầu năm mới. Hai câu thơ dưới đây cho thấy:
Phất phơ ngọn cỏ gió lùa
Thấy em cười gượng anh chua xót lòng.
 
Chỉ cần nhìn nụ cười gượng của nàng thôi đã làm cho chàng phải đắn đo, suy nghĩ. Cũng có khi vì nụ cười gượng này đã làm chàng không dám bước tới:
Bắp non xao xác trổ cờ
Thương nhau xin chớ nhởn nhơ cười trừ.
 
Trong tình yêu đôi lứa, nhiều khi chúng ta bắt gặp và đáng ghét nhất khi nhìn thấy nụ cười trừ, tuy nó vô âm, vô điệu mà lại rất là vô duyên.
Hầu như phái nữ là rất kỵ và rất ghét nụ cười vô duyên này lắm, nhưng lại hay bắt gặp nụ cười trừ ở phái nam. Cho nên vì vậy mà có câu:
Đứng xa kêu bớ em Mười
Thương hay không thương, em thiệt đừng cười đẩy đưa.
 
Thật ra nếu bắt gặp nụ cười đẩy đưa thì thật không thiện cảm tí nào, mà còn có thể nói là khó ưa nữa là khác. Tuy nhiên trong nụ cười đẩy đưa ấy có thể trong bụng nàng muốn kéo dài thời gian tìm hiểu chàng, kéo dài thời gian dò xét nên mới có nụ cười đẩy đưa…Cũng như nàng muốn tìm kế “hoản binh” mà thôi. Điều đàn bà tối kỵ nhất và hay tìm cách tránh đàn ông bởi họ thiếu kiên nhẩn nên có câu:
Cây tre nhặt mắt, gió quặt cây tre quằn
Nghe anh cất tiếng cười gằn, em trở gót thối lui.
 
Có thể chàng đang giận nên chàng cười gằn, từ cười trừ chuyển sang cười gằn:
Chiều chiều ra đứng vườn cà
Thấy anh cười lạt, trở vô nhà, em hốt muối em ăn.
 
Cười lạt thật ra độc đáo hơn cười gằn. Nhưng cũng có một kiểu cười khác “độc” hơn,  nhiều người nhận xét cho rằng cười lạt độc hơn cười gằn:
Chuồn chuồn đậu ngọn cau tơ
Anh cười bả lả em ngờ duyên anh.
 
Nghe giọng cười bả lả của chàng. Người mà mình yêu thầm trộm nhớ chỉ biết cười bả lả thì chắc chắn duyên nợ sẽ không đi đến đâu. Bởi nụ cười bả lả biểu lộ sự cợt nhả, bông lơn của kẻ chỉ tính chuyện lợi dụng, qua đường.
Đàn ông thì họ có trăm cách, trăm mánh khoé để biện hộ cho nụ cười bả lả này.
Có những cô gái thuộc loại vô duyên, chưa nói đã cười, chưa đi đã chạy…Hay có những cô gái thuộc loại điêu ngoa, chuyên môn cười châm chọc: Cười toe toét, cười bò càng bò niểng. Rồi lại có những cô gái cười đến chảy nước mắt nước mũi. Cười chành bành, cười nhắm mắt hả họng…
Có những chàng mới gặp thấy nàng có vẻ nhu mì, nhưng cũng bị lầm nên than thầm:
Tưởng đâu bến đã gặp thuyền
Nào hay em cười lãng nhách, anh liền lui ghe
 
Nhìn vợ người hàng xóm không ra gì, chàng liền so sánh:
Thà rằng chịu cảnh gông xiềng
Còn hơn có vợ cười vô duyên tối ngày
 
Nhiều anh chàng than khổ, sao mà khó quá! Kiếp sau xin chớ làm người…Bắt bẻ nhau chi một tiếng nói, một kiểu cười:
Con quạ nó núp vườn chuối
Thấy em đứng cười lỏn lẻn với ai!?
 
Cười lỏn lẻn là một kiểu cười dễ thương của các cô gái hay e thẹn. Nhưng đôi khi cũng bị hiểu lầm là:
Cô kia cười cợt ghẹo trai
Cái miệng méo xẹo như quai chèo đò
 
Quả thật ở sao cho vừa lòng người khi thương thì “trái ấu cũng tròn, ghét nhau thì bồ hòn cũng méo”. Đã vậy:
Phòng trong sớm mở tối gài
Ai cười khúc khích để phòng ngoài ngẩn ngơ.
 
Nàng ở trong nhà cười khúc khích, lúc nhìn ra thấy chàng mặt mày ngẩn ngơ. Vậy mà có ai đề cập đến nàng thì lại làm bộ làm cao:
Thôi thôi tình phải buông lơi
Chưa chi em đã vội cười toét toe…
 
Ca dao miền Nam thật phong phú, không thiếu những nụ cười khi “Cá chưa cắn câu”. Những nụ cười của tình yêu đơn giản, những nụ cười hạnh phúc, rất thâm thúy và nồng nàn:
Bông cúc nở trước sân, con bướm vàng nhận nhụy
Thấy miệng em cười hữu ý anh thương
 
Ngó lên đầu tóc em tròn
Hàm răng em trắng, miệng cười giòn anh mê.
 
Tóc em dài em cài hoa thiên lý
Thấy em cười hiền, anh để ý anh thương.
 
Con kiến vàng bò ngang đám bí
Thấy miệng em cười ẩn ý, anh đở lo.
 
Cóc nghiến răng còn động lòng trời
Cũng vì em có điệu cười mím chi
 
Bới tóc cánh tiên bỏ vòng lá liểu
Thấy miệng em cười, trời biểu anh thương.
 
Chỉ một nụ cười của em thôi đã làm “động” tới lòng trời.
Tất cả mọi người chúng ta sống nơi xứ người, những nụ cười hạnh phúc thì thật quý giá vô cùng.
Hiện nay, rải rác khắp nơi trên thế giới như Đan Mạch, Ấn Độ, Canada…Đều có “Festival chỉ để cười” Tất cả mọi người đều cố tập cho mình một kiểu cười chẳng giống ai. Tuy nhiên có một điều cũng không kém phần quan trọng, đó là hãy đem lại cho người khác những nụ cười lành mạnh!
Phong tục ngày đầu năm, gặp nhau ai cũng phải cười, cười cũng còn là một thần dược. “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ”. Trị được cả bịnh thể xác lẫn tâm hồn, cười làm ta cởi mở, bao dung và nhất là có một tinh thần lạc quan yêu đời. Tất cả các kiểu cười: Cười Mím, Cười Nụ, Cười Ra Tiếng, v.v. Đều làm cho khuôn mặt chúng ta dễ mến hơn trong ngày đầu năm mới. Bởi vì chính những nụ cười này sẽ đem lại cho họ niềm vui, may mắn suốt năm.
 
Hoàng Quỳnh Hương

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013