Thi Ảnh

Văn

Văn

Mắc Kẹt - Trịnh Duy Kỳ

Nhon  

Hơi nóng hầm hập. Người mẹ ngơ ngác ôm đứa con ngồi ở băng ghế chờ. Bảng điện cứ kéo dài lê thê. Ba dòng đỏ nằm nối tiếp cạnh nhau, “delay- delay- delay.” Đứa bé quay sang: “Mình đợi bao lâu nữa mới tới nhà nội?” Người đàn bà đưa mắt về phía trước mặt không trả lời thêm câu nào. Đợi chờ đối với trẻ con bao giờ cũng là cực hình. Vì chúng có bao giờ chịu ngồi yên dẫu chỉ một phút. Đứa bé ngả ngớn ra phía sau quan sát mọi người xung quanh với cặp mắt hoài nghi và tò mò. Thời gian ngừng bặt. Từng người một di chuyển, thưa vắng hẳn đi. Thay vào đó bằng sự uể oải, rệu rã về cái gì đó không có kết thúc.

15 phút. Con số lặp lại theo trật tự đã được định sẵn. Việc đợi, có thể làm cho sự cáu gắt tăng giảm một cách đột ngột. Cô gái mặc áo màu thiên thanh thì khác. Vẫn thản nhiên, tay cầm điện thoại và mắt dán chặt vào màn hình giống như đang theo dõi một hành trình khám phá hay một bí mật ghê gớm nào đó. Cô gái ngồi xuống cạnh tôi. Cảm giác tò mò đã nhen nhóm từ lúc nào. Tôi ngồi xích lại gần, chăm chú. Điện thoại trong túi rung lên. Tôi mở tin nhắn ra, “lại cái tin quảng cáo chết tiệt đến quấy rầy mình đây.” Đã hơn chục lần, tôi quyết định gọi lại, “Xin đừng làm phiền. Tôi không có thời gian.” Phía đầu dây là giọng nữ, truyền cảm, “Ông quên rồi sao? Chính ông là người đăng ký thông tin về việc mua căn hộ trả góp? Hôm nay, đang có chương trình giảm giá.” Tôi hơi bực dọc, đứng phắt dậy khỏi băng ghế chờ. Cô gái mặc áo màu thiên thanh liếc sang, xong mắt lại đưa về vị trí cũ. Tôi nói như hét vào điện thoại, “Tôi chưa bao giờ đăng ký dịch vụ. Vì đã mua nhà cách đây hai năm.” Giọng nói bên kia vẫn cứ bình thản, từ tốn đến lạ thường, “Thông tin của ông: Trần Văn Quang, 43 tuổi, 2305xxxx. Rất chính xác, rõ ràng. Chúng tôi buộc phải sử dụng hết số thời gian mà ông đã đăng ký dịch vụ.”

Tôi vội cúp máy. Lục lại trong trí nhớ về cái thông tin đã đăng ký. “Ai đã làm cơ chứ! Không lẽ, là vợ của mình.” Tôi vẫn đang loay hoay với cái bản “lý lịch trích ngang” trơn tuột được đọc ra bởi một người hoàn toàn xa lạ. “Đó là cái bẫy. Chính xác như vậy.” Tôi lấy vợ được mười ba năm. Sau khi sinh xong đứa con đầu tiên, cuộc sống vợ chồng tôi gần như rơi vào sự bế tắc. Cuộc sống cứ lặp lại. Ngày nào cũng đi làm rồi quay trở về nhà. Chúng tôi rất ít nói chuyện với nhau, và những cuộc nói chuyện, đôi khi có cái gì đó, tựa như hai người bạn, xã giao quen thuộc. “Công việc sao rồi?”; “Có gì mới không?” Tiếng nói chung duy nhất của chúng tôi là đứa con bé bỏng duy nhất này. “Trưa nay, anh cho con ăn nhé ,em phải đi gặp bạn.”; “Con đau rồi, em đi làm về rất trễ, anh đưa con đi khám bác sĩ giúp em.” Vì đi làm về sớm hơn, nên việc đưa đón con về là của tôi. Mỗi lần đến như thế, nó thường chào tôi trước, từ xa rồi nhảy tót lên xe, ôm tôi thật chặt và bảo, “con phải ôm bố chặt, sợ bố tuột mất lắm bố ạ.” Buổi tối, tôi lôi hai, ba cuốn sách ra đọc rồi mới đi ngủ. Thi thoảng, tôi lao ra đường kiếm một quán cà phê ngồi cà kê với đám bạn. Cuộc sống cứ trôi, lề mề, bằng phẳng chừng như không có một viên sạn nào chứ đừng nói là cục đá to ngáng trở trên đường đi. Rồi một hôm, vợ tôi nói muốn ly dị. Tôi gặng hỏi về lý do, cô ấy trả lời thẳng thừng, “Đã quá chán.” Thế là xong, đứa con đi theo cô ấy. Tôi quay trở lại vạch xuất phát như một người đàn ông độc thân đứng tuổi.

Chuyến đi hôm nay rất quan trọng với tôi. Chúng tôi sẽ về nhà ngoại lần cuối để trình bày với mọi người về việc không thể chung sống của mình. Riêng tôi, không biết phải bắt đầu như thế nào. Thật sự quá khó để nói với mọi người về điều gì đó gây đổ vỡ. Nó như sự thất bại, chẳng ai lại muốn kể cho nhiều người biết cả, tất nhiên.

Read more ...

Đường Bạch Dương Chiều Không Quán Trọ - Nguyễn Xuân Thiệp

Nguyễn Xuân Thiệp

Mưa tháng bảy. Mưa của đất trời. Mưa trên cõi người. Những tiếng mưa buồn dội xuống mái âm dương, nơi những hồn chết trở về thăm nơi chốn cũ. Và thơ chiêu hồn cũng thấm cái lạnh nghìn trùng của những giọt mưa rơi. Mà nói tới thơ chiêu hồn là phải nói tới trường thi Chiêu Hồn Ca Thập Loại Chúng Sinh (CHCTLCS) của Nguyễn Du.

Năm 1979, ở Thành Đá Xanh Thời Trung Cổ, trại tù thuộc huyện Thanh Chương, Nghệ Tĩnh, trong không khí của Chiêu Hồn Ca tôi viết Thảo Nguyên, trong có mấy câu:
cha đã đi qua vùng thảo nguyên
những năm ấy. trời làm đói khổ
kẻ sống người chết đều trơ xương
lại thêm khắp bốn bề giặc giã
muôn oan hồn dấp dúi lang thang
nương trăng. nơi đầu sông cuối bến
ngày gầy xơ. lất phất mưa phùn
đường bạch dương. chiều không quán trọ
hành nhân. hành nhân. đêm thu phân
Tất nhiên, người đọc cũng thấy tôi đã mượn mấy chữ "đường bạch dương" của Nguyễn Du trong CHCTLCS. Có thể nói, Chiêu Hồn Ca là tuyệt tác của Tố Như, bên cạnh Đoạn Trường Tân Thanh. Nó còn gần với dân tộc hơn, và mang tinh thần nhân bản của Phật Giáo. Đời sau, các thi sĩ khi viết tả không khí bi thương ảm đạm của mùa thu, nơi âm dương chập choạng, kẻ chết và người sống chừng như đã hẹn nhau để chu tất những món nợ ân tình từng mang theo xuống lòng đất -trong bầu khí thê lương mưa thu lạnh buốt ấy, ít ai không nghĩ tới thơ chiêu hồn của Nguyễn Du.
Hôm nay, nhân mùa trai đàn chẩn tế, dưới bầu trời tháng bảy mưa thu, nên chăng chúng ta cùng đọc lại đôi đoạn đôi khúc trong CHCTLCS. Đọc và nhìn lại những chặng đường u minh lịch sử vừa qua.
Để mở đầu cho bản trường ca bi thảm và nhân ái này, Nguyễn Du viết: Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt / Toát hơi may lạnh buốt xương khô / Não lòng thay, buổi chiều thu / Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng... Đường bạch dương bóng chiều man mác / Ngọn đường lê lác đác mưa sa / Lòng nào lòng chẳng thiết tha / Cõi dương còn thế nữa là cõi âm... Và lập tức, cánh cửa thiên thu mở ra -cõi trường dạ tối tăm trời đất...- những hồn oan phiêu bạt trở về tìm ánh lửa nhân gian. Chưa bao giờ chúng ta thấy văn chương của Nguyễn Du -như ở đây, dù đối tượng là những linh hồn của cõi âm- lại gần với đời sống đến thế. Tố Như tiên sinh vẽ ra trước mắt chúng ta khuôn mặt u buồn của thập loại chúng sinh -nói là chúng sinh nhưng ở đây chỉ thấy những mặt người, và gọi là thập loại nhưng có đến mười mấy hạng người trong xã hội được gọi hồn về. Với chúng ta, cộng đồng người Việt đã trải qua những biến động kinh hoàng của lịch sử và chiến tranh tàn khốc, để rồi phải bỏ nước ra đi tìm đường sống, đọc lại CHCTLCS của Nguyễn Du, chúng ta đặc biệt xót thương những cô hồn xiêu tán. Trước hết là những người lập chí cao -chí những lăm cất gánh non sông...- nhưng gặp "thế khuất vận cùng, mưa sa ngói lở" để rồi "máu tươi lai láng xương khô rụng rời... " Với chúng ta ngày hôm nay, đó là những vị tướng như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng... đã vị quốc vong thân. Tiếp đến là những cấp chỉ huy trong quân ngũ -Khi thất thế tên rơi đạn lạc /Bãi sa trường thịt nát máu rơi ... Và rồi thời gian lạnh lùng trôi qua - Mênh mông góc bể chân trời / Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào? Hơn thế nữa, xót thương biết mấy, vong hồn của những chiến sĩ vô danh trong cuộc chiến dài gần hai chục năm ở quê nhà. Những người từng "Nước khe cơm vắt gian nan / Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời / Buổi chiến trận mạng người như rác / Phận đã đành đạn lạc tên rơi / Lập lòe ngọn lửa ma trơi / Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!.." Mặt khác, CHCTLCS của Nguyễn Du còn nhắc tới số phận oan khốc của những người tù: "Cũng có kẻ mắc đường tù rạc / Gửi mình vào chiếu rách một manh ..." Đọc đến đây, chúng ta không thể nào không thương tưởng tới hàng trăm ngàn anh em của chúng ta sau 1975 đã phải chịu cảnh ngục tù Cộng Sản và nhiều người đã gởi nắm xương tàn nơi ven rừng, dốc núi. Cũng vậy, khi Nguyễn Du tả những hồn oan chết sông chết biển -Cũng có kẻ vào sông ra bể / Cánh buồm mây chạy xế gió đông / Gặp cơn giông tố giữa dòng / Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê- chúng ta nghĩ tới hàng trăm ngàn người chạy trốn CS, chấp nhận cái chết giữa muôn trùng sóng dữ... Trong mùa trai đàn, cúng tế này, xin dâng tuần nhang, bát nước cho những hồn u khốc ấy.
Quả thật CHCTLCS đã gợi ở chúng ta biết bao tưởng nhớ và xót thương. Và thời tiết tháng bảy mưa ngâu cũng là thời điểm để trở về với quá khứ bi thương của dân tộc, nghĩ tới những anh em đồng đội đã nằm xuống trên khắp nẻo đường đất nước và trong các trại tù CS, nghĩ tới những thuyền nhân đã đắm chìm ở Biển Đông... Làm sao quên được. Vâng, đúng vậy. Ngày hôm nay, chúng ta được sống ổn định sung túc trên xứ sở tự do này, chúng ta không thể nào tự cho phép mình quên anh em đồng đội và đồng bào ruột thịt. Chính quá khứ đã làm nên hiện tại. Quên quá khứ là quên hồn, quên xác. Chúng ta lẽ nào quên..

Nguyễn Xuân Thiệp

Dòng Sông Biệt Xứ - Trần Kiêm Đoàn

Song Huong Cau Truong Tien

Huế có dòng sông Hương. Dòng sông mang tên con gái, hay con gái mang tên dòng sông. Khi gọi “Hương ơi!” thì vẻ mượt mà của dòng sông hay bóng dáng yêu kiều của giai nhân đến trước? Nếu đến để mà đi là người con gái, nhưng đến để chảy mãi trong lòng là dòng sông.

Tôi xa Huế tròn 20 năm. Những mảnh đời vinh quang và cay đắng đã thành đồi, thành núi, thành sông… hay chỉ là những đám bụi mù không tên tuổi, lần lượt đến rồi đi cuối mùa như những hàng phượng già trên cao và khóm hải đường dưới đất. Nhưng dòng sông ấy vẫn trôi chảy hoài, có khi triền miên heo hút, có lúc bão liệt cuốn cuồng nhưng chưa có một lần đứt đọan ở trong lòng. Dòng sông như một định mệnh hư ảo, một ám ảnh trường kỳ, một sự vỗ về rất mẹ, một nỗi nhớ rất tình yêu, nhưng chưa bao giờ khước từ sự quay về của ký ức hay chối bỏ những ân tình vắng mặt. Hình như không có ngoại lệ, mỗi người Huế xa quê đều mang theo một dòng sông cho đến cuối đời. Đôi khi ngỡ dòng sông ấy chỉ là tâm ảnh, nhưng không, đó là một hiện thực vô cùng. Những người Huế thành công xứ người vẫn mong ngày về với dòng sông để soi chút vinh quang của mình trên sóng nước. Những người Huế không may sống hẩm hiu xa Huế không mong chi ngày hội ngộ nhưng vẫn man mác nỗi xót xa khi tưởng đến sự cau mặt của dòng sông. Phải chăng tâm lý “soi bóng dòng Hương” đã dự phần năng nỗ “xui khiến” dân Huế tha hương hầu hết nếu không xênh xang áo gấm thì cũng chẳng đến nỗi khăn gói quả mướp... về làng.

Read more ...

Ly Cà Phê Hương Thầm - Nguyễn Thế Điển

cafemotminh 1

Tiếng thằng Năm Cua Đinh vang vang dưới bến sông, nó cột hờ hững cọng dây mũi chiếc xuồng ba lá vào tay vịn cây cầu nhũi.
- Lẹ lên Tám Lớ ơi, nước ròng gần sát lòng rạch rồi. Đi trễ thì coi chừng ngang khúc doi Cây Quéo, mầy nhảy xuống sình đẩy xuồng à nghen.
- Chờ tao một chút, nước nấu mới kêu ấm. Để tao pha cho mầy một phin luôn nghen Năm. Mầy uống thử cà phê Đại Á, coi ngon hay dở so với ấp mình.
- Mầy châm nước vô phin, bưng luôn cái mâm xuống xuồng, mình vừa bơi vừa thưởng thức cà phê. Ê Tám, hồi nào tới giờ tao nghe mầy khen nức nở loại 3 trong 1. Bữa nay sao có cà phê Đại Á rình rang vậy.
- Tao ghiền cà phê tiệm nầy hồi còn nhỏ xíu, lúc nhà còn ở đường Tống Phước Hiệp chợ Vãng. Dìa ấp Năm khỉ biết ho gà, cá mọc râu dê nầy, tao mới chịu thua số phận mà nuốt 3 trong 1 đỡ ghiền.
- Ừ, hôm trước tao đọc bài 4 trong 1 của mầy. Lật tới lui tao nghi có huyền cơ trong đó. Tao hỏi thiệt, ở đây chỉ có 2 đứa mình, mầy phải ra khai ra cái vụ 1 trong 4, ở đâu mà lòi ra thêm cái ngoe nầy vậy.
- Mầy giỏi thì tự suy luận, mắc gì tao nói.
- Mầy chịu khai thì tao cho mầy ngồi không kể chuyện, tao bơi một mình tới nhà thằng Sáu Bờ-rô.
- Thời còn chiến, có một lần đơn vị tao về đóng dưỡng quân bên kia bắc Mỹ Thuận phía quận Giáo Đức, địa phương có những vườn ổi xá lị ngon nổi tiếng, mầy biết không.
- Ai mà không biết, làm ơn cắt bớt ba cái vụ râu ria. Mầy cà kê dê ngỗng thì tao bơi tới chợ xã 2 vòng cũng chưa hiểu mầy muốn nói chuyện gì.
- Thời gian đó, đơn vị rảnh rỗi, cứ một tuần là tao có phép 12 tiếng. Phải thừa nhận xứ Vĩnh Long của tao có rất nhiều gái đẹp. Tao lúc đó 22 tuổi mà còn ngu như con bò tơ Hòa Lan. Có một lần tao đi xe lam từ chợ Vĩnh Long dìa bắc Mỹ Thuận. Mầy cũng biết xe lam chật chội mà chạy sát lề dằn xóc nghiêng qua đổ lại lỏng chỏng.
- Ủa, mầy khôn hay ngu thì vụ đi xe lam có dính líu gì.
- Hồi xưa tao ngu thì tạm chấp nhận, mầy bây giờ già chác mà ngu thì khó coi lắm nghen Năm.

Read more ...

Là Phụ Nữ: Đừng Chọn Cam Chịu, Hãy Chọn Hạnh Phúc - Thùy Trang

camchiu

Có rất nhiều lý do được đưa ra như sức ép từ xã hội, bố mẹ hay con cái, nhưng theo mình, lý do lớn nhất đó chính là sự phụ thuộc.

Phụ nữ Việt Nam quá phụ thuộc vào người chồng. Những suy nghĩ như con gái học nhiều, cố gắng nhiều để làm gì, sau này về chồng nó nuôi, hay đằng nào thì cũng ở nhà nuôi con vẫn khá phổ biến. Chính sự phụ thuộc đó làm rào cản quá lớn với người phụ nữ để họ có thể tự lập trong xã hội: họ không có khả năng kiếm sống cho bản thân và cho con cái. Vì tình thương con hay sức ép từ xã hội, họ thường nhận lấy bất hạnh cho bản thân mình.

Read more ...

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013