Thi Ảnh

Văn

Văn

Bạn Tôi - Phạm Ngũ Yên

1386284779 changame b4e461401720400359

Cuối tháng 5 tôi đưa Quỳnh về Dallas thăm lại nhà bạn tôi, Trần Quang Thọ. Về để thăm chị Thọ và hai cháu, Bảo và Thảo. Nắng chói chan trên những cây bằng lăng nước (Crepe Myrtle) hai bên đường Roan. Màu hoa đỏ thắm lan tỏa như một hạnh phúc buồn. Ngả tư chạy qua hồ vùng Garland vẫn còn rợp xanh những cây đổ tùng, những cây liễu.

Ngôi nhà xây kiểu Mỹ nhưng bên trong đậm nét Pháp vì bạn tôi lúc còn trẻ từng là chủ một nhà hàng ở Nancy, một thành phố thuộc miền đông nước Pháp. Tủ rượu vẫn còn sót lại vài chai rượu vang hảo hạng mà sinh thời Thọ vẫn thường tự hào rót ra mời chúng tôi. Những khay đựng thức ăn, những vật dụng dùng để ăn mang phong cách quý tộc ở ngăn tủ đang nhìn ra.

Read more ...

Vợ Hiền - Tràm Cà Mau

Vo Hien 2

1.
Vợ tôi không phải là một người đàn bà có nhan sắc khuynh nước đổ thành. Bởi tôi, vốn tài mạo tầm thường và cũng không có nhiều may mắn bất ngờ để lọt mắt xanh những cô có nhan sắc chim sa cá lặn. Vả lại tôi cũng thường nghe bố tôi tuyên truyền nhồi nhét trong cái đầu từ nhỏ rằng, đẹp đến mấy rồi cũng trở thành méo mó xấu xí, và vợ đẹp là vợ người ta.

Read more ...

Hành Trang Về Từ Bắc Mỹ! - Hồ Diệu Thảo

hanh trinh ve tu Bac My 5 001

Lối kiến trúc của các thủ đô Ottawa (Canada), Washington DC (Mỹ), nhìn chung cũng không khác nhau là mấy và cũng đồng dạng với Canberra, đó là dạng kiến trúc tuy không là bản sao nhưng mang đậm dấu ấn của châu Âu. Vì đi dạo trong giờ làm việc của mọi người nên khách Úc thấy thành phố có vẻ êm đềm, vắng lặng tại Ottawa (giống như Canberra), đa số các công sở, dinh thự cổ kính như chìm trong trầm lặng, xa vắng… ít người và xe cộ qua lại. Nhưng ngược lại, tại Washington DC, không khí có vẻ bồn chồn, không có dấu hiệu của an bình khi tiếng còi hụ, xe cảnh sát có mặt khắp nơi, không biết có phải là do đề phòng nạn khủng bố mà ra? Nếu ngồi xe công cộng (xe lửa, xe bus) chắc hẳn những lời nhắc nhở người dân báo cáo những hành động khả nghi qua các loa phóng thanh trên xe vẫn còn không khác lần trước, cách đây vài năm, tôi có dịp đi xe lửa, xe bus ở đây nên có biết điều này. 

Người Mỹ đa số lạnh lùng, dường như hơi vô cảm, nhất là Quan thuế Mỹ, trong khi người Canada và Úc thân thiện, vui vẻ hơn. Điều lạ là không hiểu sao các nơi phục vụ khách hàng lại chỉ toàn

người da đen hoặc lớn tuổi, gây cho du khách một cảm giác xa lạ, băn khoăn và không lý thú. Nhớ lại trên chuyến bay United Airline ngày trở về Úc, khi nghe thông báo có một tiếp viên sẽ về hưu sau chuyến bay này, cô bạn đi cùng nói thầm: “Lẽ ra là… cả phi hành đoàn về hưu mới phải chứ!”. 

Cùng là “Tây” nhưng sao hai người khách Úc cứ xuýt xuýt xoa xoa bảo nhau sao hàng Mỹ… rẻ quá thế! Ai dè lúc xem hóa đơn hoặc nhận tiền thối đôi mắt mới sáng ra mà vẫn ngỡ là mình đọc lầm!. Thì ra thuế hàng hóa dịch vụ đã được cộng thêm vào sau khi khách hàng đồng ý mua, tạo cảm giác ngỡ ngàng cho du khách khi phải bị tính thêm tiền. Ở xứ lạ này, khi thấy bảng giá thì đừng vội nghĩ đó là trọn số tiền mình phải trả, bởi ở Canada và Mỹ khách còn phải tính thêm phần trăm thuế (hình như Canada đánh 17% còn Mỹ khoảng 9% -10%).

Tiền tip cũng là cái gai… nho nhỏ cho du khách Úc, vì sao lại phải trả tiền tip nếu như mình không bằng lòng với cách phục vụ? Là người có tâm hồn ăn uống và mua sắm nên tôi thấy riêng bên Canada - nói đúng hơn là các cửa tiệm ở Chinatown - về ngành phục vụ khách hàng (nhất là ngành ăn uống), quả thật là đáng cho điểm dưới trung bình, tôi tự hỏi với cách làm ăn như thế tại sao thương vụ vẫn còn tồn tại và tiền tip dành cho họ có còn ý nghĩa nữa chăng? Trong khi ở Úc và Mỹ, văn hóa phục vụ in một dấu son đáng khen về cách tiếp đãi chu đáo, lễ độ, vui vẻ ân cần vô cùng!

Thêm một điều lạ nữa là mỗi khi cầm hóa đơn tính tiền ở các tiệm ăn, các bạn tôi ở cả Canada lẫn Mỹ đều nhìn rất kỹ để xem nhà hàng có tính sai hay không, hỏi ra mới biết thường các nhà hàng khi thấy thực khách đi một nhóm đông, họ hay tính thêm tiền vì tâm lý ít ai kiểm lại hóa đơn khi đãi bạn bè. Quả là đáng buồn cho tính lương thiện bị xóa mờ!

Phương tiện di chuyển công cộng ở Mỹ thật là khó khăn, còn nhớ ngày tôi ở Cali, muốn đón chuyến xe bus để đi shopping (vì người nhà bận việc không đưa đi được) vậy mà chúng tôi đứng chờ hơn ½ tiếng đồng hồ dưới trời nắng chang chang giữa trưa hè vẫn chưa thấy xe tới, đành bỏ cuộc quay về nhà. Phàn nàn điều này, một cô bạn ở đó cười nói đùa: “xứ nhà giàu mà, người ta dùng xe hơi chứ có ai đón xe công cộng đâu!”, bực mình ở chỗ là tại trạm xe không hề có bảng ghi giờ xe đến cho nên chỉ có kiên nhẫn đứng chờ nếu như cần đón xe đi. Trong khi ở Canada và Úc, phương tiện di chuyển rất tiện lợi, nhất là tại Úc, mua vé đi cả ngày, du khách có thể đón bất cứ xe lửa, bus hay tram và lên xuống bao nhiêu trạm cũng được, còn nếu từ 6 giờ chiều, chỉ cần mua vé hai tiếng là mình có thể đi suốt đêm.

Sinh hoạt văn học nghệ thuật thì ở Mỹ, nhất là Houston, thật là sôi động, hầu như tuần nào cũng có buổi hội họp, lúc thì ra mắt sách, lúc thì ca nhạc, trong khi Canada và nhất là xứ Úc, sinh hoạt èo uột, vắng lặng.

Cách dùng chữ cũng có phần lý thú, phòng vệ sinh Úc gọi toilet, Mỹ: rest room còn Canada: wash room. Ngẫm nghĩ phòng vệ sinh không chắc có thoải mái để nghỉ ngơi chăng, còn nơi đó không hẳn chỉ để… rửa? Có chủ quan chăng, khi tôi nghĩ rằng Úc dùng chữ chính xác nhất cho chỗ này!

Một điều lạ là ở Canada, người Việt sống rải rác khắp nơi, chứ không tập trung vào một cộng đồng có nơi có chốn như ở Mỹ và Úc, do đó phố Tàu ở Canada vẫn có vô số người da trắng lẫn vào. Mọi người đều hay, ở Mỹ, Úc, lọt vào vùng Việt Nam thì tìm thấy một người ngoại quốc có khi là… cổ lai hi! Nói tới người Việt mình ở ngoài nước, tôi biết giới khoa bảng, số trí thức trong cộng đồng người Việt ở Mỹ và Canada có lẽ đông hơn Úc vì bắt buộc phải có trình độ, nghề nghiệp mới có thể tìm ra công việc hợp ý, tiền lương cao. Trong khi bên Úc chỉ cần có sức khỏe, chịu cày nhiều giờ thì tiền lương cũng cao chót vót, do đó không lạ gì khi thấy những người thợ, thậm chí là thất nghiệp quanh năm (thật ra họ cũng đi làm chui, lãnh tiền mặt để tránh thuế) vẫn chễm chệ lái những chiếc xe hơi đắt tiền, sang trọng như Mercedes, BMW... ở nhà cao cửa rộng ở Úc, hình ảnh này chắc là khó thấy ở Mỹ, Canada.

Cuối cùng, điều còn “lấn cấn” trong lòng tôi là, không biết có phải vì cuộc sống phải tranh đua gay gắt như thế hay không mà một người quen của tôi nói rằng :“Người Việt ở Mỹ - nói chung và Cali nói riêng – khó tin lắm”. Chỉ nghe thôi làm sao trải nghiệm khi những ngày có mặt của tôi ngoài xứ Úc chỉ mau như gió thoảng! Trải qua 5 tuần ở cả hai nơi Canada và Mỹ, tôi may mắn gặp được những người bạn – dù là mới quen hoặc đã là bạn cũ từ thời xa xưa - dành cho những tình cảm nồng ấm, những chăm sóc ân cần chu đáo, chân tình những tưởng khó thể nào có được ở thời buổi này và ở lứa tuổi này.

Năm tuần lễ vị chi mới là hơn ba chục ngày nhưng với những gì không còn “văn kỳ thanh” mà đã “kiến kỳ hình” và “tận mục sở thị”, cũng cho tôi một ấn tượng là khi xử sự với nhau bằng tấm lòng thì dù ở bất cứ nơi đâu, bất cứ người nước nào thì tình cảm cũng chan hoà như những gì người về lại Úc mang theo trong hành trang của mình! Cám ơn các anh chị, cám ơn các bạn mà tôi đã được gặp, được quen trong chuyến đi nhớ đời này. Những chân tình ấy làm sao mà phai lạt được! Người Việt mình mà!

Hồ Diệu Thảo

 

Mắc Kẹt - Trịnh Duy Kỳ

Nhon  

Hơi nóng hầm hập. Người mẹ ngơ ngác ôm đứa con ngồi ở băng ghế chờ. Bảng điện cứ kéo dài lê thê. Ba dòng đỏ nằm nối tiếp cạnh nhau, “delay- delay- delay.” Đứa bé quay sang: “Mình đợi bao lâu nữa mới tới nhà nội?” Người đàn bà đưa mắt về phía trước mặt không trả lời thêm câu nào. Đợi chờ đối với trẻ con bao giờ cũng là cực hình. Vì chúng có bao giờ chịu ngồi yên dẫu chỉ một phút. Đứa bé ngả ngớn ra phía sau quan sát mọi người xung quanh với cặp mắt hoài nghi và tò mò. Thời gian ngừng bặt. Từng người một di chuyển, thưa vắng hẳn đi. Thay vào đó bằng sự uể oải, rệu rã về cái gì đó không có kết thúc.

15 phút. Con số lặp lại theo trật tự đã được định sẵn. Việc đợi, có thể làm cho sự cáu gắt tăng giảm một cách đột ngột. Cô gái mặc áo màu thiên thanh thì khác. Vẫn thản nhiên, tay cầm điện thoại và mắt dán chặt vào màn hình giống như đang theo dõi một hành trình khám phá hay một bí mật ghê gớm nào đó. Cô gái ngồi xuống cạnh tôi. Cảm giác tò mò đã nhen nhóm từ lúc nào. Tôi ngồi xích lại gần, chăm chú. Điện thoại trong túi rung lên. Tôi mở tin nhắn ra, “lại cái tin quảng cáo chết tiệt đến quấy rầy mình đây.” Đã hơn chục lần, tôi quyết định gọi lại, “Xin đừng làm phiền. Tôi không có thời gian.” Phía đầu dây là giọng nữ, truyền cảm, “Ông quên rồi sao? Chính ông là người đăng ký thông tin về việc mua căn hộ trả góp? Hôm nay, đang có chương trình giảm giá.” Tôi hơi bực dọc, đứng phắt dậy khỏi băng ghế chờ. Cô gái mặc áo màu thiên thanh liếc sang, xong mắt lại đưa về vị trí cũ. Tôi nói như hét vào điện thoại, “Tôi chưa bao giờ đăng ký dịch vụ. Vì đã mua nhà cách đây hai năm.” Giọng nói bên kia vẫn cứ bình thản, từ tốn đến lạ thường, “Thông tin của ông: Trần Văn Quang, 43 tuổi, 2305xxxx. Rất chính xác, rõ ràng. Chúng tôi buộc phải sử dụng hết số thời gian mà ông đã đăng ký dịch vụ.”

Tôi vội cúp máy. Lục lại trong trí nhớ về cái thông tin đã đăng ký. “Ai đã làm cơ chứ! Không lẽ, là vợ của mình.” Tôi vẫn đang loay hoay với cái bản “lý lịch trích ngang” trơn tuột được đọc ra bởi một người hoàn toàn xa lạ. “Đó là cái bẫy. Chính xác như vậy.” Tôi lấy vợ được mười ba năm. Sau khi sinh xong đứa con đầu tiên, cuộc sống vợ chồng tôi gần như rơi vào sự bế tắc. Cuộc sống cứ lặp lại. Ngày nào cũng đi làm rồi quay trở về nhà. Chúng tôi rất ít nói chuyện với nhau, và những cuộc nói chuyện, đôi khi có cái gì đó, tựa như hai người bạn, xã giao quen thuộc. “Công việc sao rồi?”; “Có gì mới không?” Tiếng nói chung duy nhất của chúng tôi là đứa con bé bỏng duy nhất này. “Trưa nay, anh cho con ăn nhé ,em phải đi gặp bạn.”; “Con đau rồi, em đi làm về rất trễ, anh đưa con đi khám bác sĩ giúp em.” Vì đi làm về sớm hơn, nên việc đưa đón con về là của tôi. Mỗi lần đến như thế, nó thường chào tôi trước, từ xa rồi nhảy tót lên xe, ôm tôi thật chặt và bảo, “con phải ôm bố chặt, sợ bố tuột mất lắm bố ạ.” Buổi tối, tôi lôi hai, ba cuốn sách ra đọc rồi mới đi ngủ. Thi thoảng, tôi lao ra đường kiếm một quán cà phê ngồi cà kê với đám bạn. Cuộc sống cứ trôi, lề mề, bằng phẳng chừng như không có một viên sạn nào chứ đừng nói là cục đá to ngáng trở trên đường đi. Rồi một hôm, vợ tôi nói muốn ly dị. Tôi gặng hỏi về lý do, cô ấy trả lời thẳng thừng, “Đã quá chán.” Thế là xong, đứa con đi theo cô ấy. Tôi quay trở lại vạch xuất phát như một người đàn ông độc thân đứng tuổi.

Chuyến đi hôm nay rất quan trọng với tôi. Chúng tôi sẽ về nhà ngoại lần cuối để trình bày với mọi người về việc không thể chung sống của mình. Riêng tôi, không biết phải bắt đầu như thế nào. Thật sự quá khó để nói với mọi người về điều gì đó gây đổ vỡ. Nó như sự thất bại, chẳng ai lại muốn kể cho nhiều người biết cả, tất nhiên.

Read more ...

Đường Bạch Dương Chiều Không Quán Trọ - Nguyễn Xuân Thiệp

Nguyễn Xuân Thiệp

Mưa tháng bảy. Mưa của đất trời. Mưa trên cõi người. Những tiếng mưa buồn dội xuống mái âm dương, nơi những hồn chết trở về thăm nơi chốn cũ. Và thơ chiêu hồn cũng thấm cái lạnh nghìn trùng của những giọt mưa rơi. Mà nói tới thơ chiêu hồn là phải nói tới trường thi Chiêu Hồn Ca Thập Loại Chúng Sinh (CHCTLCS) của Nguyễn Du.

Năm 1979, ở Thành Đá Xanh Thời Trung Cổ, trại tù thuộc huyện Thanh Chương, Nghệ Tĩnh, trong không khí của Chiêu Hồn Ca tôi viết Thảo Nguyên, trong có mấy câu:
cha đã đi qua vùng thảo nguyên
những năm ấy. trời làm đói khổ
kẻ sống người chết đều trơ xương
lại thêm khắp bốn bề giặc giã
muôn oan hồn dấp dúi lang thang
nương trăng. nơi đầu sông cuối bến
ngày gầy xơ. lất phất mưa phùn
đường bạch dương. chiều không quán trọ
hành nhân. hành nhân. đêm thu phân
Tất nhiên, người đọc cũng thấy tôi đã mượn mấy chữ "đường bạch dương" của Nguyễn Du trong CHCTLCS. Có thể nói, Chiêu Hồn Ca là tuyệt tác của Tố Như, bên cạnh Đoạn Trường Tân Thanh. Nó còn gần với dân tộc hơn, và mang tinh thần nhân bản của Phật Giáo. Đời sau, các thi sĩ khi viết tả không khí bi thương ảm đạm của mùa thu, nơi âm dương chập choạng, kẻ chết và người sống chừng như đã hẹn nhau để chu tất những món nợ ân tình từng mang theo xuống lòng đất -trong bầu khí thê lương mưa thu lạnh buốt ấy, ít ai không nghĩ tới thơ chiêu hồn của Nguyễn Du.
Hôm nay, nhân mùa trai đàn chẩn tế, dưới bầu trời tháng bảy mưa thu, nên chăng chúng ta cùng đọc lại đôi đoạn đôi khúc trong CHCTLCS. Đọc và nhìn lại những chặng đường u minh lịch sử vừa qua.
Để mở đầu cho bản trường ca bi thảm và nhân ái này, Nguyễn Du viết: Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt / Toát hơi may lạnh buốt xương khô / Não lòng thay, buổi chiều thu / Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng... Đường bạch dương bóng chiều man mác / Ngọn đường lê lác đác mưa sa / Lòng nào lòng chẳng thiết tha / Cõi dương còn thế nữa là cõi âm... Và lập tức, cánh cửa thiên thu mở ra -cõi trường dạ tối tăm trời đất...- những hồn oan phiêu bạt trở về tìm ánh lửa nhân gian. Chưa bao giờ chúng ta thấy văn chương của Nguyễn Du -như ở đây, dù đối tượng là những linh hồn của cõi âm- lại gần với đời sống đến thế. Tố Như tiên sinh vẽ ra trước mắt chúng ta khuôn mặt u buồn của thập loại chúng sinh -nói là chúng sinh nhưng ở đây chỉ thấy những mặt người, và gọi là thập loại nhưng có đến mười mấy hạng người trong xã hội được gọi hồn về. Với chúng ta, cộng đồng người Việt đã trải qua những biến động kinh hoàng của lịch sử và chiến tranh tàn khốc, để rồi phải bỏ nước ra đi tìm đường sống, đọc lại CHCTLCS của Nguyễn Du, chúng ta đặc biệt xót thương những cô hồn xiêu tán. Trước hết là những người lập chí cao -chí những lăm cất gánh non sông...- nhưng gặp "thế khuất vận cùng, mưa sa ngói lở" để rồi "máu tươi lai láng xương khô rụng rời... " Với chúng ta ngày hôm nay, đó là những vị tướng như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng... đã vị quốc vong thân. Tiếp đến là những cấp chỉ huy trong quân ngũ -Khi thất thế tên rơi đạn lạc /Bãi sa trường thịt nát máu rơi ... Và rồi thời gian lạnh lùng trôi qua - Mênh mông góc bể chân trời / Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào? Hơn thế nữa, xót thương biết mấy, vong hồn của những chiến sĩ vô danh trong cuộc chiến dài gần hai chục năm ở quê nhà. Những người từng "Nước khe cơm vắt gian nan / Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời / Buổi chiến trận mạng người như rác / Phận đã đành đạn lạc tên rơi / Lập lòe ngọn lửa ma trơi / Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!.." Mặt khác, CHCTLCS của Nguyễn Du còn nhắc tới số phận oan khốc của những người tù: "Cũng có kẻ mắc đường tù rạc / Gửi mình vào chiếu rách một manh ..." Đọc đến đây, chúng ta không thể nào không thương tưởng tới hàng trăm ngàn anh em của chúng ta sau 1975 đã phải chịu cảnh ngục tù Cộng Sản và nhiều người đã gởi nắm xương tàn nơi ven rừng, dốc núi. Cũng vậy, khi Nguyễn Du tả những hồn oan chết sông chết biển -Cũng có kẻ vào sông ra bể / Cánh buồm mây chạy xế gió đông / Gặp cơn giông tố giữa dòng / Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê- chúng ta nghĩ tới hàng trăm ngàn người chạy trốn CS, chấp nhận cái chết giữa muôn trùng sóng dữ... Trong mùa trai đàn, cúng tế này, xin dâng tuần nhang, bát nước cho những hồn u khốc ấy.
Quả thật CHCTLCS đã gợi ở chúng ta biết bao tưởng nhớ và xót thương. Và thời tiết tháng bảy mưa ngâu cũng là thời điểm để trở về với quá khứ bi thương của dân tộc, nghĩ tới những anh em đồng đội đã nằm xuống trên khắp nẻo đường đất nước và trong các trại tù CS, nghĩ tới những thuyền nhân đã đắm chìm ở Biển Đông... Làm sao quên được. Vâng, đúng vậy. Ngày hôm nay, chúng ta được sống ổn định sung túc trên xứ sở tự do này, chúng ta không thể nào tự cho phép mình quên anh em đồng đội và đồng bào ruột thịt. Chính quá khứ đã làm nên hiện tại. Quên quá khứ là quên hồn, quên xác. Chúng ta lẽ nào quên..

Nguyễn Xuân Thiệp

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013