Thi Ảnh

Trong kho tàng Văn Chương Bình Dân, nói khác đi là Văn Chương Truyền Khẩu gồm nhiều thể loại song thông thường, dễ nhớ và thường nghe nhắc nhở nhiều, đó chính là Tục Ngữ và Ca Dao.
Trên bình diện Văn Học và đời sống, Tục ngữ có địa bàn rộng rãi hơn, mang tính phổ cập và được coi như là “Túi không của nhân loại”, ví dụ ta nói:
Cha nào con nấy
Người Anh, người Mỹ nói:
Like father like son
Và người Pháp nói:
Tel père tel fils
hoặc:
Xa mặt cách lòng
Người Anh/Mỹ nói:
Out of sight, out of mind
và người Pháp nói:
Loin des yeux loin du Coeur v.v.
Trong khi Ca Dao mang tính địa phương hơn, tùy thuộc vào văn hóa và môi trường, hoàn cảnh sống của mỗi dân tộc v.v.
Ca Dao có đặc tính chung là bao trùm mọi sinh hoạt gia đình, xã hội, và nếp sống tinh thần cũng như tình cảm con người trong một xã hội.
Nói đến sinh hoạt gia đình và xã hội là nói đến sự bao gồm cả lễ nghi tôn giáo, hội hè đình đám v.v.
Tóm lại là Ca Dao phản ảnh mọi tình tự trong: Quan – Hôn – Tang – Tế và ở một khía cạnh nào đó còn được coi là “Lịch sử ngầm”, ví như những câu nói về Huyền Trân công chúa:
- Tiếc thay cây quế giữa rừng
- để cho chú mán chú mường nó leo!
 
Nhân dịp xuân về, người người dù ở trên quê hương hay đang thả bước lưu vong nơi hải ngoại đều nô nức sắm sửa đón xuân, mừng Tết Nguyên Đán vì đó là truyền thống, là văn hóa dân tộc nên không tránh khỏi những giây phút bồi hồi trong tâm hồn vào những chiều cuối năm:
- Mỗi khi nghe nói đến xuân
- bỗng dưng lòng thấy bâng khuâng ít nhiều
Để nhớ lại những mùa xuân qua trên quê hương của một thời nước non thanh bình, từ phố phường, thành thị đến đồng quê thôn trang, mọi người tưng bừng mừng Tết, đón xuân, nhà nhà đều vui với: “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ”
                                                                           2     
thiết tưởng không gì hơn là cùng nhau ôn lại những áng Ca Dao để gợi lại trong ta những khúc tình quê ngọt ngào, nhiều vương vấn và cũng là để có dịp hun đúc tinh thần trong sứ mệnh duy trì và phát huy văn hóa cổ truyền.
 
Mỗi năm mới có một lần, những ngày cuối đông cũng là những ngày cuối năm. Năm hết Tết đến, nhà nhà lo lắng đủ điều, nào là công nợ, việc làm dở dang, nào là lo sửa sang nhà cửa, mua sắm đồ Tết v.v.
Quanh năm cuộc sống tất bật, Tết đến mừng vui song không tránh được những âu lo về tài chánh, về vật chất nên Ca Dao có câu:
- Tết đến sau lưng
- trẻ con thì mừng
- người lớn thì lo.
Chính vì phải mua sắm đủ điều cho mấy ngày Tết nên chật vật, thiếu hụt, do đó người đời có câu:
- Đi cày ba vụ không đủ ăn ba ngày Tết!
Trong tâm tư người dân Việt luôn canh cánh những ưu tư, đã vậy lại còn bị những gánh tuồng, gánh hát kéo đến làm rộn những âu lo:
- Bây giờ tư tết đến nơi
- tiền thì không có sao nguôi tấm lòng
- nghĩ mình vất vả long đong
- xa nghe lại thấy Quảng Đông kéo còi
- về nhà công nợ nó đòi
- trong lòng bối rối đứng ngồi không yên.
Trong một xã hội luôn có kẻ nghèo người giầu song những ngày thường trong năm ít ai để ý, đến cuối năm nhìn vào việc mua sắm mới hay nhà ai khấm khá, nhà ai túng quẫn. Cảnh huống ấy cũng từng được ghi nhận qua mấy câu:
- Có/không mùa Đông mới biết
- Giầu/nghèo ba mươi Tết mới hay.
Từ ngày xưa, những ngày sống trên đất tổ, Tết là dịp quan trọng, những ai vì hoàn cảnh phải xa nhà, rời bản quán cũng cố gắng thu xếp để gồng gánh, dìu dắt nhau về đón Tết, mừng tuổi ông bà, cha mẹ, họ hàng. Theo tục lệ này hầu như mọi người đều thuộc lòng những câu ca và cứ theo như thế mà làm:
- Mồng Một tết cha
- mồng Ba tết thầy.
hoặc nói khác đi cho đầy đủ, trọn tình trọn nghĩa hơn, nếu như đã có gia đình riêng thì không thể quên lãng bổn phận:
- Mồng Một thì ở nhà cha
- mồng Hai nhà vợ, mồng Ba nhà thầy.
 
Sở dĩ có lệ tết thầy vì người Việt ta luôn có tinh thần “Tôn sư trọng đạo” và đã được giáo huấn từ thuở ban sơ:
- Một chữ nên thầy, một ngày nên nghĩa
bởi:
- Không thầy đố mày làm nên
Trong nền tảng giáo dục ấy, cái ĐỨC rất quan trọng. Vào hậu bán thế kỷ 19 và tiền bán thế kỷ 20, ở Thăng Long Thành xuất hiện hai nhân vật nổi tiếng về trào phúng, hay trêu chọc thiên hạ, đó là Ba Giai và Tú Xuất. Từ đó như để nhắc nhở, răn đe những kẻ hay ăn gian, nói dối, người ta có câu:
- Hễ ai mà nói dối ai
- Thì mồng Một Tết Ba Giai đến nhà.
Trong tập trường thi Kim Vân Kiều của thi hào Nguyễn Du cũng đã không bỏ qua tục lệ Tảo Mộ vào mùa Xuân, những ngày tháng đầu năm:
- Thanh minh trong tiết tháng Ba
- Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.
Người dân vẫn có lệ Chạp Mả, dọn dẹp cỏ rả cho các ngôi mộ vào tháng Chạp để mời gia tiên về ăn Tết. Lệ này cũng rất quan trọng đối với lòng hiếu của con cháu nên người đời thường nhắc nhớ nhau qua những câu:
- Đi đâu thì mặc đi đâu
- đến ngày giỗ chạp phải mau mà về
Ảnh hưởng của tục lệ này cũng rất sâu sắc, trong đó có Lễ Bàn Thờ Gia Tiên. Lơ là hay quên lãng là điều bất hiếu vì thế nên có người con gái đã trách vị hôn phu của nàng:
- Chiều Ba Mươi anh không đi Tết
- rạng ngày Mồng Một anh không đi lạy bàn thờ
- hiếu trung mô nữa mà bảo em chờ uổng công!
Thế rồi người con trai thấy mình có lỗi bèn kiếm cớ biện bạch chạy tội bằng cách nói bận việc làng:
- Hôm Ba Mươi anh mắc lo việc họ
- Sáng Mồng Một anh bận việc làng
- Ông bà bên anh cũng bỏ huống chi bên nàng, nàng ơi.
 
Nếp sống của người dân không chỉ gắn bó với đồng ruộng mà còn phần nào theo đuổi thương nghiệp. Trong lãnh vực này, nhất là vào dịp Tết,  nếu không nhắc đến chợ phiên  qủa là điều thiếu sót. Chợ Tết là chợ cuối năm bày bán những món hàng từ hoa trái, trang phục đến đồ chơi, đồ thờ, đồ dùng cho mấy ngày Tết; cũng có thể  còn là phiên chợ đầu năm, họp để lấy hên, lấy ngày. Vào thời điểm này, không chỉ là ở khu chợ mà có thể còn là tại một khoảng đất trống nào đó, người ta tổ chức những trò chơi như : đánh đu, đô vật, bịt mắt đập niêu, ném vòng v.v.
                                                                         
Chợ phiên có những nơi một năm chỉ họp một lần vào ngày nào đó cuối năm, ví như ta vẫn từng nghe:
- Bỏ con bỏ cháu
- Không ai bỏ hai mươi sáu chợ Yên
- Bỏ tổ bỏ tiên
- Không ai bỏ chợ Viềng mồng tám.
Chợ Yên và chợ Viềng là tên hai chợ ở Nam Định ngày trước, đó là những phiên chợ sầm uất quy tụ rất đông , nam phụ lão ấu, kể cả những vùng lân cận cũng kéo đến mua sắm.
Tại cố đô Huế, dân đất thần kinh có chợ phiên Gia Lạc gần thôn Vỹ Dạ, hàng năm chỉ nhóm họp trong mấy ngày Tết, thường thì từ 29 tháng Chạp đến mồng ba Tết. Theo truyền thuyết thi do vị hoàng tử thứ tư của vua Gia Long cho họp vào ba ngày đầu năm trên một khoảng trống gần phủ đường, lúc đầu có ý để người trong hoàng tộc tiện tới mua sắm, sau dân làng chung quanh cũng được tham dự nên có câu:
- Gia Lạc chỉ mở ngày xuân
- Quanh năm suốt tháng khó lần tìm ra.
Tỉnh Vĩnh Yên có chợ Dưng, Dưng là tên của làng Văn Trưng thuộc phủ Vĩnh Tường. Hàng năm nơi đây mở hội Xuân vào mồng sáu tháng Giêng. Trong phiên chợ cũng nhiều trò chơi, đặc biệt có trò chơi “nam nữ bắt chạch trong chum”. Do đó người dân cũng có câu:
- Bỏ con bỏ cháu
- Không ai bỏ mồng sáu chợ Dưng.
Rồi nữa, huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa có chợ phiên Cầu Quan, dân ở đây còn gọi là chợ Thượng, họp ngay bên bờ con sông đào. Người ta đi chợ còn được thú vui xem đua thuyền rồng thật vui mắt:
- Cầu Quan vui lắm ai ơi
- Trên thì họp chợ, dưới bơi thuyền rồng.
Vùng Quan Họ Bắc Ninh cũng khá nhiều chợ phiên nổi tiếng một thời qua những câu hát:
- Xứ Nam nhất chợ Bằng Gồi
- Xứ Bắc Vân Khám, xứ Đoài Hướng Canh
Những tên gọi Xứ Nam, Xứ Bắc, và Xứ Đoài là có ý chỉ các tỉnh Hà Nam, Hà Bắc, và Sơn Tây.
Vùng đất Nam Định người ta cũng được nghe những câu ca nói về những thú vui nơi các phiên chợ trong những ngày đầu xuân:
- Mồng Một chơi cửa, chơi nhà
- Mồng Hai chơi xóm Mồng Ba chơi đình
- Mồng Bốn chơi chợ Qủa Linh
- Mồng Năm chợ Trình Mồng Sáu Non Côi
- Qua ngày Mồng Bẩy nghỉ ngơi
- Bước sang Mồng Tám đi chơi chợ Viềng
- Chợ Viềng một năm mới có một phiên
- Cái nón em đội cũng tiền anh mua.
 
Theo tục lệ ngày Tết Nguyên Đán người ta trồng cây nêu trước nhà có ý để xua đuổi tà ma không cho xâm nhập nên trong dân gian có câu:
- Thứ nhất nêu cao
- thứ nhì pháo kêu.
Trong tâm thức người Việt cho rằng cây nêu là biểu tượng của sức mạnh, quyền lực xua tan những điều xấu xa, và tràng pháo nổ dòn là niềm vui, hạnh phúc và may mắn. Nhà nào có cây nêu cao là giầu sang, quyền quý:
- Cu kêu ba tiếng cu kêu
- Trông mau đến Tết trồng nêu ăn chè
 
Những  lễ nghi trong ngày Tết ngoài việc cúng gia tiên còn lệ cúng trời cúng đất. Vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày Mồng Mười tháng Giêng là ngày vía đất nên có câu nhắc nhớ người dân:
- Mồng Chín vía trời
- Mồng Mười vía đất
Sáng ngày đầu năm các viên chức trong làng, xã cùng các vị bô lão tụ họp về đình làng để cầu cùng Thành Hoàng và các thần linh phù trợ cho dân làng qua những câu vừa chúc tụng vừa khấn nguyện:
- Chúc mừng thượng đẳng tối linh
- Phù trì dân xã hiển vinh sang giầu
- trước đình lại có rồng chầu
- có đôi quy phụng tựa mầu non tiên
- giữa đình có đấng bát tiên….
 
Trong những ngày xuân vô vàn trò chơi; tuy nhiên, mỗi lớp tuổi thường thiên về những môn chơi thích hợp. Trẻ có trò chơi của trẻ, ví như miền Bắc có trò hát “Xúc xắc, xúc xẻ”. Thường vào đêm giao thừa nhóm trẻ chừng mươi, mười lăm em cầm ống bơ đựng vài đồng tiền kẽm, rủ rê nhau đến từng nhà hát mừng gia chủ năm mới gặp nhiều may mắn, mọi sự hanh thông:
- Xúc xắc xúc xẻ
- Nhà nào còn đèn còn lửa
- mở cửa cho chúng tôi vào
- bước lên giường cao có đôi rồng ấp
- bước xuống giường thấp có đôi rồng chầu
- bước ra đàng sau có nhà ngói lợp
- ngựa ông còn buộc
- voi ông còn cầm
- ông sống một trăm linh năm tuổi lẻ
- vợ ông sinh đẻ
- những con tốt lành
- những con như tranh…
một vài nơi khác lại có tục hát”Sắc Bùa” theo điệu dân ca của từng địa phương. Cũng có nơi kết hợp múa và hát cũng trong điệu dân gian. Đặc biệt là một vài xã miền biển quận Đức Phổ, Quảng Ngãi, Phường Sắc Bùa còn đặt ra những câu hát riêng cho mỗi ngành nghề:
- Thánh chúa vạn niên
- Thánh chúa vạn niên
- Chúng tôi nay dâng cách đội đèn
- Thái hòa gặp tiết xuân thiên
- Gió đưa chồi ngọc, hoa chen cành vàng
- Trong nhà ta đèn thắp sang trưng
- Song le còn muốn chơi trăng ngoài thềm
- để cho trong ấm ngoài êm….
Cũng trong những ngày hội xuân, thanh niên nam nữ tổ chức hát hò, nào là hát dặm, hát đố/đối, hát quan họ, hát trống quân v.v., những điệu hát và lời ca mang tính trữ tình như nhắn nhe, ngỏ ý, trao duyên v.v.
- Tới đây viếng cảnh thăm hoa
- trước mừng các cố sau là mừng dân
- sau nữa xin mừng cà làng tuần
- mừng cho nam nữ chơi xuân hội này
- một mai đàn có bén giây
- ơn dân vạn bội biết ngày nào quên.
Và tình tứ hơn ta nghe:
Mở đầu chàng trai khéo léo ướm hỏi:
- Tiện đây Mận mới hỏi Đào
- vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Cô gái đáp:
- Mận hỏi thì Đào xin thưa
- vườn hồng sẵn lối nhưng chưa ai vào
Sự tình đã rõ: vườn hồng để ngỏ đấy song ai thấy có đủ bản lĩnh thì xin mời bởi cuộc đối đáp cũng còn gay go lắm đấy:
- Chàng khoe chàng lắm văn chương
- Nên đây thiếp mới hỏi rằng:
- Dầu gì không ai thắp
- bắp gì không ai rang
- than gì không ai quạt
- bạc gì chẳng ai mua?
- Anh cả anh hai đó ơi
- Ai bên chàng đáp được thiếp bên này xin theo.
Gặp dịp như mở cờ trong bụng, chàng trai có chút học thức bèn lên tiếng đối đáp:
- Dầu thoa không ai thắp
- bắp chuối chẳng ai rang
- than thân không ai quạt
- bạc tình chẳng ai mua
- cô cả cô hai đó ơi.
hoặc như khúc hát đố, thử tài tính toán của nhau cũng rất tình tứ trong lời nhắn nhe. Chàng trai lên tiếng trước:
- Đôi ta thấy toán thì mê
- Em đi đố trước anh về đố sau
- thỏ, gà ăn ở cùng nhau
- đếm chân ba mươi sáu đếm đầu mười ba
- toán đề em giảng cho ra
- thì anh kết nghĩa giao hòa cùng em
cô gái cũng nhanh nhẹn đáp lại:
- Được rồi em tính anh xem
- Anh giờ đứng tuổi còn em trưởng thành
- hợp đề em thấy rành rành
- thỏ năm gà tám cộng thành mười ba
- nghĩa là mười sáu chân gà
- hai mươi chân thỏ bài ra đúng rồi
- anh còn đố nữa hay thôi
- hay là anh tính thề bồi chi đây.
 
Trong dịp Xuân về, Tết đến, người Việt còn có những thú vui tao nhã, đó là thú chơi câu đối, nói đến câu đối đỏ ta thường nghĩ ngay tới bài thơ “Ông Đồ” của nhà thơ Vũ Đình Liên:
- Mỗi năm hoa đào nở
- lại thấy ông đồ già
- bày mực tầu giấy đỏ
- bên phố đông người qua
thế rồi:
- nhưng mỗi năm mỗi vắng
- người thuê viết nay đâu
- giấy đỏ buồn không thắm
- mực đọng trong nghiên sầu.
Các cụ đồ luôn nghĩ ra những câu đối cho phù hợp với gia cảnh và tình huống của mỗi người, mỗi nhà, và để thêm vào những chuyện vui trong ngày Xuân chỉ xin ghi lại đây một vài giai thoại về câu đối:
Vào ngày Mồng Ba Tết một ông Bảng ghé thăm người bạn là một ông Tú nghèo, thấy hai con của bạn đang ngồi khóc, mỗi đứa một đầu hè, tưởng là chúng giận nhau chuyện gì. Hỏi ra thì hay là không có tiền đi chơi với bạn và người nhà còn cho biết là các em có học biết làm câu đối, ông Bảng liền nói với hai trẻ nếu đối được câu ông ra sẽ cho tiền đi chơi. Hai trẻ đồng ý và ông Bảng ra câu đối như sau:
- Tết với nhất, nhất với tết, một Tết một bết
Cậu lớn còn đang suy nghĩ thì em nhỏ đáp ngay:
- Hội cùng hè, hè cùng hội, hai hè hai nhè.
Và một giai thoại nữa nói lên một tình cờ mà tuổi trẻ đã đáp ứng được yêu cầu của người lớn qua vế đối. Chuyện kể ông Nghè Thanh có đứa cháu nội 7 tuổi, sáng  30 đòi tiền mua pháo, bà nội cho tiền mua nhưng tối đến định đem pháo ra đốt lại sợ nên nài nỉ ông nội đốt hộ. Bà nội thấy vậy bật cười…, đốt pháo xong cậu bé đói bụng chạy vô đòi ăn, bà nội mắng “Đồ mua pháo mượn người đốt”, cậu cháu cãi lại “Ông đốt chứ người nào đâu”. Bà Nghè nói muốn ăn thì phải đối được câu này:
- Mua pháo mượn ông đốt
Cậu bé nói “Cháu đói qúa rồi không đối được - Lấy giò cho cháu ăn”
Bà nội chưa kịp nghĩ ra bèn nói không đối được thì đừng ăn.
Ông Nghè nghe vậy bèn cười nói với bà Nghè “Cháu nó đối rồi đó,  Lấy giò cho cháu ăn  đối với Mua pháo mượn ông đốt thì chỉnh qúa rồi còn gì. Thế là bà nội đành phải chiều cháu.
 
Xuân về đón Tết mà có những thú vui như thế thật là hạnh phúc. Tiếc rằng thời ấy đã qua mất rồi. Ngày nay trên quê hương mùa xuân vẫn về, Tết vẫn là Tết song lòng người như không thanh thản, bình an nếu không muốn nói đến những ngậm ngùi, cay đắng, xót xa quầng lên mi mắt và như cũng đồng cảm với những người Việt tha hương trong niềm tiếc nuối những mùa xuân xưa trên miền Nam nước Việt tự do, no ấm, và hạnh phúc nơi nơi.
 
Tiếng “Mẹ” Trong Đời
 
Nói dến chữ “Hiếu” là nói đến bổn phận tình cảm không thể thiếu được nơi hàng con cháu đối với cha mẹ, ông bà, và tổ tiên nội ngoại. Nói về cuộc sống của người cha và người mẹ thì trên hoàn vũ này đã có không biết bao nhiêu lời ca, bao nhiêu tác phẩm, bao nhiêu bức họa, và bao nhiêu ngôn ngữ, đã ngợi ca, ghi tạc công ơn sinh thành và dưỡng dục con cái trong suốt hành trình nhân sinh. Không một dân tộc nào cũng như không một cá nhân nào khi chào đời mà không có mẹ có cha.
 
Mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái thường là tình cảm hai chiều – từ cha mẹ đến con cái là tình yêu thương đầy hy sinh trong cả một quãng thời gian dài, có khi suốt cuộc đời; chiều thứ hai, ngược lại, từ con cái đến cha mẹ là lòng hiếu thảo – Hai dòng tình cảm này, nói riêng ra đối với dân tộc Việt Nam ta, đã hòa nhập vào nhau tạo nên mái ấm gia đình, sản sinh ra một truyền thống ‘trung hiếu’. Truyền thống ấy đã in dấu đậm đà trong nếp sống tình tự của dân tộc qua các sinh hoạt gia đình, xã hội, tôn giáo v.v…
Mùa ‘Báo Hiếu’ thực ra chỉ là một tín hiệu nói lên cái tình cảm cao đẹp, chất ngất trong lòng người từ ngàn xưa đến nay. Sự ï hy sinh và tình yêu thương của cha mẹ, cũng như lòng trung hiếu của con cái, luôn luôn dạt dào và triền miên, không chỉ trong một ngày, một mùa, hay một vài năm mà là mọi ngày, là suốt đời.
 
Tại sao bổn phận làm con lại nặng lòng hiếu nghĩa như vậy? Chúng ta đã từng nghe nói về “Nhị Thập Tứ Hiếu”, về chuyện “Mạnh Tòng”, “Mục Kiền Liên”, tâm sự cụ Nguyễn Đình Chiểu qua vai trò Lục Vân Tiên v.v…
Nói đến chín chữ cù lao, trong Kinh Thi có câu “Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao. Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã, phủ ngã, xúc ngã, trưởng ngã, dục ngã, cố ngã, phục ngã, phúc ngã. Dục báo thâm ân, hạo thiên võng cực. Tạm dịch: Thương thương cha mẹ, sinh ta khó nhọc. Cha sinh ta, mẹ nâng đỡ ta, vuốt ve ta, cho ta bú, nuôi ta lớn, dậy dỗ ta, đoái tưởng đến ta, săn sóc ta, che chở ta. Muốn báo đền ơn sâu như trời cao lồng lộng, thăm thẳm vô biên.
Trên mặt đất này, ai đã từng đi biển, hoặc nhìn thấy biển và đã từng ngước mắt nhìn trời mây bao la, đều cảm nhận được sự so sánh công ơn cha mạ qua những câu sau đây:
 
nước biển mênh mông
không đong đầy tình mẹ
mây trời lồng lộng
không phủ kín công cha
 
Trong đời sống gia đình, con cái nói chung thường gần gũi với người mẹ hơn là với người cha bởi vai trò của cha và mẹ có phần khác nhau, do đó hình ảnh người cha là một ‘nghiêm đường’ thì trái lại người mẹ là một ‘từ mẫu’.
Tiếng “Mẹ” trong dân gian Việt tộc thật quan trọng vì nó bao trùm nhiều ý nghĩa và ảnh hưởng rộng lớn trong đời sống người dân. Khởi từ hình tượng nguyên sơ của Mẹ Tiên Âu Cơ, nguyên lý Mẹ đã tiềm ẩn trong dòng máu Việt từ ngàn xưa và đã thể hiện trong mọi sinh hoạt văn hóa cũng như xã hội. Ngày xưa, xã hội ta không giống như hầu hết các dân tộc khác chịu ảnh hưởng thần quyền, nghĩa là không phải nam giới mà là phụ nữ đóng vai trò chủ tế trong các lễ, hội. Trống đồng ngày trước không phải chỉ là một nhạc khí thông thường mà còn mang ý nghĩa tượng trưng cho uy quyền quốc gia, cho tư tưởng và đời sống của dân tộc và cho định chế của lễ nghi, mà người đánh trống luôn luôn là phụ nữ; ngoài ra Tùy Thư còn ghi chép “ người đánh khai mạc chiếc trống mới đó bao giờ cũng là người con gái.”
 
Có lẽ không có dân tộc nào trên thế giới lại có nhiều thần nữ như dân tộc Việt. Từ hình tượng Mẹ Tiên đến Cửu Thiên Huyền Nữ, Thái Dương Thần Nữ, Mẫu Thương Ngàn Bà Chúa Xứ, Mẫu Thoải (mẹ nước) v.v…
Ngày xưa là thế, sau này vai trò phái nam được đề cao trong chế độ phụ hệ, có lẽ vì truyền thống kế thừa để thờ cúng tổ tiên; dầu thế vẫn dựa trên nền tảng “phu xướng, phụ tùy”
Người mẹ Việt nam luôn nhẫn nhục, chịu thiệt thòi về mình, chiều chuộng và chăm lo cho chồng cho con. Hẳn chúng ta đã từng nghe Tú Xương mô tả người mẹ Việt Nam:
 
quanh năm buôn bán ở mom sông
nuôi đủ năm con với một chồng
 
Con cái, nhất là con gái, thường gắn bó với mẹ nhiều hơn. Kế Hàm thời Tấn, trong sách Nam Phương Thảo Mộc Trạng có ghi “Người Việt có tục “Nữ Tửu” (rượu con gái) là vì khi sinh con gái, gia nhân nấu rượu rồi đổ vô hũ sành gắn nắp lại đem chôn ở bờ ao. Khi cô gái lớn lên, lập gia đình,hũ rượu được lấy lên để chiêu đãi trong ngày cưới.” Ngày nay tục lệ này không còn nữa, nhưng từ đó ta vẫn thường nghe cha mẹ yêu quý con gái nên âu yếm gọi con mình là “con gái rượu”.
 
Trong tâm thức mỗi người nói chung và dân Việt nói riêng, đều có hình ảnh mẹ; nhờ truyền thống cao đẹp ấy mà nước Việt, xưa cũng như nay, đã sản sinh ra những vị anh thư lẫy lừng xưa nay, bất khuất trước những bạo lực hung tàn, dù là ngoai xâm hay bọn Việt gian độc tài thống trị, buôn dân bán nước.
 
Không gì có thể nói hết, nói trọn vẹn được cái liên hệ ruột thịt, vừa thiêng liêng cao qúy, vừa đầy ắp yêu thương, sống động, mênh mông, và miên man bằng tấm lòng mẹ cha dành cho ta qua tuổi đời khôn lớn và tình mẹ cũng vuông tròn theo lớn khôn. Từ cha mẹ, nhất là từ người mẹ, ta đón nhận không những là sự nuông chiều, tha thứ như Balzac đã nói “trái tim bà mẹ là nơi trú ẩn an toàn nhất, ở đó người ta luôn tìm thấy sự tha thứ”, mà ta còn đón nhận một hành trang thiết yếu, một “căn cước” vô hình để là ‘người’ vào đời. Đó chính là ngôn ngữ vì chỉ có con người mới có ngôn ngữ, cái mà ta học được tiếng vỡ lòng ấy, là từ trên đầu gối mẹ, chính vì thế mà người ta gọi quốc ngữ là Tiếng Mẹ Đẻ.
 
Giọt sữa đầu đời từ trong lòng mẹ cho con những ngọt ngào, miếng ăn đầu đời từ miệng của mẹ đã mớm cho con, nụ hôn đầu đời cũng từ môi mẹ in dấu trên khuôn mặt con, cái nhìn đầy ắp yêu thương cũng từ đôi mắt mẹ giao thoa với tia nhìn ấu thơ đầu đời của ta v.v…
 
Vai trò của người mẹ, nói khác đi, thiên chức làm mẹ thật là cao trọng. Theo truyền thuyết nó đã hàm chứa ý niệm dân tộc hình thành theo quy luật sinh tồn. Xã hội loài người thuở ban sơ, bản tính hồn nhiên sống theo tục quần hôn của chế độ mẫu hệ kéo dài hàng ngàn năm. Theo nhà nhân chủng học Lévis Strauss trong tác phẩm Nhân Loại Cấu Trúc thì xã hội Việt Nam thời Hùng Vương chuyển dần sang chế độ phụ hệ, nhưng hình tượng người mẹ, Mẹ Âu Cơ, Mẹ Tổ Quốc, Mẹ Việt Nam, vẫn đậm đà trong tâm tưởng mỗi người và vai trò cũng như công đức sinh thành của cha mẹ vẫn luôn luôn là điều tâm niệm, ngày đêm của con cháu Lạc Hồng. Điều này đã thể hiện trong những sinh hoạt hàng ngày nơi các gia đình Việt Nam, qua những dịp lễ, tết, mừng thượng thọ v.v. đối với song thân còn tại thế. Dường như không một gia đình nào mà không có bàn thờ tổ tiên; vừa là để tỏ lòng báo hiếu vừa là để mường tượng những ngày sinh tiền của cha mẹ, ông bà, tổ tiên như lòng mơ ước:
 
đêm đêm khấn nguyện đất trời
cầu xin cha mẹ sống đời với con
 
Sau cùng, điều mơ ước ấy có lẽ còn hàm chứa ý nghĩa của chữ Hiếu trên một khía cạnh khác, đó là lòng mong muốn thiết tha như trong từ kép – hiếu kỳ, hiếu khách, hoặc thị hiếu v.v…
 
Trường Thy

TC Trầm Hương 21

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013