Thi Ảnh


 
TRẦM HƯƠNG
Tạp chí văn học nghệ thuật
----------------------------------------------------------------------------------------
Năm Thứ 8 . Bộ Mới . Số 7
Chủ nhiệm: Nguyễn Đức Nhơn
Chủ bút: Túy Hà
Thông Tin Liên Lạc
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Website: http://hoiquantramhuong.net
Tranh bìa : Họa Sĩ Hồ Hữu Thủ
Phụ bản và minh họa: Tranh Hồ Hữu Thủ và Thư Họa Vũ Hối
Trình bày và layout: Nghi Hà
In tại
Mr.Print Ần Quán
       DIỄN ĐÀN VĂN HỌC TRẦM HƯƠNG THỰC HIỆN
MỤC LỤC
Lối vào (3)
Trần Hoài ThưGa đêm (6) - Hoàng Xuân Sơn Cũng chẳng (17) - Hạc Thành Hoa Đêm trăng (19) - Lan Cao Nào quên (21) - Nguyễn Xuân Thiệp Tiếng sấm (23) - Đàm Trung PhápThơ haiku (25) - Phan Bá Thụy Dương Bóng thời gian (33) - Thiếu Khanh Với bạn (35) - Vĩnh Tuấn Ta làm thơ (37) Trần Bang Thạch Bóng ngoại (39) - Quan Dương Chỉ còn (47) - Trần Kiêu Bạc Lòng ca kỷ (49) - Tịnh vân Chút tình (51) - Túy Hà Huế cũ (53) - Phan Các Chiêu Hằng Đường về (57) - Nguyễn Lương Vỵ Tuyệt mù (71) - Võ Thạnh Văn Bài thơ (73) - Võ Thị Điềm Đạm Dấn thân(76) - Trần Vấn Lệ Tưởng ai (84) -Trần Thiện Hiệp Biết đâu (87) - Trần Văn Lương Cái nốt ruồi (89) - Phạm Ngọc Giữa màu đen (100) - Lãm Thúy Nhẫn nhục (103) - Nguyễn Thị Thảo An Nhan sắc (106) - Phạm Tương Như Thay áo nắng (112) - Trần Thị Hà Thân Áo trắng (116) - Kim Oanh  Yêu ghét (118) - Chu Thụy Nguyên Khi khói quyện (121) - Dương Thượng Trúc Xuân viễn xứ (123) - Nguyễn Đức Nhơn Lục bát 4 câu (125) - Trần Minh Hiền Cho đời anh (127) - Như Phong Dưới trăng (129) - Phạm Thị Cúc Vàng Trái tim (131) - Phạm Ngũ Yên Sông chảy (133) - Trần Thị Dã Quỳ Đêm (136) - Dương Quân Đợi nắng (139) - Khai Nguyên Bóng đại bàng (141) - Yên Sơn  Cảnh đẹp (143) - Nguyễn Thị Thanh Dương Chạy đâu (145) - Xuân Bích Cung tình mưa (153) - Dạ Dung Vũ Vấn duyên (155) - Mây Ngàn Sóng nước (157) - Đinh Yên Thảo Hình tượng (158) - Song An Châu Màu hoa (164) - Cái Trọng Ty Loài chim (167) - Nguyễn Đức Nhơn Thi ảnh (169) - Lưu Nguyễn Từ Thức Chào nỗi nhớ (170) - Hà Túy Mộng Chăn chiếu (172) - Nguyễn Minh Triết Chuyện Thánh Gióng (174) - Nguyễn Lập Đông Cái bang (185) - Miên Du Đà Lạt Cali sầu đông (186) - Trần Việt Cường Chờ nhau (187) - Luân Tâm Hoa tình em (189) - Thái Bạch Vân Vườn yêu (191) - Lan Đàm Thi ảnh (192) - Hoàng Đình Nam Thành phố (193) - Cù Hòa Phong Phím ngọc (194) - Túy Hà Còn đó sông hồ (195) Song Thy Em như cỏ dại (201) - Ngô Nguyên Nghiễm Phê bình văn học: “Kinh Dương Vương” (202) - Trần Yên ThảoBiên khảo: “Thơ biên tái” (208)
LỐI VÀO
Lối vào là tâm như hoa, đã trở thành tâm niệm của những người cầm bút còn biết hoan ca cùng tri thức. Hoan ca chính là ân sủng tuyệt vời mà Thượng Đế đã dành riêng cho những người đam mê chữ nghĩa. Nhờ có niềm hạnh phúc ấy mà Trầm Hương 7 đã vượt qua những khó khăn đời thường để đến tay bạn đọc.
       Báo giấy nói chung và Tạp chí Trầm Hương nói riêng cũng đã phải vượt qua bức tường lửa của thời đại thông tin Internet đã phải bung lưới mạng toàn cầu để rong ruổi trên những dặm dài việt dã chỉ với niềm hy vọng mong manh là còn người đọc tức là còn người ủng hộ. Vì thế chúng tôi vẫn tiếp tục lên đường.
        Mỗi một số Trầm Hương là mỗi một dặm dài gian khổ vì áp lực từ mọi phía vẫn đè nặng trên đôi vai quá tải của những người cầm bút lưu vong. Lực có thể tàn, sức có thể cạn, thế có thể mất nhưng với trái tim cháy bỏng nhiệt huyết và khối óc còn nợ duyên cùng sáng tác, thì ý thức vẫn còn là động lực thúc đẩy chúng tôi tiến về phía trước.
       Nghe qua có vẻ nặng nề và quan trọng hóa vấn đề. Nhưng đó lại là một thực tế đầy tính thuyết phục. Làng báo hải ngoại không thiếu những tờ báo rầm rộ lên đường và sau đó là lặng lẽ rút lui vào quên lãng. Khả năng có thừa nhưng áp lực vật chất quá nặng, đối với những người thiếu thiện chí thì bỏ cuộc là điều tất yếu.
       Làm báo tuyệt nhiên không thể mang đến phúc lợi mưu sinh, cây bút không giúp ta những quyền lợi vật chất, nhưng cây bút lại chính là phương tiện giúp ta thể hiện hữu hiệu khả năng của tri thức. Nó cũng chính là đôi cánh giúp chúng ta bay xa, bay cao đến những vùng trời còn chưa được khai phá.
        Trí tuệ con người chỉ có thể được biết tới, được xử dụng hiệu quả chính là nhờ khả năng ghi thành văn tự và cây bút chính là khả năng ấy. Cây bút là lợi khí tuyệt đối trong chiến tranh ý thức hệ khi mà thế giới vẫn còn hai thái cực.
Cây bút cũng chính là phương tiện hữu hiệu để truyền đạt những ước mơ mang tính chân thiện mỹ của con người còn nhiều khát vọng vươn lên.
       Thế nhưng ở đầu tân thế kỷ, văn minh khoa học đã tiến bộ vượt bực, cây bút thân quen từ thời chập chững lên đường đến lớp không còn độc quyền sở hữu để ghi thành chữ nữa. Dần dà nó đã được thay thế bằng nhiều phương tiện khác như máy đánh chữ và bàn phím của máy tính là một điển hình. Vui thay mà cũng buồn thay, vi tính giúp mọi người giải quyết nhanh gọn rất nhiều vấn đề phức tạp, nhưng vi tính cũng làm cho con người trở nên trì trệ và lười biếng động não.
       Mượn lối vào hôm nay, chúng tôi nói thoáng qua về cây bút không có nghĩa là đào sâu một đề tài mà chỉ là một cách tự nhắc nhở chính chúng tôi là còn cầm bút là còn biết yêu chính mình và tha nhân. Làm, giữ, bảo tồn và phát huy sách báo vẫn còn là việc làm đầy ý nghĩa thiết thực.
       Bạn có thể tìm hiểu nhiều điều qua báo chí, sách vở bất kỳ lúc nào, nơi nào. Nhưng bạn không thể làm điều ấy qua máy vi tính vì còn có giới hạn về thời gian, tuổi tác, sức khỏe và nhất là rất dễ nhầm lẫn.
Chúng tôi luôn vững tin rằng hoài bão của người cầm bút lưu vong còn nhiều lắm. Nhiệt tình của bạn đọc cũng không thiếu, nhưng sách báo là món ăn tinh thần thì càng ngày càng giảm sức thu hút do bài vở được lấy tự do từ nguồn internet, nên sự trùng lắp đã trở thành vấn đề dễ gây nhàm chán. Những sách báo uy tín do có chọn lọc bài vở thì lại thường bị gián đoạn vì không đủ phương tiện in ấn và phát hành.
       Đến đây có lẽ lại phải tự hỏi Trầm Hương do đâu, nhờ đâu mà vẫn ra đều đặn. Câu trả lời đơn giản và thành thật nhất là Trầm Hương không chủ trương kiếm tiền mặc dù rất cần tiền để in ấn. Tất cả có được là do sự nhiệt tình đóng góp của anh em cùng chí hướng và thân hữu bạn đọc gần xa. Tuy nhiên tình trạng sẽ rất bấp bênh và khó lòng khá hơn bây giờ. Vì vậy chúng tôi quyết định từ số này kính mời gọi quý thân hữu và quý độc giả ngoài phần ủng hộ thường lệ thì giúp chúng tôi thêm bằng cách giới thiệu bằng hữu mua dài hạn. Sách sẽ được gởi đến tận nhà mà phần chi tiết sẽ được thông báo ở trang cuối. 
       Mùa hè đang lừng lững đến mang theo cái nóng đổ lửa ở vùng cực nam nước Mỹ này, nơi mà Trầm Hương đã chọn làm căn cứ địa sau cùng, đã mười năm qua, tới lui cùng bạn đọc vẫn là niềm khích lệ lớn lao cho những người cầm bút chúng tôi.
      Kính xin gởi đến quý bạn đọc và quý thân hữu lời cám ơn chân thành nhất về những ủng hộ mà quý vị đã dành cho Tạp Chí Trầm Hương trong suốt nhiều năm qua.
Trân trọng
Ban Biên tập
Trần Hoài Thư
Ga đêm quạnh quẽ
Tặng Nguyễn Sa Mạc
Khu máy nước, xóm đường này, nhà ga xe lửa. Những dãy nhà mọc lên chi chít như bàn cờ, bên cạnh những đống rác nhão nhẹt dưới những trận mưa mùa đông. Rác, rác ngập bốn bề, trong lòng sân ga quạnh quẽ, rác nổi lên giữa những toa tàu xám đã bị bỏ quên từ một ngày binh lửa. Cũng như những chiếc đầu máy đã nằm yên trong dãy cơ xưởng và những đống rỉ sắt chồng chất trên bãi cỏ dại, chưa một lần bốc đi về một chân trời xa. Ở đây, là một cõi lãng quên. Ở đây, có những người chờ chực, mong đợi một ngày như những chiếc tàu bỏ không chờ ngày hú hồi còi vạn lý. Ở đây, chiến tranh không đến, nhưng chiến tranh bủa xuống ngậm ngùi. Sân ga năm nào, cột đèn vàng, người phụ việc đội mũ kê-pi, hành lang thăm thẳm, vang động gót giày, những bàn tay vẫy, những nụ hôn ràn rụa. Con tàu huýt hồi còi trong sương…Tất cả đều bay biệt mù tăm, để lại bây giờ một bãi nghĩa địa hoang phế.
      Có một người thanh niên trở về khu máy nước như một kẻ bí mật. Chàng xuất hiện trước ngôi nhà cạnh đường ray vào một đêm mùa đông. Tay  phải là chiếc xắc. Chiếc xắc độc nhất, bạc màu được vá víu bằng mảnh vải nhựa. Xắc nhẹ tênh. Một bộ quần áo và dăm bảy quyển sách. Một quyển vở bọc bìa nhựa, cái bàn chải đánh răng, và thêm cái khẩu cầm bé nhỏ. Rồi hết. Đó là cơ nghiệp của một thằng con lưu lạc trở về, sau những năm miệt mài Trường Sơn chất ngất. Cửa nhà đóng kín. Gã cúi đầu yên lặng một chút, rồi đưa tay gõ cửa.
- Ai đó?
- Con.
- Ai?
- Con, Tân đây!
Cửa mở. Người thanh niên đứng giữa khung cửa, dáng gầy guộc. Người đàn ông già, cầm chiếc đèn dầu soi lên:
- Trời ơi, thằng Tân. Mày về lúc nào vậy?
- Con mới về tức thì. Các cháu đâu?
- Chúng ngủ hết cả trong phòng.
- Anh chị con đâu, ba?
- Cũng ngủ rồi.
- Sao đêm nay không có điện, ba?
- Tối nay điện cúp.
Ông già vẫn còn cầm chiếc đèn dầu hỏa. Vẫn cái dáng quen thuộc năm nao khi ông đứng trên sân ga, xách đèn lồng, vào một buổi sáng tinh sương, trước khi con tàu ra sân. Những nét nhăn nheo, hằn in trên vầng trán. Gió mùa đông bạt tung cánh cửa. Ánh đèn dầu trở nên lập lòe.
- Sao con về tối vậy?
Người thanh niên không đáp. Chàng bước vào nhà, đôi mắt quan sát từng đồ vật. Vẫn chiếc bàn cũ, vẫn chiếc tủ kính năm nào, vẫn những chồng báo kê trên chiếc bục nhỏ, vẫn những chiếc ghế bành độn rơm.
- Con về thăm nhà, mai con đi.
- Sao đi sớm vậy. Ở lại vài bữa với các cháu. Chúng nhắc đến mày luôn.
- Con phải dời nơi này thật sớm. Về lại căn nhà này, thấy ba bình yên là con mừng rồi.
Ông già bỏ chiếc đèn lồng xuống. Trời đổ cơn mưa lớn. Mùa đông hay là cơn bão rớt.
- Có lẽ bão.
- Con nghe đài nói bão ở Đà nẵng. Má con đâu rồi ba?
Người đàn ông già nhìn xuống đất. Mưa đổ trên mái tôn, kêu lộp bộp. Người thanh niên lấy bao thuốc.
- Mời ba điếu thuốc.
- Xem mày thay đổi nhiều quá.
- Con thay đổi thế nào, ba?
- Mày nom già cằn già cỗi. Hình như đầu mày có tóc bạc rồi.
- Những ngày ở Trường Sơn, những ngày xuống dưới biển, vượt biên giới, ba xem, chính những ngày đó…
- Tao vẫn biết. Nhưng tao không ngờ mày già đến đó, tao muốn chảy nước mắt… Mày mệt mỏi lắm phải không?
- Dạ, con mệt mỏi lắm rồi. Con đã trở về.
Người đàn ông già, bước đến cái bàn nước:
- Con uống cà phê nhé. Ba pha cà phê cho con nhé.
- Để con pha cho ba.
- Tau pha.
Người thanh niên nhìn lên trần nhà. Bóng cây đèn, in trên vách tường vôi trắng. Những tiếng kêu buồn bã của con thằn lằn nào đó ở trần nhà, đều đều.
- Má con đâu rồi, ba?
Người đàn ông già vẫn im lặng. Ông ta lui cui soạn tách, pha cà phê, và đổ nước sôi.
- Má con đâu rồi ba?
Đôi mắt ông già quay lại, soi vào gương mắt người thanh niên. Ông lắc đầu:
- Má con bỏ đi lâu rồi.
- Sao vậy, ba? Người thanh niên la lên, hốt hoảng.
- Mỗi người đều có cuộc sống riêng, lý do riêng, đời tư riêng… Không ai ngăn cấm nổi hết. Má con có sự lựa chọn riêng, cũng như ba có sự lựa chọn riêng của ba. Ba để cho má tự do, và má để cho ba tự do.
Người thanh niên cúi xuống, nói như muốn khóc.
- Mỗi người đều có lý do riêng, lựa chọn riêng của hắn, cũng như con. Nhưng con không ngờ cái ngày trở lại thế này… Chẳng thà con biệt tăm, biệt xứ luôn. Chẳng thà con lận đận lao đao ở quê người, ở cái miền biên khu mù mịt kia, chẳng thà con sống để như chết, để buông thả tất cả cuộc đời con cho gió, cát, núi, rừng, cho chiến tranh, cho đồng đội, cho súng đạn, hành quân… Chẳng thà con lưu thân ở một cõi nào biệt tăm biệt tích… Ba có biết, tại sao con lại về căn nhà của khu máy nước này không. Ba có biết, trên chặng đường con trở lại, phải qua bao nhiêu gian lao, khổ ải này không…
- Ba vẫn không hiểu con nổi. Con dạo này, như một người lớn trước tuổi.
Tiếng nói của người đàn ông già bị át hẳn bởi tiếng mưa. Mưa mùa đông. Trận bão rớt, từ ngoài khơi eo biển, bắt đầu thổi về ào ạt. Mái tôn thốc ầm ầm, và những miếng vải bạt ngoài hiên, vang lên một âm thanh cuồng nộ.
- Con biết một ngày như thế này, thì có lẽ con không trở về. Ba, cho con thưa một điều. Con khinh ba, con khinh má. Chính ba má, chính gia đình, chính sự vô ý thức của mỗi người, đã làm con phải khổ tâm như thế này.
- Ba biết thế. Tại ba nhu nhược.
Ông ngừng nói, nhìn chằm vào đứa con trai.
- Bây giờ, con nom già quá. Da đen, má lại hóp. Cả gương mặt thơ ngây năm nào, bỗng nhiên thay đổi lạ lùng. Ba nhìn con, ba ngỡ là một người lạ nào. Nếu con không nói, ba chắc không biết…
Có tiếng dép kéo lê từ trên cầu thang. Người đàn ông già nói nhỏ:
- Dì con xuống.
Một người đàn bà cỡ 39, 40 tuổi xuất hiện trong phòng khách. Bà mang bộ áo quần hoa tím, vải lụa. Nom bà sung mãn, như một người đàn bà hồi xuân, và biết chưng diện. Người thanh niên cúi đầu chào.
- Thằng Tân, con trai đầu lòng của  tôi đấy, mình.
- Thế à? Anh mới về.
- Vâng, con mới về.
- Anh đi lính, về phép?
Anh trả lời gượng gạo:
- Vâng, con về phép.
- Chừng nào anh đi?
- Mai sớm, thưa dì.
- Sao gấp vậy?
Người thanh niên lặng lẽ đốt thêm điếu thuốc. Khói thuốc xanh, lượn vòng bay trong thinh không. Một chiếc xe Honda băng qua con đường trước ngõ, tiếng máy lẫn trong tiếng mưa gầm thét. Trước mặt anh, là một nỗi đớn đau vô biên chưa từng có. Dì anh, người đàn bà sắc sảo ấy: đôi lông mày cạo nhẵn thín, những móng tay sơn đỏ chót, và bộ quần áo lụa mỏng sặc sỡ. Anh đoán không lầm, bà ta là một người làm sở Mỹ. Căn nhà, bây giờ trở nên khang trang và đầy đủ tiện nghi hơn. Ngày nào, tấm trần ủ mốc, những chiếc cửa sổ, mốc meo, cũ kỹ, chiếc tủ gương chưa một lần đánh thêm nước sơn mới, cùng những ngăn kệ chưa kê, bày một bộ ly chén đắt tiền. Nhưng bây giờ, sự việc trái hẳn. Anh trở về, để chứng kiến một sự thay đổi đau lòng trên từng gương mặt của những người thân yêu, đến từng đồ vật ở từng vị trí, ngõ ngách. Đây là bộ ly chén mua từ PX, đây là những chai whisky đắt tiền, đây là những con búp bê xinh xinh, những radio, pickup, những quyển lịch Playboy, những chai dầu thơm đắt tiền… Tự nhiên anh đâm ra nhớ mẹ anh. Người đàn bà, sống bằng những ngày gian khổ, mà cuộc sống chỉ biết mỗi sáng mỗi chiều, xách những rổ chuối, những rổ trái cây, những gánh gồng, cho phiên chợ sớm, chiều. Người đàn bà, hy sinh trọn tuổi thanh xuân cho chồng, cho con, chưa bao giờ thở dài một tiếng. Anh nhớ lại những giọt nước mắt của mẹ khi tiễn đưa anh lên đường, những món quà nhỏ mọn khi anh trở nên một tên tân binh trong quân trường nắng cháy. Những ngón tay nhăn nheo, run run mở từng món đồ, dúi từng số bạc ít ỏi vào túi anh và những giọt lệ long lanh trên gò má, khi người nhận ra anh ốm và đen hơn. Anh còn nghe như thể, từ chiếc giường kê ở bên trong căn buồng nhỏ, tối, tiếng thở dài của mẹ anh, tiếng mẹ anh cắn chí, để lo toan những việc gia đình. Và anh còn thấy ánh đèn dầu hỏa bà thắp lên trong đêm khuya khoắt, khi bà rửa chùi những nải chuối, những quả thanh long đỏ ửng, những quả trứng gà, trứng vịt. Anh lại thấy gương mặt người đen đúa, xấu xí như hai trái táo, như thể mang nặng một nỗi bất hạnh suốt đời trên vai người. Bây giờ bà đã bỏ ra đi. Anh nhìn ra song cửa. Đêm tối bưng kín. Ánh đèn dầu hỏa của căn nhà bên cạnh vẫn còn thắp. Cơn mưa đột ngột đã dứt, cơn mưa, của Trường sơn hay cơn mưa trong lòng anh, bão bùng sầu muộn. Cơn mưa của khu máy nước hay cơn mưa của những ngày sương lũng núi mù, bom đạn triền miên, hay những ngày những đêm, co ro, run rẩy trong chiếc poncho phập phồng gió bấc… Chắc là cơn mưa trong hồn anh rồi. Nó đến, như một dòng nước mắt, ràn rụa tâm hồn. Nó đến, đớn đau, để anh nhận ra sự hiện hữu của một đời con trai, trở lại cùng quê huơng.
Người đàn bà và cha anh đã lên căn gác. Bây giờ, chỉ còn một mình anh lủi thủi quạnh hiu. Tiếng tắc kè của con kỳ nhông năm nào vẫn vọng về trong một hang hốc nào đó ngoài sân. Có lẽ, nó là chứng nhân… Nhưng, tội nghiệp, nó đang than vãn một kiếp sống. Ai hơn ai.
     Anh ra ngoài hành lang. Bên kia con đường đất, cách hàng rào, Liên đang ngồi học dưới ánh đèn dầu. Mái tóc của nàng phủ ngập trên bờ vai. Và khuôn mặt nàng lung linh dưới ánh đèn vàng vọt. Anh ngồi trên bực thành xi măng, lạnh lẽo.
Căn nhà bên cạnh, khóm hoa huỳnh nhạt nhòa trong ánh sáng mù mờ từ song cửa hắt ra. Anh vừa nghe một bản nhạc từ chiếc máy thu thanh.
“ … Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi…”
Tự nhiên, mắt anh muốn ràn rụa. Người ca sĩ, đôi mắt than chì mở lớn như một cô gái da đen man dại. Người ca sĩ để chân trần, ru ngủ bao cõi lòng phiền muộn, đem lại những nỗi buồn vui trong lứa tuổi thanh xuân. Người ca sĩ, mang mùa thu, mang ly biệt, mang tình yêu, và ngăn cách, mang cuộc chiến và râu tóc Trường sơn… Ôi, còn anh, anh vẫn như thế này. Điếu thuốc đốt lên. Đây là điếu thứ bao nhiêu, cho vơi đi bao nỗi sầu muộn lê thê trên mặt đất. Trường sơn, đỉnh cao chót vót. Bảy ngày gạo mang theo, bảy ngày gạo tiếp tế. Những bước chân thất thểu, những bộ quần áo tơi tả, chiếc áo ấm chưa giữ được hơi hướm cho những ngày mùa đông hàn thử biểu xuống mức tối thiểu, những viên đạn bắn đi, những vỏ đạn rơi rớt dọc đường, những lá thư viết không gởi. Gởi ai. Máy thu thanh nghe lúc dừng quân. Hòa bình, ngưng chiến, ngày sum họp, mẹ con, mừng tủi… Anh ngồi, nghe như mình đang trôi bềnh bồng trong một cõi chết. Liên hát theo. Giọng Liên cao, và sành sõi. Anh đứng dậy, bước qua và vịn tay ở khung cửa. Liên la lên một tiếng khe khẽ, sững sờ. Anh hơi mỉm cưởi, nói lạt giọng:
- Biết ai đây không, Liên.
Liên ngước mặt, đôi mắt ngạc nhiên, rồi la lên:
- A, anh Tân. Anh Tân, về hồi nào vậy?
- Suỵt. Khe khẽ. Kẻo nhà dậy.
Liên rối rít.
- Mời anh vào.
Anh cười:
- Anh vừa nghe em hát xong. Thật là một giọng tuyệt vời.
Liên xịu mặt xuống. Đôi mi chớp chớp:
- Anh ngạo em hoài.
- Em xem anh thế nào.
- Anh đen và gầy nhiều quá. Sao anh ít về vậy?
- Trường sơn chôn chân anh rồi. Anh sắp trở thành người Thượng rồi.
- Độ này anh ốm quá.
- Chắc, lần bị thương này, máu anh đổ ra nhiều quá. Dễ gì cả chai máu.
- Anh mới xuất viện?
- Không, anh bỏ quân y viện. Anh trốn đi.
- Sao kỳ vậy?
- Em là con gái, em không hiểu. Và anh cười ném mẩu thuốc ra ngoài cửa. Mỗi người đều có lý do riêng để sống, phải không em?
Cô gái cúi đầu trên trang giấy học trò. Một hình vẽ quang phổ bên cạnh những công thức.
- Cho anh đoán nhé. Em học ban A phải không?
- Dạ
- Quang phổ có bao nhiêu văn? Mấy màu?
- Anh lại đố em nữa à?
- Anh hỏi em vì anh quên, 5,6 năm rời Đại học, rời cái phòng thí nghiệm, rời tính toán, công thức, bây giờ anh đã trả bài giảng về giáo sư hết cả rồi. Bây giờ, chỉ có lệnh, có nghiêm nghỉ, chỉ có sáng thứ hai chào cờ, chỉ có đêm dẫn lính đi kích, chỉ có trái khói, lựu đạn, có những hét hò, xung phong, sát….., chỉ có những gương mặt giòng họ Y, Nay, Blunk….
- Anh đi lính có khác.
- Anh thay đổi nhiều lắm, hở Liên?
- Dạ.
- Em vẫn không thay đổi. Khi anh nghe em hát, anh ngỡ ngày nào, anh còn ngồi lại, bên hành lang. Anh đang học bài, đang dõi mắt nhìn em. Em lớn hẳn ra, lại đẹp nữa.
Liên chớp mắt.
- Chừng nào anh hết phép.
- Anh không có phép. Anh trốn đi. Nhưng mai anh sẽ rời đây sớm.
- Sao gấp vậy, anh. Ở lại một thời gian, đi anh.
- Em không hiểu anh đâu.
Anh nhìn kỹ vào khuôn mặt người con gái. Năm nào, anh làm một tên si dại, mở cửa mỗi ngày, mong chờ một tà áo trắng và chiếc nón nghiêng nghiêng. Người qua nhà tôi mỗi ngày hai bận, nón che nghiêng nên chẳng thấy tôi buồn. Năm nào, anh trao lá thư trong quyển sách học, tỏ tình yêu qua bờ giậu cách ngăn và em đôi mắt biết thẹn thùng, trao cho anh bao lời âu yếm. Khi em ngồi, mở cửa. Khi em khoe áo mới mỗi bận tung tăng, khi em gửi trao bài ca tiếng hát ở bên kia khung cửa. Khi em theo anh về miền xa, dưới hàng phi lao rậm bóng, để lần đầu tiên anh hôn em, biết được tất cả hơi hướm con gái.
Anh nói:
- Em ra ngoài đường ray, cùng anh chốc lát. Anh chỉ còn đêm nay. Tiếc rằng đêm không trăng, không sao, để anh chỉ cho em nơi anh ở đó. Nơi Trường sơn anh lưu thân. Em biết Trường sơn không?
- Trường sơn hả anh. Ghê quá đi. Bộ anh ở trên đó sao?
- Bây giờ mỗi người lính đều có quê hương của họ. Đó là Trường sơn. Đó là biên giới. Đó là nỗi sống và chết.
Đêm hầu như đã khuya. Hai người cầm tay nhau bước ra khu sân ga. Người thanh niên thầm thì:
- Bàn tay em lạnh.
- Em sợ anh
- Sao mà sợ. Anh vẫn nhớ những đêm trăng, hai đứa mình trốn cha trốn mẹ ra ngồi trên đường sắt, nhìn ra sân ga.
- Em cảm thấy sợ. Anh thì biền biệt, mù tăm. Khi trở về thì vội vàng, bí mật, và khi đi thì gấp rút, lạ lùng. Em không hiểu anh.
- Em không hiểu anh đâu. Nhưng đêm nay, dù ngắn, dù muộn màng, dù không một bóng trăng sao, anh vẫn coi là một kỷ niệm vĩnh cửu cho đời anh.
Gió đêm trở nên lạnh, hai người bước đi trên con đường đất ướt, đầy vũng nước. Hai bên nhà đã đóng cửa. Một con chó sủa. Người thanh niên cười, siết chặt bàn tay người con gái:
- Nó sủa, vì nó ghen chúng ta.
- Hay nó xua đuổi ta.
- Cả hai, trong thời chiến tranh mỗi người là một kẻ bị xua đuổi, bị dồn bức. Mỗi người là một kẻ trốn chạy. Nhất là cuộc chiến trên quê hương đầy buồn bã này. Có ai thỏa mãn niềm khao khát của mình đâu.
Hai người ra sân ga. Đêm dầy và hình như đã khuya lắm. Bầu trời đen tối. Những ánh đèn ở phía thành phố lấp lánh trên những building cao ngất. Dãy núi ngoài biển, nhìn thấy bới một dải ánh sáng nhòa nhạt trong hơi sương. Trên cao, con tàu chớp xanh đỏ, rù rì một âm điệu bất tận. Một chuyến bay đêm. Hai người trẻ ngồi trên thanh sắt đường ray. Trước mặt, chiếc château d’eau cao ngất, vàng vọt dưới ánh đèn. Anh nói:
- Bốn năm ra đi, khi trở về mọi sự thay đổi hết, từ cái sân ga này, đến khu xóm kia, từ những người thân yêu đến kẻ hàng xóm. Họ sống, đóng khung như những cù lao nhỏ cô độc… Họ sống, bởi nghi kỵ và tham lam.
Người con gái gục đầu trên vai anh, khóc:
- Còn em thì sao? Anh không biết, nếu khổ thì khổ những người ở lại mà thôi.
- Anh xin lỗi em. Anh hiểu tình em đối với anh. Nhưng trên quê hương chúng ta, tất cả những người con gái đều là những cô phụ vàng võ. Biết làm sao bây giờ. Chỉ có thời  gian…
Hai người yên lặng. Nguời con gái bỗng run:
- Em lạnh.
- Em mang áo ấm của anh đỡ một lát.
- Sao anh đi mãi hoài.
- Em hỏi mặt trận, súng đạn. Em hỏi tiền tuyến, em hỏi dãy Trường sơn, thì biết
Người thanh niên quay mặt lại. Nhưng anh không nhận ra khuôn mặt của người yêu. Anh chỉ nghe hơi nóng của người con gái. Anh chỉ nghe cánh tay, bờ vai mềm mại ở trên bờ vai anh. Anh kéo đầu người yêu xuống, và hôn ràn rụa vào mặt và môi nàng. Anh cắn rát môi người yêu. Người con gái rên khe khẽ, hai bàn tay bấu chặt lấy vai người nam. Các móng tay sắc cào sâu vào da anh. Đêm vẫn trôi. Cơn mưa để lại bầu thinh không lạnh lẽo. Nhà ga đã ngủ, thỉnh thoảng trên con đường từ cổng vào sân, một đốm lửa lập lòe nổi lên trong cõi đêm đen. Hai người lặng thiếp trong vòng tay siết cứng. Hai người ôm nhau, như thể lần cuối được ôm. Hai người thở hổn hển, phả hơi trên mỗi gương mặt mỗi người. Bây giờ, người con trai mới buông thả vòng tay của anh. Hình như trong cõi vắng lặng vô biên này, anh đã nghe tiếng phong hồ cầm nổi lên, lướt đi trong gió lạnh. Và một bản nhạc về một mùa thu, về một mùa lá vàng, về những tờ lịch cuốn trôi trong gió, về những quân tốt, với những nhân tình, yêu nhau, khóc với nhau trong một đêm cuối cùng. Anh cũng vậy, anh cầm chiếc cằm người yêu nâng lên:
- Em ca cho em một bài hát đi. Rồi anh sẽ ngâm cho em bài thơ khi anh còn ở trên Trường sơn, em nhé.
Người con gái nói:
- Em ca, nhưng anh đừng cười, em tặng riêng anh, để mai anh trở lại chiến trường. Nếu anh nhớ em, yêu em, nếu anh nghĩ đến em, đứa học trò bé bỏng của anh, thì anh nhớ con bé không có gì tặng anh, trừ bài ca này. Và nàng bắt đầu hát. Một bản nhạc về tình yêu ngăn cách và nỗi chờ đợi mòn mỏi đẫm đầy nước mắt: Đêm nay thu sang cùng heo may, đêm nay sương lam mờ chân mây… Biết đâu bờ bến, thuyền ơi thuyền trôi nơi đâu…
Bây giờ chỉ còn lại người thanh niên, lặng lẽ ngồi trên con đường sắt. Người thanh niên, sân ga, và bóng tối. Anh ngồi bất động mà nước mắt đầy hồn. Anh đang ở giữa một cõi chết, hay cõi quên lãng cũng nên. Xe ngựa, tiếng động cơ, con đường xuôi Nam ngược Bắc, đầy sương muối. Ạnh đã trở về vùng xóm cũ, cùng bến ga xưa. Nhưng anh không còn tìm ra được một hình bóng nào có thể an ủi được con tim trống vắng của anh. Con tàu nào, đưa mẹ anh đi.  Phương trời nào mẹ anh trốn chạy. Góc biển, chân mây nào người lận đận lao đao. Và anh nữa, cõi trời mù mịt nào để anh tìm đến, ẩn thân như một chàng ẩn sĩ, để tìm bình an sau những năm tháng nổi trôi. Quê hương nào anh trở lại để anh uống cốc cà phê, mà tuổi thanh xuân đã bỏ quên trên rừng Trường sơn cao ngất, để anh tìm lại cái hạnh phúc nhỏ nhen của một đời người trẻ tuổi. Ở đâu? ở đâu bây giờ? Trước mặt anh các toa tầu vẫn nằm yên ngủ  từ một ngày ly loạn, các đầu máy vẫn nằm lỳ trong góc tối của cơ xưởng, các con đường sắt vẫn yên lặng ngủ thiếp trong đám cỏ dại mọc lên tự do.
Còn ba anh, người xếp tàu của một thời xuôi Nam ngược Bắc, có còn xác đèn lồng mỗi buổi sáng, kiểm soát lại một chuyến đi, hay chờ đợi một chuyến đi. Của ai, của căn nhà phiền muộn.
Hoàng Xuân Sơn
Cũng chẳng
mần thơ trẹo bản họng
cũng chẳng có vần vè
chữ đòi câu nằng nặc
như cuộc đời lê thê
cứ tái mặt như là
con gà bị cắt tiết
áo cơm dù thua thiệt
cũng chẳng có gì hơn
dù có té chỏng cọng
giả chống chèo đo xem
ngắn dài khúc bỉ thử
cũng chẳng có ai thèm
Nằm trong
chăng một mẻ lưới bắt con ngươi
nằm trong con mắt của tươi cười
đâu có hề gì dăm hạt bụi
chúm miệng huê tình thổi một hơi
Gió đưa
với cây hoa cải trong chiều
với sắc vàng ảm
của điều thương tâm
điệu buồn
o ấp lá răm
nghìn thu óng kén
tơ tằm - ai se?
Hạc Thành Hoa
Đêm trăng phơi áo
Ngày mai đã hết quần áo mặc
Một bộ diện gần cả tháng nay
Ta lười trời đất còn nể mặt
Thì sá gì đôi trận gió bay…
Nhưng đêm trăng sáng trăng huyền diệu
Gác trọ lòng không bóng mây vương
Bạn vừa đi khỏi trăng vừa tới
Đem áo quần ra giặt đỡ buồn.
Dưới bóng trăng mình ta một cõi
Đất trời im vắng giấc cô miên
Bên thau quần áo cao như núi
Nỗi buồn trong dạ cũng cao thêm.
Trăng soi từng chỗ cho ta giặt
Áo quần trắng toát một màu trăng
Vò từng chiếc áo nghe tim buốt
Lòng cũng sầu theo những nếp nhăn.
Ta ngồi nhìn bọt xà bông vỡ
Mỗi bọt tan theo một phiến trăng
Tiếng của đời ai đang nức nở
Giữa tiếng đêm thu mộng xế tàn.
Bọt xà bông trắng như tuyết phủ
Vò mãi không vơi ánh trăng đầy
Đôi bàn tay của người vọc tuyết
Có chút gì lạnh lẽo đắng cay
Cố thức giặt cho xong quần áo
Ngậm ngùi vắt những ánh trăng trong
Trăng theo nước chảy về vô tận
Từng giọt trăng dư rụng xuống lòng.
Đêm nay phơi áo trên sân thượng
Phơi cả đời ta giữa quạnh hiu
Phơi cả hồn ta trong sương lạnh
Một trời trong vắt bóng trăng treo.
LAN CAO
Nào quên tình nhà
(gởi phương linh – thanh nhã)
Nhớ xưa mình được gần nhau
Chuyện thơ, chuyện bạn, đổi trao chuyện mình
Lúc buồn có lúc quang vinh
Nhưng lúc nào cũng tâm tình thiết tha
Xuân về lại viết thơ hoa
Hạ sang đón nắng thu già thưởng trăng
Giọt vui đọng chén cung Hằng
Thơ ngân âm điệu thiên đàng trần gian
Bây giờ xa cách miên man
Bốn mùa xứ lạ nào quên tình nhà
Trên đời mỗi cái trôi qua
Chỉ riêng nỗi nhớ ru già anh ơi
Lấy thơ tâm sự thay lời
Thăm nhau sức khỏe, đợi chờ phùng lai
Hôm qua còn nhớ ngày mai
Hôm nay xin viết tương lai cho đời.
Nguyễn Xuân Thiệp
Tiếng sấm
Đêm nay
anh lại nghe tiếng sấm
từ xa dội về
chuyến xe lửa. chở anh tới ga sài gòn. cách đây ngoài năm mươi năm. đã rời bến chưa. mà sao anh còn nghe còi hụ
và căn nhà ở xóm nguyễn ngọc sương. phú nhuận. nơi anh trọ học đầu tiên. còn không
còn không. chiếc xe phở. với đốm lửa khuya đầu ngõ
hình như
nhiều thập kỷ. đã trôi qua
những đám mây
thế kỷ hai mươi tàn rụng
thiên niên kỷ thứ ba đã qua cầu. với đàn chim thiên di
và tiếng sấm
đêm nay. lại dội âm u trên mái ngói
để anh nhìn thấy
mưa
những chiếc khăn. vẫy. vẫy
trên bờ sông. cạnh quán lau thưa. cây hoa gạo thả rơi từng chùm bông đỏ ối
phát ra tiếng kêu
cậu học trò năm xưa. để đầu trần lộng gió. chiều chiều đạp xe qua ngõ âm hồn
tìm nhặt những câu thơ
về đâu. về đâu
ô. những câu thơ
đã đưa anh qua chiến tranh
và tù rạc
để tới đây
đêm nay. ngồi nghe tiếng sấm
vầng trăng. nhúng đầu. trong vũng nước
cỗ xe hư nằm hoen rỉ. và mơ
cô bé đi hái lá cỏ. về cho con mèo ốm
này em
tiếng sấm
và người mặc áo tím
vẫn đi. trong mưa
hai giờ sáng
Phan Bá Thụy Dương
Bóng thời gian
biển lặng sóng nước xanh như mắt ngọc
liểu vờn bay như suối tóc người tình
cơn nắng hồng - giọt nắng mới lung linh
thuyền ai đó mái chèo khua bỡ ngỡ
ôm khổ hạnh én lần qua đất nhớ
gió về đâu
nghiêng ngã khóm phi lau
gió về đâu
mà bụi khói xôn xao
mây lờ lửng trên đỉnh trời vàng vọt
cành lá biếc
vừa đâm chồi nảy lộc
ai báo Xuân cho lau cỏ rộn ràng
nhịp trống nào xa
khoan nhặt mênh mang
nghe phảng phất bóng thời gian vời vợi.
Rải lục bát trên cao
Mây ngàn hỡi
trôi về đâu
Có nghe lời núi bạc đầu thở than
Gió ru hồn núi mơ màng
Lá khô xào xạc oanh vàng nhẹ bay
Ta sẽ về đâu chiều nay
Rừng già hiu quạnh
tháng ngày tiêu dao
Thôi thì giã biệt miền cao
Biển mê
cuồng lũ bến nào đục trong
Ai hôn mưa đọng cành thông
Ngoài hiên chim có vui mừng líu lo
Cũng đành từ tạ núi mơ
Ta nương châu thổ, sông hồ tìm vui.
Thiếu Khanh                                                                   
Với bạn 40 năm gặp lại
   
Đâu phải vì chung trái đất tròn
Hay vì chung một tuyến đời suông
Mà khi tàu đến ga đời hẹp
Mình cụng đầu nhau ở giữa đường.
Bầy chim xa trường Phan Bội Châu
Bay dài hơn bốn chục năm sau
Lượn theo hạt thóc, tìm hoa trái
Mãi đến giữa chiều mới gặp nhau!
Mặt mũi không thơ như trước nữa
Tóc râu cũng đã bụi hung rồi
Lắm người ông nội hay ông ngoại
Sao bạn nhìn ta lặng lẽ cười?
Năm tháng gấp hai lần cuộc chiến!
Người quên kẻ nhớ đứa không còn
Hỏi thăm nhau kể bao nhiêu chuyện
Lẫn chuyện đời mình chuyện các con.
Thay ly chanh đá thời đi học
Bằng tách cà phê bỏ ít đường
Câu chuyện không qua màn khói thuốc
Mà lòng man mác khói quê hương.
Cuối cuộc thiên di chim nghỉ cánh
Mùa đông đã dứt, nắng lên đầy
Biết đâu đất khách đâu quê quán
Ta đậu đời ta ở chốn này.
Nài bạn ở chơi dăm bữa đã
Vai mình đã có diễn viên sau
Tối nay ta thức khuya như trước
Trút chuyện đường dài kể với nhau.
Vĩnh Tuấn
Ta Làm Thơ Cho Nhau
Ta làm thơ trên áo
Hai vạt dài tương tư
Gió tình cờ đi vắng
Để hai tà ngẩn ngơ
Ta làm thơ gởi gió
Đem đến tặng nàng hoa
Mùa thu vàng ngập lá
Lá ngủ chờ ngày qua
Ta làm thơ chờ nắng
Nắng ởm ờ bên sông
Nắng đậu ngoài hiên vắng
Có chờ ta hay chăng?
Ta làm thơ trên tóc
Từng sợi mềm như tơ
Hôn nhau chừng bỡ ngỡ
Trên vai gầy lưa thưa
Ta làm thơ khuyên mây
Hãy chở mộng thật đầy
Thả trần gian héo úa
Với chút tình không mây
Ta làm thơ quên nhớ
Quên người quên luôn mơ
Tình đầy như hơi thở
Tình buồn như cơn mưa
Ta làm thơ yêu nhau
Cho dáng ai âu sầu
Hé nhỏ vành môi ướt
Cười  không gian nhiệm mầu
Ta làm thơ cho nhau
tình ru hồn thắm tươi
Cho nhân gian mở hội
Tình yêu kết một ngày.
Trần Bang Thạch
Bóng ngoại
1.
Khi chiếc xe buýt ra khỏi khuôn viên nhà thờ thì trời bắt đầu tối. Chiều Thứ Năm, xe buýt khởi hành hơi trễ nên xa lộ 45 đi về hướng Dallas không bị kẹt xe. May mà suốt ngày hôm nay trời nắng tốt. Những hôm trước thì mưa cả ngày. Nghe ra dô nói có cơn bão khác ở ngoài khơi vùng biển xa, đang thổi vào đất liền, sức gió rất mạnh. Chuyến hành hương nầy sẽ làm ông bà An vắng nhà mấy hôm. Bão thì bà An không sợ vì nhà ở cách biển gần năm mươi dặm; mấy lần bão lớn trước, vùng Tây Bắc của Houston này chỉ bị bão liếm sơ sơ một chút. Nhưng nếu mưa nhiều quá nước vô nhà thì nguy lắm... Giông bão sẽ làm thiệt hại khu vườn rau quả của bà. Nhưng điều làm bà An lo nhứt là lo cái dây bầu sau vườn. Mưa to, gió lớn biết dây bầu có chịu thấu hay không. Công lao của thằng cháu ngoại Tony từ mấy tháng nay đó. Tony làm cỏ, dọn đất rồi ương hột. Một cái hột nhỏ xíu bằng móng tay út của nó; dẹp lép, khô khốc vậy mà từ đâu dưới lớp đất chui lên mầm xanh, rồi lá xanh, rồi nụ, rồi bông, rồi trái…
Từ lúc thấy cái lá đầu tiên nhú lên, thằng Tony vui quá quên ăn, quên chơi. Nó nói đó là magical! Hơn 9 tuổi rồi mà có khi nào nó thấy hiện tượng này đâu. Hình như Tony lớn theo độ lớn như thổi của dây bầu. Mỗi ngày sau khi làm bài xong nó ra vườn săn sóc dây bầu, nhổ cỏ, tưới nước. Nắng che, mưa đậy. Nó không cho ai rớ tới dây bầu của nó. Nó muốn tự chăm lo sản phẩm xanh của nó vươn lên từ đất và từ công khó của nó. Nó đếm từ cái lá xanh. Đếm từ cái bông trắng. Trái bầu xanh non đầu tiên thòng xuống lỗ mắt cáo của cái giàn. Trắng xanh, nõn nà. Tony khoe với mọi người. Mỗi chiều, trước khi lên xe theo mẹ về nhà Tony không quên chạy ra vườn xoa xoa trái bầu từ giã. Nhìn cháu vui với thành quả của nó ông bà ngoại cũng thấy lòng mình rộn ràng vui theo.
Không biết có phải vì Tony cứ tới lui chăm sóc hoài nên dây bầu làm nũng, không chịu sanh thêm trái nào nữa. Trái bầu duy nhứt càng ngày càng bự, bụng phình, thân dài. Tony vui lắm. Nó coi đây như là một công trình vĩ đại mà nó chưa từng nghĩ là nó sẽ làm được. Thằng cháu vui bao nhiêu thì ông bà ngoại vui gấp chục lần.
Bà An nhớ lại câu chuyện giữa hai bà cháu mấy tháng trước. Đó là vài ngày sau khi bãi trường.
-Ngoại ơi, hè nầy ba đi làm xa, mẹ không dẫn con đi đâu hết. Ở nhà hoài, buồn chết! Chơi game thì ông ngoại không cho. Tối ngày biết làm gì đâu.
-Để ngoại tính cho con nghe. Con có muốn gởi tặng cô giáo Linda của con một tấm hình thật đẹp hông?
-Thì năm nào đi nghỉ hè xa con cũng đều gởi về cô giáo những ảnh chụp nơi con đã đi qua. Ảnh nào cũng đẹp hết. Năm nay thì chắc không có rồi!
-Ậy, con sẽ có. Tấm ảnh nầy sẽ là tấm ảnh đẹp nhứt. Ảnh chụp con đứng bên cạnh trái bầu do con trồng. Chắc chắn cô giáo con sẽ vô cùng ngạc nhiên và thán phục. Không biết chừng có người sẽ đem tấm ảnh đăng báo nữa đó con!
-Trái bầu? Trái bầu ra làm sao hả ngoại?
-Ừ, trái bầu là như vầy, như vầy nè.
Bà An dùng 2 ngón tay trỏ vẽ trong không gian trước mắt Tony hình dáng của trái bầu. Rồi bà An chậm rãi phác họa một tấm ảnh độc đáo bằng lời: Tony đứng dưới giàn bầu xanh tươi, tay nó ôm trái bầu dài cả thước, tròn, mập cỡ bắp vế của nó. Thằng Tony nghe mà chưa hình dung được hình ảnh nầy. Nó chưa thấy trái bầu lần nào. Nhưng nó lờ mờ hiểu: bà nó muốn tự nó làm ra thức ăn. Tony từng thấy bà nó đã tạo ra cả một vườn rau tươi tốt sau nhà. Nó cũng nhớ là năm ngoái bà nó trồng những dây bí rợ bò trên cỏ ở vườn sau, lá to như cái quạt, xám xanh. Chỉ qua đêm nó đã thấy những bông màu vàng, chen giữa lá, chạy dọc theo dây bí, giống như một hàng sao trời rớt xuống từ đêm qua. Rồi những trái bí màu cam xậm xuất hiện như một phép lạ. Nó biết đôi tay của bà đã làm ra những bí, những khổ qua, những cà chua, những rau, ớt, bạc hà… Các bữa ăn ở nhà ngoại lúc nào cũng có rau tươi từ khu vườn rau xanh của ngoại. Tony ăn riết rồi thành quen. Những ngày cuối tuần ở nhà ba mẹ, có lúc Tony bỗng thèm một tô canh chua bạc hà nấu với rau muống, rải lên những lát nhỏ rau ngò om, rau cần dày lá và ngò gai. Thơm ngon không chịu được! Còn canh rau đay nhơn nhớt thì lúc đầu Tony không ăn được, sau rồi cũng thèm, đâm ra ghiền.
-Ngoại ơi, con sẽ làm được. Con sẽ trồng bầu. Bầu sẽ ra trái. Con sẽ ôm trái bầu chụp hình rồi gởi cho cô Linda.
Thế là dự án bắt đầu. Bà An cũng bắt đầu dự tính những công việc sắp tới của mình. Bà tính trong những tháng hè, ông bà sẽ dạy thằng cháu học toán và tiếp tục học chữ Việt. Chữ nghĩa ông bà không nhiều nhưng cũng đủ trình độ toán lớp bốn, lớp năm. Dạy chữ Việt thì chính là nghề tay trái của bà. Mẹ thằng Tony và các cậu của nó ai cũng biết đọc và viết suông sẻ chữ Việt từ lúc mới sáu, bảy tuổi. Bà An còn tính dạy nó thuộc lòng thêm vài trăm câu ca dao tục ngữ nữa. Lại còn những bài hát tuổi thơ, phải dạy nó mới được. Hôm trước ông bà tìm mua được tập Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp đồng ấu và lớp sơ đẳng, ông bà sẽ dạy thằng cháu đọc từng bài. Hằng cháu sẽ ngạc nhiên lắm khi thấy “vườn cây biết đi” trong sách. Còn nữa, còn ông quan to Carnot ghé qua làng cũ, kính cẩn cúi chào thầy giáo cũ của mình thời tiểu học. Chắc chắn thằng cháu ngoại của bà sẽ bận rộn lắm. Ba tháng nghỉ hè tuy dài, nhưng bà An không biết có đủ để ông bà thực hiện hết những dự tính không. Nhứt là dự tính về tấm ảnh thằng Tony đứng bên trái bầu của nó.
Trời bây giờ đã tối hẳn rồi. Trong xe, những câu chuyện đã thưa dần. Ông bạn hăng say kể chuyện khắp thế giới biểu tình theo hành trình rước đuốc của thế vận hội Bắc Kinh ngồi sau lưng bà An chắc đã ngủ. Nhiều người trong xe đã bắt đầu nhắm mắt. Bên cạnh bà, ông An cũng đang lim dim. Ông tài xế nhìn phía trước, chăm chú lái, không nói một lời. Xe đi vào vùng tối trước mặt. Bà An cố ngủ một chút nhưng tự nhiên trước mắt bà hiện ra hình ảnh trái bầu xanh non treo lủng lẳng trên giàn. Rồi liền đó cơn bão ụp tới, trái bầu lắc lư trong cơn gió mạnh, oằn oại dưới mưa bão. Rồi hình ảnh giàn bầu gãy cụp, nát vụn nằm yên trên cỏ, trái bầu thì đã bay đâu mất. Bà An thấy ánh mắt buồn hiu của thằng cháu ngoại đứng một mình giữa khoảng đất trống không, dưới chân là nước ngập, trôi lềnh bềnh những cành cây gẫy, lá vụn và rác rưởi. Bà An cố nhắm mắt để xua đuổi hình ảnh ấy. Nhưng không biết sao mắt bà ráo hoảnh. Bà An biết những ngày Đại Hội Thánh Mẫu sắp tới tại Carthage sẽ rất bận rộn, nhộn nhịp, không ai có thể ngủ được. Đây không biết là lần thứ mấy ông bà An tham dự chuyến hành hương về Missouri này. Những năm trước, khi ông An còn khỏe mạnh, ông bà tự lái xe đi. Từ 3 năm nay, ông An không còn lái xe được do chứng bịnh run rẩy chân tay nên ông bà cùng đi chung xe buýt với nhiều người khác, hầu hết là già cả. Ai không biết chớ mỗi năm ông bà An nôn nóng chờ ngày hành hương này, mọi chuyện khác đều phải gác lại. Chuyến hành hương nào cũng đông vui và thật nhiều ý nghĩa.
Vui nhưng bà An không khỏi nhớ thằng cháu ngoại khi phải xa nó vài ngày. Nhớ nó rồi nhớ cơn bão sắp tới, nhớ trái bầu đong đưa trước gió. Mưa sa, bão táp có làm mất đi nỗi vui và niềm hy vọng của thằng cháu? Nói dại, một ngày nào thằng Tony rời khỏi vòng tay ông bà, những cơn mưa bão nào của dòng đời, của xã hội sẽ làm cho nó đi xa, sai đường, mất hướng? Đúng là hết lo cho con, giờ lo tới cháu! Lo cho tới chết vẫn còn lo!
Đến đây thì bà An không còn muốn suy nghĩ gì nữa, bà muốn giữ trọn niềm tin và niềm vui suốt chuyến đi. Biết mình không ngủ được nhưng bà An cũng nhắm mắt để tịnh dưỡng.
2.
Có người trong xe nghe một tiếng nổ thật to. Sau đó người ta thấy một chiếc buýt nằm nghiêng trên mép bờ con lạch dưới cầu. Hàng đoàn máy bay trực thăng và xe cấp cứu đổ tới hiện trường. Tiếng chong chóng trực thăng bành bạch. Tiếng còi cấp cứu inh ỏi. Tiếng la. Tiếng khóc. Tiếng khóc. Và tiếng khóc...
3.
Buổi học đầu tiên chấm dứt. Thằng bé thật khó khăn lắm mới tìm được chiếc buýt của nó. Từ ngày vào lớp Pre-K đến nay, đây là ngày đầu tiên nó đi học bằng school bus. Suốt bốn năm qua thì bà ngoại lái xe đưa đón nó hàng ngày. Đi học xong là về nhà ngoại, ăn uống, tắm rửa, làm bài... đợi chiều tối mẹ rước về nhà. Mọi chuyện có ngoại lo hết. Ngoại xem bài bé làm trong lớp, ngoại kiểm soát điểm hạnh kiểm, ngoại nhắc bé làm bài, nhắc bé học. Hai ngày cuối tuần thì bé không đến nhà ngoại, nó đến sân tập đá banh hay đến nhà thờ tập võ; nhiều lúc ông bà ngoại cũng đến xem, các cậu, các chú cũng đến. Sau đó cùng nhau đi nhà hàng ăn cơm tối. Gia đình vui hết sức.
Hôm nay thì mọi chuyện đã đổi khác. Thật sự thì đã có nhiều cái khác thường từ gần nửa tháng nay. Từ ngày bà ngoại bé không về nhà nữa. Xe dừng trước nhà, thằng bé uể oải bước xuống chiếc buýt vàng. Ông ngoại ngồi đợi nó ở cửa. Tay chân ông vẫn run run như mọi ngày. Chiếc băng trắng quấn quanh đầu như vành khăn tang. Ông đón bé trong vòng tay. Ông không nói với nó lời nào. Ông và bé cùng mang một nỗi buồn như nhau. Nỗi buồn quá lớn. Ông nó đã cạn hết nước mắt. Nó cũng không còn nước mắt để khóc.
Bé bước vào nhà, dừng trước ảnh bà ngoại trên bàn thờ, dưới tượng Đức Mẹ, khoanh tay cúi đầu thật thấp. Nụ cười, ánh mắt của ngoại vẫn vui như ngày nào mỗi khi bé cúi đầu chào ngoại tại cửa trường trước khi lên xe ngoại về nhà. Bé thấy ngoại quanh quẩn đâu đây. Nơi phòng khách. Nơi nhà bếp. Đâu đâu cũng có bóng ngoại. Ngoại lái xe đưa bé đi học rồi đón bé về. Ngoại với cái kiếng xệ xuống sống mũi lật từng trang bài vở của bé. Ngoại dọn cơm, bắt bé phải ăn nhiều cơm, ăn nhiều rau cải. Thấy ống quần của bé cao khỏi mắt cá chân, ngoại cười vui nói bé lớn mau như thổi, rồi ngoại mang kim chỉ ra xuống từng cái lai quần cho bé. Có lúc mê đọc sách, tới chương trình hoạt họa The Simpsons trên TV ngoại phải nhắc bé. Ngoại, ngoại là cả cái nhà nầy. Ngoại là cả cái sân trước với những hoa những kiểng. Ngoại là cả cái sân sau với rau quả, cây trái. Ngoại là cả khung trời thơ ngây ngọt ngào của bé. Ngoại là vùng trời yêu thương của bé.
Vậy mà bây giờ ngoại đã đi đâu mất. Bé đã hoàn toàn mất ngoại rồi. Mất ngoại rồi. Người ta đã chở ông bà ngoại từ Sherman tới nhà thương Parkland Memorial ở Dallas, từ phòng cứu cấp tới phòng giải phẫu. Rồi ông ngoại được đưa tới lầu 5 của Orthopedics, Rehabilitation and High Risk Pregnancy. Bà ngoại thì được trực thăng tiếp chuyển tới Baylor ICU. Từ đó thì bà ngoại đã ra đi. Xuất viện, ông ngoại về nhà, thẫn thờ như người mất trí. Có bé ở đây mà ông coi như không. Ông hay ngồi bất động hàng giờ trên sofa, mắt hướng về tượng Đức Mẹ trên vách nhà. Bé thương ông ngoại của bé quá. Càng nhìn ông ngoại, bé càng muốn khóc.
Bé bước ra vườn sau. Gần hai tuần nay bé đâu có dịp ghé đây. Bé theo cha mẹ tới các nhà thương thăm ngoại, rồi tới nhà quàn, tới thánh đường làm lễ an táng bà ngoại. Ô kìa, trước mặt bé bây giờ là một hình ảnh khó mà tưởng tượng nổi: trái bầu của bé thòng gần tới đất, da xanh màu ve chai với những đốm trắng. Bé nhớ tới tấm ảnh ngoại đã vẽ tưởng tượng trước mặt nó hôm nào: tấm ảnh bé ôm trái bầu to gởi tặng cô giáo Linda.
4.
Tony đón cô giáo Linda tại chỗ đậu xe của các giáo viên. Nó cúi đầu thật thấp chào cô Linda rồi trao cho cô cái phong bì nói là tặng cô một tấm ảnh. Năm nay cô giáo Linda không dạy Tony, đứa học trò rất giỏi và rất ngoan của cô ở lớp Hai năm trước và ở lớp Ba năm rồi. Cô Linda có nghe tin về tai nạn thảm khốc ấy và đã gởi thư chia buồn với gia đình Tony. Thầy Hiệu Trưởng cũng đã đến thánh đường dự tang lễ chung của những người quá cố trong tai nạn ở Sherman. Cô Linda đã nhiều lần gặp bà Nguyễn tại trường. Lúc đầu nghe cô giáo gọi họ Nguyễn của mình hơi khó nên bà Nguyễn nói cô cứ gọi là bà An cho dễ. Nhưng lần hồi Cô Linda và vài giáo viên khác cũng phát âm tên bà rất trúng.
Mỗi khi có những cuộc họp giữa phụ huynh và nhà trường thì đều có mặt của bà Nguyễn. Bà không nói được nhiều tiếng Anh, nhưng mỗi lời nói của bà là một đề nghị xây dựng hữu ích cho nhà trường, mỗi lời khích lệ của bà là mỗi niềm vui cho thầy cô giáo. Những khi nhà trường có lễ lạc, bà Nguyễn là người tình nguyện đầu tiên. Bà có thể làm đủ thứ việc, từ lau bàn lau ghế đến việc xếp từ lá thư bỏ vào phong bì, dán từng con tem. Nhiều thầy cô giáo khi gặp bà Nguyễn tại trường, bà chỉ cúi đầu nhỏ nhẹ nói “Thank you”, một cử chỉ biết ơn và biết quí trọng thầy cô mà hiếm khi Linda thấy trong suốt hơn 10 năm dạy học của mình. Cô Linda còn nghe nói bà Nguyễn đã đề nghị với nhà trường từ niên khóa nầy cho bà tình nguyện làm người cầm bảng STOP đứng chận xe cộ trên con lộ phía trước trường vào mỗi buổi sáng trước giờ học sinh vào lớp. Người đàn bà nhỏ nhắn mà có tấm lòng thật rộng và vô cùng cao cả. Tiếc là bà đã vội vã ra đi, để lại bao nhiêu tiếc thương cho người ở lại.
Về đến nhà cô giáo Linda cẩn thận cắt phong bì, lấy ra một tấm ảnh: Ảnh chụp bé Tony đứng dưới một giàn lá xanh, hai tay ôm ngang một trái gì có hình dáng như một cái chai khổng lồ, da xanh như ngọc thạch. Kèm theo một tấm giấy ghi mấy dòng chữ: “Trái bầu nầy là thành quả trong mấy tháng hè của con. Bà ngoại con đã dạy con làm việc nầy. Trong ảnh cô sẽ không thấy bà ngoại con đâu, nhưng con biết bà con đang đứng sau lưng con đó, thưa cô”. Mấy chữ ngắn ngủi đã làm Linda rơi nước mắt. Phải, bà Nguyễn chắc chắn là đang đứng sau lưng Tony, bà sẽ suốt đời đứng sau lưng đứa cháu ngoại cưng của bà, đứng sau lưng suốt đời nó. Linh hồn trong sáng của bà sẽ nâng đỡ Tony, dìu nó đi suốt hành trình làm người của nó. Tự dưng cô Linda cảm thấy nơi nào trong khung viên trường Klein Elementary School nầy cũng có bóng dáng người đàn bà Việt Nam thiện nguyện tuyệt vời nầy.
Cầu nguyện ơn trên cho linh hồn Anna đời đời an nghỉ trong vườn hoa Vĩnh Cửu nước Thiên Đàng.
Quan Dương
Chỉ còn ở lại đây
(Tặng four T)
Những buổi sáng lái xe đến ngã tư đèn đỏ
Câu thơ chưa tượng hình bỗng dừng lại ngang xương
Dòng cuộc sống trôi đời anh . Cứ thế
Những câu thơ luôn đứt khúc nửa chừng
Những buổi sáng lái xe đến ngã tư đèn vàng
Câu thơ ngập ngừng nửa đi, nửa ở
Con chữ choàng vài nhau đứng ngó
Không có em . Không có lối rẻ vào
Buổi sáng lái xe qua ngã tư đèn xanh
Câu thơ đuổi theo anh trên phố vắng
Dòng cuộc sống không em . Tỉnh lặng
Một ngày trôi . Cũng giống một ngày
Một ngày qua . Cho đến một ngày
Những ngã tư đã không còn bốn ngã
Đã không còn đèn xanh đèn vàng đèn đỏ
Những câu thơ có em đôi mắt sáng dẫn đường
Trong thơ anh thấp thoáng muội đi cùng
Có muội đi cùng đèn đỏ hoá đèn xanh
Những câu thơ bước qua thời đứt lững
Mặc lá ở trên cành bị thời gian chém trúng
Từng chiếc ngày chiếc tháng rụng nhau theo
Nhưng ở lại trong anh
Đáy mắt muội trong veo
Trần Kiêu Bạc
LÒNG CA KỶ
Màn khép rồi, anh có trọn vui?
Chờ cho khán giả bỏ đi rồi
Em lau son phấn ngoài sân khấu
Vãn tuồng, em chỉ có anh thôi!
CƠM TRẮNG
Chiều xuống Mẹ đem nồi vo gạo
Xả hết cám đen, gạo sạch trơn
Quê người cơm tối ngồi thương Mẹ
Nhìn cơm trắng muốt nhớ Mẹ buồn!
CHỈ MỘT NGƯỜI
Những dòng thơ tôi viết
Tưởng gởi cho nhiều người
Nhưng chắc không ai biết
Dành riêng một người thôi!
THĂM MỒ MẸ
Về thăm mồ Mẹ gió đong đưa
Mưa rớt lâm râm khoảng cuối mùa
Áo mỏng đơn sơ còn chưa ướt
Mà sao hai mắt dột đầy mưa?
GIAO THỪA NHỚ QUÊ XA
Giao thừa đón Tết quê xa
Tết xa quê giữa bao la nắng đầy
Nắng đầy, hồn lại mưa bay
Ước chi mọc cánh mà bay về nhà!
Chia tay bạn
Chia tay bạn đêm nay mình thức suốt
Mới hôm nào tay mới chạm bàn tay
Lửa chưa bén vội vàng chi lửa tắt
Mắt chưa rời mà sao mắt đã cay
Chiếc bàn con quanh đây còn nóng hổi
Chén trà đen sủi đám bọt ân tình
Đêm sắp hết giờ chia tay sẽ tới
Cây đã già lá nhớ lại lên xanh
Sao không đợi hết đêm trời trở sáng
Bạn về đâu mưa chưa hết lăn tròn
Khi trút hết nước mưa trời sẽ cạn
Riêng chúng mình tâm sự sẽ đầy hơn
Một người đi còn một người ở lại
Chỉ đêm dài không ở lại cùng ta
Gởi cho nhau tình thân chùm hoa nở
Bọt trà thơm theo đến cõi mù xa
Thôi cũng đành chia tay trong nước mắt
Cây đã già rớt lại những lộc non
Ấm trà đen lửa reo còn sủi bọt
Cạnh lòng ta trời đất ngổn ngang buồn.
Tịnh Vân
Chút tình thơ gởi Huế
Em viết bài thơ trên lá
Trao anh - về lại dòng Hương
Thả trôi giữa chiều êm ã
Bài thơ chỉ một vần “Thương”!...
Theo anh - tìm về Thiên Mụ
Nghe tiếng chuông chùa trong mưa
Để bờ vai mềm liễu rũ
Chợt thèm bàn tay đón đưa...
Ừ thôi - vờ như chẳng hẹn
Lang thang lạc bước Tràng Tiền
Để hạt mưa phùn thấm lạnh
Xao lòng... một chút tình riêng
Vờ như chúng mình đôi tám
Hò hẹn bên nhau lần đầu
Một chút ngại ngùng bẻn lẽn
Quên...dòng Hương cũng bạc đầu!
Áo bay - gì như nỗi nhớ
Đợi ai sóng mắt qua cầu
người sang bến đò Thừa Phủ
Ta về Hương Thủy, Văn Lâu...
Huế vẫn trầm tư một cõi
Huế vẫn nên thơ từ bao
Như em cũ càng men rượu
Anh say suốt đời - lạ sao!...
Mai anh lại về với Huế
Mang theo tình em ngọt ngào
Sài Gòn giữa mùa nắng trở
Thèm như dòng mưa lao xao...
Em viết bài Thơ gửi Huế
Vờ như chúng mình chưa xa
Để bao dặm ngàn cách trở
Hồ như mưa bụi...rồi qua!!!
Túy Hà
Huế cũ chiêm bao
(gởi Tịnh Vân)
Anh nhặt lá rơi trong gió
Đọc được bài thơ vần thương
Nghe như trong lòng hờn dỗi
Xôn xao sóng nước sông Hương
Cứ muốn ở đây Huế cũ
đâu cần Thiên mụ ngược đường
tiếng chuông ngân lời liễu rũ
nghe như tiếng vọng vô thường
Chợt thèm bờ môi mộng mị
một chiều nghiêng nắng Tràng tiền
từ thuở trăng em mười sáu
vai anh chưa nặng đời riêng
Áo trắng qua đò Thừa phủ
anh vào thành nội xanh rêu
nhủ lòng mai kia gặp lại
ai ngờ lạc bước liêu xiêu
Em ở bên kia hữu ngạn
tả ngạn bên anh vẫn chờ
cứ giả vờ như chưa hẹn
nên lòng cứ mãi thẩn thờ
Cứ vờ như anh lỡ bước
sông hồ xuôi ngược đường xa
cứ vờ như em chim sáo
sang sông mưa ướt chiều tà
Mặc cứ, mặc vờ, Huế vẫn
ngàn năm cô tịch trầm tư
một chút tình riêng ly hận
bao năm chưa rõ thực hư
Huế cũ dòng thơ chưa cạn
và em đã xa bến bờ
lòng người như sông Bến ngự
mưa trong, nắng đục ai ngờ.
Em vẫn như là rượu cũ
cho anh say khướt một đời
mai anh về thăm lại Huế
mang theo bài thơ xanh xao
 Vờ như chưa hề ngăn cách
chúng mình gần lắm không xa
sau cơn mưa dầm tháng giá
hồ như… nắng rực tình ta.
Mai về Huế cũ có… chờ
mai về níu lại bóng mờ em tôi.
Phan Các Chiêu Hằng
Đường Về
         Nàng nghiêng người nhìn ra bầu trời xanh ngắt bên ngoài khung cửa sổ nhỏ. Tiếng động cơ vẫn nổ đều rì rầm bên tai. Phía dưới kia, những rặng núi bắt đầu hiện rõ hình dáng. Phi cơ bắt đầu xuống thấp dần, bởi nàng có thể nhìn thấy những vách đá thẳng đứng không bị tuyết bao phủ. Nhìn thấy được cả chút màu xanh ẩn hiện đâu đó của những rừng cây thông nằm sâu trong thung lũng xa mịt mờ dưới kia, nơi lớp tuyết trắng như bông đã dần tan. Tháng bảy rồi còn gì. Nơi thành phố nàng vừa bỏ lại sau lưng, cái nắng nung người dữ dội đã bắt đầu từ mấy tháng trước. Mùa xuân và mùa hè không có biên giới nào rõ rệt. Nàng chợt nghe lòng mình quặn lên, hốt hoảng. Nàng cúi nhìn xuống đôi bàn tay của mình xếp lại nằm im thẳng thớm trên nền áo màu vỏ măng cũt tím sẫm. Chàng vẫn bảo, tính em đâu có ủ ê sầu não, mà sao quần áo cứ lựa màu buồn bã tối tăm. Chiếc nhẫn vàng trơ trụi nằm trên ngón tay áp út, thân quen như đã trở thành một bộ phận sống của cơ thể. Như tay chân. Như buồng phổi. Như trái tim. Vậy tôi đang làm gì ở đây, chiếm một chổ ngồi nhỏ nhoi khiêm nhường trong lòng phi cơ này, bay về một nơi chốn lạ? Phi cơ đang vùn vụt hướng tới trước, mà lòng tôi sao cứ giật lùi? Khung cảnh chung quanh rất đỗi bình thường. Người đàn bà bên cạnh vẫn ngủ ngon lành từ lúc phi cơ cất cánh. Đầu bà lúc ngoẹo qua bên phải, lúc ngoẹo qua bên trái, lúc lắc nhịp nhàng. Cô tiếp viên hàng không thỉnh thoảng qua ngang, ngó cười thân thiện. Vậy đó, mà sao trái tim tôi lại đập rộn ràng rối nhịp như những ngày xưa, khi bồn chồn ra vào lắng nghe tiếng chân chàng lao xao trên lối sỏi. Một thuở hẹn hò. Một thời yêu đương. Dùng chữ “một thời” chắc cũng không đúng, vì nó biểu hiệu cho những gì có bắt đầu và đoạn kết. Bắt đầu, dĩ nhiên là có. Còn đoạn kết, làm sao tôi biết được! Bởi tôi vẫn nghĩ chuyện kết thúc đã xảy ra bao năm về trước. Mà nếu thế, giờ này tôi đã chẳng ngồi đây để hồn trôi theo những tầng mây lênh đênh vô định. Rốt cuộc, có phải lâu nay tôi đã tữ lừa dối chính mình?
       Nàng chớp mắt, nghĩ tới chàng, và tự dưng mỉm cười vu vơ. Nàng nhớ tới ngọn đồi con ở gần ngôi nhà cũ. Ngôi nhà có mảnh vườn giáp mé với bìa rừng, có dàn wisteria dây leo uốn éo ngoài sân sau vẫn nở từng chùm hoa tím thơm ngát vào mùa xuân. Mỗi lần chàng ghé qua, hai đứa hay dẫn nhau lên ngọn đồi sau nhà, nằm dài ra trên cỏ nói chuyện bâng quơ. Nàng gối đầu trên cánh tay chàng, nghe tiếng chim hót, nghe tiếng gió đùa, và nghe hạnh phúc lao xao len lỏi vào từng hốc kẹt trong trái tim hồn nhiên. Hồn nhiên? ừ, thì nàng mới mười bảy, mườn tám chi đó. Mà những ngày rong ruổi lang thang trên đồi dưới suối với chàng phải vào mùa hè. Vì trời ấm, xanh, và cao ngất mấy từng không.
      Phía bên kia ngọn đồi là dòng suối nhỏ, nước trong veo, chảy róc rách không ngừng. Mùa xuân, tuyết tan, dòng suối rộn ràng linh động hơn. Mùa hè và mùa thu, nhịp nước trôi lặng lờ êm ả. Chàng nắm tay nàng đi dọc theo bên bờ, nàng tung tăng bước nhỏ, luôn co chân đá tung những hòn đá lăn lông lốc xuống ven suối, rồi cười hớn hở, hồn nhiên. Chàng gầm gừ hăm dọa:
- Em mà không hết lăng xăng, chắc anh phải đi mua sợi dây xích về cột chân em lại.
- Nàng chu môi, cười ngạo nghễ một cách dễ giận:
- Em thách đó. Anh không nghe người ta nói “when you love something, set it free...”?  Anh đòi cột em lại là làm sai sách vở hết trơn.
- Cột lại không thôi thì nói làm gì. Với em thì chắc anh còn phải... đóng chuồng. Em tuổi con gà, phải không? Gà tre hay gà ác? Em thích sửng cổ cải cọ, chắc phải là gà lôi hay gà nòi. Con gà thì bị nhốt vô chuồng là đúng quá rồi chứ còn gì nữa.
Nàng nheo nheo mắt, làm bộ suy nghĩ:
- Em nhớ hình như em bị làm khai sanh... lộn. Đúng ra là em cầm tinh con khỉ, thích leo trèo và ăn... khô bò.
- Khỉ ăn chuối chứ làm gì có chuyện khỉ ăn khô bò?
Nàng cười khúc khích:
- Đây là khỉ... thành tinh mà anh.
Mùa thu, trời trở lạnh. Nàng không mò mẫm xuống suối nữa mà chịu nằm yên ngoan ngoãn trên đồi, gối đầu lên tay chàng, dĩ nhiên, và đếm lá vàng... rơi. Khung cảnh ảm đạm làm nàng buồn đi một chút, vì thảm cỏ đã bắt đầu tàn tạ héo hon và bầu trời đùn mây thấp xám nặng màu chì. Nàng hỏi chàng:
- Anh có nhớ cái chuyện ngắn “chiếc lá cuối cùng” bằng tiếng Anh hồi ở trung học không?
Chàng cười, lắc đầu:
- Anh già quá rồi, làm sao nhớ chuyện từ thời ở trung học. Với lại hồi đó anh chỉ tới trường để được... hoãn dịch, chứ đâu phải để thu thập kiến thức. Mà truyện đó đầu đuôi như thế nào?
Nàng nhìn chàng ngờ vực, nhưng vẫn hắng giọng kể:
- Thì cái chuyện viết về một con nhỏ bị bệnh nặng, nằm chèo queo trên giường suốt ngày ngó ra ngoài cửa sổ ngắm lá rụng. Con nhỏ in trí là khi cái lá vàng cuối cùng mà rụng đi, thì nó cũng chết. Có thằng cha họa sĩ hàng xóm nghe nói vậy lấy làm tội nghiệp cho con nhỏ, nên trời lạnh căm căm mà ban đêm thằng cha cũng lén mò ra ngoài để vẽ lên tường hình mấy cái lá vàng...
- Để làm chi vậy?
Chàng ngắt ngang, làm bộ ngớ ngẩn. Nàng cau mày, suỵt suỵt:
- Đừng hỏi lộn xộn làm em mất hứng, anh sao kỳ cục quá, em đang kể ngon trớn... ờ, để coi. Thì làm như vậy để con nhỏ đó tin là cây vẫn còn lá, thì nó chưa chết. Hình như tại thằng cha họa sĩ cứ mò ra ngoài ban đêm lạnh lẽo như vậy nên cuối cùng bị cảm lạnh tới sưng phổi, hui nhị tì... End of story.
Chàng la trời:
- Hình như?... Em kể chuyện gì kỳ vậy?  Đoạn kết gay cấn vậy mà em chỉ nhớ là “hình như”?
Nàng cười:
- Ai biểu anh đi học mà không chịu để ý làm chi. Bài trả lại hết cho thầy cô. Phải chi anh nhớ, thì cần gì em kể cho nghe? Mà không nghe, đã không ấm ức bực bội la làng...
Chúa nhật, nàng lon ton theo chàng đi xem lễ vào buổi sángg. Nhà thờ cách đó không xa, chừng nửa dặm đường. Hai người đi bộ ngang qua con đường có những dãy nhà hai tầng cũ kỹ, vách ván, sơn những màu nhàn nhạt tương tự nhau. Nhà nào cũng có một khoảnh sân nhỏ trải sỏi hay trồng cỏ và vài bụi cây kiểng xác xơ, èo uột. Qua hết con đường, quẹo trái, là bầu trời như chợt đậm đà ra với màu xanh của những hàng cây khuynh diệp sừng sững cao trong công viên phía bên tay mặt. Giữa công viên là một cái hồ nhỏ xíu, nước xanh thẳm một màu rêu, luôn luôn có mấy chú vịt nhàn nhã lội bơi. Chàng trêu nàng, gọi là cái “ao tù”. Nàng sừng sộ:
- Đây là hồ... Tĩnh Tâm của người ta. Em hay ra đây ngồi ngắm mấy con vịt, mỗi lần có chuyện... suy nghĩ.
Chàng thừa biết điều đó, cũng như biết là nàng còn lẩm cẩm đến độ đặt tên cho những con vịt mà nàng... nhận diện được, nào là Vịt-cồ, Vịt-đẹt, Vịt-bầu... nên chàng bèn cười:
- Vậy sao không gọi là Hồ Vịt, nghe nó dễ hiểu hơn? Em sao mà rắc rối lắm chuyện.
Qua khỏi công viên là nhà thờ, với tường vôi trắng, nóc nhọn, và những bậc thềm đá hoa cương lấm chấm đen trắng như rắc bụi. Nàng là kẻ ngoại đạo, nhưng chăm chỉ đi nhà thờ, chăm chỉ đọc kinh làu làu một cách rất nghiêm trang thành khẩn. Nhưng không bao giờ chịu công nhận là vì chàng. Nàng lý luận:
- Em vừa đi chùa, vừa đi nhà thờ. Vừa “kính mừng Maria...” vừa “Nam mô A-di-đà...”  Em lo xa như vậy, mai mốt chết không được Chúa cứu thì em cũng được Phật độ.
- Lỡ không ai thèm ra tay nghĩa hiệp vì thấy em ... ba phải?
Nàng cười:
- Chúa, Phật đều là “người” tốt, sức mấy mà đành đoạn bỏ rơi em. Em là người nhiều đức tin lắm, anh đừng có giỡn mặt!
Chàng lắc đầu chịu thua, rồi mơ mộng chuyện tương lai xa vời:
- Mai mốt đất nước mình yên vui, anh sẽ đưa em về quê anh. Lúc đó em đỡ mất công hơn.
- Sao vậy hả anh?
- Tại vì quê anh có nhà thờ chính tòa và chùa nằm sát bên nhau, cách có cái hàng rào. Tha hồ cho em... chui rào qua lại. Gần đó lại có lò bánh mì ngon nổi tiếng lắm, nhỏ ơi. Em mê bánh mì, “nhất cử” mà tới ... “tam tiện”!
Nàng cười khúc khích, ra chiều hài lòng với viễn ảnh tương lai. Mắt chàng bắt đầu đượm vẻ mơ màng:
- Nhất định phải đưa em đến thăm trường cũ của anh nữa. Ngôi trường đẹp đẽ và ngon lành nhất nhì nước Việt Nam Cộng Hòa đấy nhé, cô nhỏ. Trong khuôn viên trường có ba con đường chính chụm đầu lại vào nhau thành hình tam giác. Anh chỉ còn nhớ có hai tên, Đỗ Mai Lộ và Hoàng Hoa Lộ. Hoàng Hoa Lộ có tên như thế là vì dọc theo con đường này người ta trồng hai hàng cây muồng đen giao ngọn vào nhau. Cây muồng đen đẹp lắm em ạ. Có lá nhỏ lăn tăn và hoa vàng nở thành từng chùm rực rỡ vào mùa hè. Trường anh có một nơi gọi là vườn cây Mẫu, trồng đủ loại cây để dùng vảo việc thực tập khảo cứu như cây sao, cây vàng tâm..., có Đại Thánh Đường uy nghi nằm cạnh hồ sen thơ mộng dùng để họp hành hay trình diễn văn nghệ. Kế đó là vườn trúc đẹp tuyệt vời như trong tranh vẽ. Rồi anh sẽ đưa em qua cầu Trắng về phố chợ, đi uống cà phê và thưởng thức nhạc tình ở quán Ngọc Loan hay quán Anh Đào nằm bên bờ hồ. Ngày còn đi học thì bọn anh thích quán Anh Đào. Vào lính rồi, khi về phép thì anh mới có... can đảm để ghé quán Ngọc Loan. Mà chắc phải mình nên đi quán Ngọc Loan, em ạ, cho em có dịp ăn thử thịt... chó.
Nàng xanh mặt, kêu lên:
- Ghê! Quê của anh sao khủng khiếp vậy? Toàn dân... nhậu không hả? Quán thì bán thịt chó. Trường thì có đường tên Mai-Quế-Lộ.
Chàng nhăn mặt, sửa sai:
- Đỗ Mai Lộ, cô nhỏ ơi. Gì mà có Mai-Quế-Lộ trong đó! Ghê vậy thì thôi, không thèm dẫn em đi xem đồi trà hay đồn điền cả phê. Cho người quê mùa lục tỉnh khỏi có dịp nhìn hoa cà phê trắng...
Nàng xuống nước năn nỉ. Thôi nói cho em nghe về vườn trà với hoa cà phê đi. Kể cho em nghe về tháng ngày tuổi nhỏ khi anh theo mẹ đi hái trà trên những nương đồi chập chùng xanh ngắt. Tả làm sao cho em có thể hình dung được màu lục mơn mởn tươi tắn củ những đọt trà non vừa hái, những đọt trà chớm nẩy mầm với hai chiếc lá con bé xíu dễ thương khi mùa mưa tìm về làm đục mờ bầu trời cao nguyên bụi đỏ. Anh nói thêm cho em biết về những nụ hoa trà dại màu trắng điểm chấm tim tím nhỏ xíu mà bãng lãng mùi hương thơm ngát núi rừng. Những cảnh đó nghe thơ mộng hơn quán Ngọc Loan bán thịt chó của anh nhiều... Nàng thủ thỉ bên tai chàng, mắt sáng long lanh mở lớn đợi chờ.
      Mùa đông về mang theo tuyết trắng phủ kín ngọn đồi và dòng suối sau nhà. Những chú vịt lang bạt ngoài hồ Tĩnh Tâm của nàng cũng biến đi đâu mất. Nàng không còn lang thang giang hồ vặt được nên dặn dò chàng:
- Anh đem mấy cái áo thun lại đây. Bây giờ em rảnh rồi. Em sẽ “trang trí” mấy cái áo cho anh, chớ áo gì chỉ có một màu nhìn hoài chán chết.
      Chàng hốt hoảng:
- Em định vẽ gì lên đó? Em biết anh bị... dị ứng với hoa cỏ, thú vật, chim muông, mặt người kỳ dị...
- Anh đừng lo. Em chỉ vẽ hình lập thể và trừu tượng...
      Chàng ngẩn người, không biết có nên tin lời nàng? Nhưng cãi làm chi cho mất vui. Vài cái áo thun mà đánh đổi một nụ cười. Mười đầu ngón tay của nàng có đến chín cái xoắn ốc “hoa tay”. Nàng vẽ vời rất khá, chàng biết điều đó, nhưng thà mất lòng trước, được lòng sau, nên chàng cẩn thận giao hẹn:
- Đừng cho màu gì nhiều "nữ tính" quá, nhớ nghe em...
      Vẽ xong mấy cái áo được chàng gật gù khen thưởng nhiệt tình, nàng cười vui hớn hở. Mùa đông vẫn chưa qua hết. Nàng nhắc nhở:
- Hôm trước anh nói mới thâu một đống băng nhạc mới, muốn em kẻ chữ đề tựa. Lần tới anh nhớ mang lại. Bảo đãm không đẹp là không tính tiền.
Rồi nàng đề nghị:
- Hay là em may áo chemise cho anh nghe? Anh vẫn muốn có cái áo màu đen phải không?
Chàng lắc đầu phục lăn mớ tài vặt của nàng:
- Em biết may nữa?
Nàng tỉnh bơ:
- Em chưa may quần áo lần nào, nhưng thấy cũng dễ. Anh kiếm cái áo cũ cũ, đưa cho em tháo ra làm ni. Cái đó là quan trọng nhứt. Có ni rồi, cứ may cho mấy miếng vải rời dính lại... thành chùm với nhau chớ có khó khăn gì đâu?
      Hai tuần sau, nàng khoe với chàng công trình vĩ đại của mình. Cái áo chemise đen nhìn cũng y như thật. Đường may thẳng. Cổ đứng. Nút đơm... cùng một bên. Nhưng rộng thùng thình. Nàng ngượng ngập giải thích:
- Em thấy cái áo anh đưa làm ni sao coi ốm nhom ốm nhách. Em nghĩ là anh phải mập hơn nên nới thêm cho anh vài phân.
Rồi phụng phịu:
- Em còn thêu tên hai đứa lên cổ áo. Thêu bằng chỉ đỏ đàng hoàng cho nó nổi. Chưa nghe anh khen tiếng nào!
      Chàng vạch cổ áo ra ngắm nghía tên mình và tên nàng nằm cạnh bên nhau, trông có vẻ rất là chung sống hòa bình. Chàng mỉm cười, lòng chợt ấm áp không đâu. Vây mà em vẫn chưa thèm nói tiếng yêu ta. Quả là con người bướng bỉnh cứng đầu.
      Ngày cưới, nàng làm bộ điệu hạnh, eo xèo một chút như trong bài hát. “khóc như cô thiếu nữ lúc bước đi về nhà chồng. Phút xe hoa khép kính tiễn nét trăng độ vừa tròn...”  Chàng an ủi vỗ về:
- Bây giờ thì em luôn luôn có anh trong đời, home is where your heart is.
Nàng khóc nhiều hơn một chút nữa, thổn thức:
- Nhưng mà em còn nhỏ quá, em đâu có biết làm dâu. Hồi đó tới giờ má đâu có bắt em làm công chuyện nhà gì đâu. Em chỉ mới biết “dọc mùng” là cây bạc hà. Cái “môi” là cái dá múc canh.
Chàng kêu trời:
- Vậy sao em nhận lời lấy anh bây giờ. Mình chờ thêm vài năm nữa cũng đâu có sao.
Nàng lau vội nước mắt, nhìn chàng cười ngỏn ngoẻn:
- Nhưng mà em thích ở bên cạnh anh suốt ngày đêm, hết năm này qua năm nọ. Chờ lâu, phát mệt. Lỡ cô nào nhào vô là em... lúa.
      Tuần trăng mật ở miền biển là chuỗi ngày đẹp như trong truyện thần thoại hoang đường. Tháng bảy là mùa thiên đường của nắng hồng, trời xanh và mây trắng. Tháng bảy quay cuồng mê đắm của những tấu khúc hân hoan. Màu cát trắng chói lòa như bốc hơi trong nắng nhiệt đới, bãi biển cạn với con dốc thật lài, chạy mãi tuốt ngoài khơi tít tắp. Hai người kéo nhau đi miết ra xa, khi không còn mấy ai quanh mình. Nàng ngụp lặn đùa giỡn theo nhịp sóng đẩy đưa, hai bàn tay mềm quấn quít bám siết trên vai chàng, trôi tuột xuống miền bụng phẳng phiu, tiếng cười nàng dòn tan như thủy tinh vỡ. Những giọt nước biển trong vắt mặn mà đẫm ướt mắt môi. Những nụ hôn nồng nàn cuống quít. Chàng thì thầm bên tai nàng, lời rì rào êm ái như gió đùa trên sóng. Nhỏ ơi, ta yêu em. Anh yêu em. Và nàng lại cười. Nụ cười tươi long lanh hạnh phúc. Buổi tối, trên balcon hiu hiu gió thoảng thơm ngát mùi hương ngọc lan, nàng nằm khoanh ngoan ngoãn trong vòng tay ấm áp của chàng, mặt hướng về biển tối mịt mờ ngoài xa. Hai người cùng im lặng lắng nghe những xúc cảm dịu dàng trôi nổi lênh đênh trên miền thịt da êm ái. Tiếng sóng vỗ về thì thầm lẫn trong tiếng những tàu lá dừa xào xạc đong đưa trong gió. Rồi chàng đưa tay chỉ bâng quơ ra ngoài trời bao la, thì thào với nàng:
- Em có thấy không? Có thấy là anh mang dâng tặng nguyên cả một bầu trời rộng và một góc biển riêng tư cho em để dành làm chút gia tài yêu thương cho ngày sau?...
       Nàng hay nhớ lại những ngày tháng đó trong những lần ngồi chờ chàng về trước mâm cơm đã nguội lạnh. Nước mắt rơi xuống cũng mặn như nước biển năm nào, nhưng cõi trời xưa đã khép và lời biển xưa đã im lìm. Bầu trời xanh bao la giờ thu lại trong căn nhà nhỏ, chỉ chứa đủ những bước chân loanh quanh buồn bã của nàng. Bước âm thầm của những đêm lui tới ngóng chờ chàng về. Bước hối hả chạy đi lấy chiếc thau con để cho chàng ụa mửa thốc tháo trong cơn say. Bước nhẫn nhục đi tìm cái khăn ướt để lau mặt cho chàng tỉnh táo, pha cho chàng một ly nước chanh ít đường chua đến gắt cổ, se môi. Nước mắt nàng lại đầm đìa rơi xuống. Vài giọt lẻ loi đọng lại trên mặt chàng. Khuôn mặt xương với triền mũi thẳng và đôi mắt chan chứa yêu thương đã cuốn hút trái tim nàng năm nào. Đôi mắt giờ hằng những đường gân máu đỏ chạy dọc ngang như những vết chém thảng thốt gạch nát trên mảnh hồn buốt lạnh tê điếng của nàng.
      Ngày hai người ly thân, người chị chồng tốt bụng đã an ủi:
- Thôi cũng may cho em. Nếu hai đứa có con với nhau thì còn khổ thêm. Ít nhất như vầy em còn rảnh tay tạo lập lại cuộc đời.
Bà cô ruột thì chép miệng:
- Phước đức đó, con ơi. Bỏ được cái thằng rượu chè say sưa như vậy là tốt lắm rồi. Tiếc làm chi...
       Nàng dọn vào căn apartment một mình. Vừa loay hoay sắp xếp đồ đạc, vừa cố gắng... đếm những cái “may mắn” và “phước đức” của mình mà hình như những người chung quanh ai ai cũng nhận diện thật dễ dàng. Vậy mà sao nàng chỉ nhìn thấy thảm cỏ xanh trên đỉnh đồi con và dòng suối nhỏ hiền hòa sau ngôi nhà thời con gái. Khu rừng bạch dương với những thân cây màu trắng bạc điểm lấm tấm lá vàng vào mùa thu. Những con đường nhỏ đã tay đan tay đi qua cùng chàng. Những chuyến xe bus đã thả chàng xuống góc đường ở cuối ngõ nhà nàng. Những đêm trăng bàng bạc trải lụa ngà trên chăn chiếu thơm tho, tắm đẫm nồng nàn trên môi mắt. Sao trong tận cùng những góc thẳm của vòm trời ký ức, nàng chỉ nhớ được màu trùng dương xanh biếc và tiếng sóng rì rào thiết tha réo gọi. Và chỉ biết là từ đây và mãi mãi về sau, sẽ không bao giờ còn nữa những buổi sáng vừa mơ màng thức giấc, nằm khoanh tròn lười lĩnh trong vòng tay chàng ấp ủ, cùng lặn nhìn dòng nắng vàng rực rỡ hay những bông tuyết trắng xóa bay ngập trời phía bên kia vuông cửa sổ của một thời đằm ấm yêu thương.
      Có đôi lần nàng nhìn thấy trong chiêm bao cảnh tượng này. Những bước chân nôn nao cuống quít trong lòng con đường hầm nối liền cửa phi cơ và tòa nhà. Nàng hiện ra ở cuối con đường hầm đó, bỡ ngỡ ngó quanh tìm kiếm. Và nhìn thấy chàng. Vẫn dáng cao và gầy. Cũng trong chiêm bao, chàng đứng tựa lưng bên cạnh bức tường ngăn bằng kiếng, cạnh gốc dừa kiểng thưa lá cao lêu khêu, bồn chồn đợi chờ. Chàng mặc quần xanh olive, màu nàng vẫn thích, áo chemise màu rêu nhạt lấm tấm những hình vuông tròn lẫn lộn nhỏ xíu màu đen và cà phê sữa. Giấc mơ luôn luôn nằm vào thời điểm của một ngày mùa đông. Nên chàng mặc thêm áo len dầy, sợi nhỏ đan vào nhau quấn quít, màu cặn rượu đậm đà. Trên vai chàng khoác hững hờ cái áo da màu đen. Nàng hơi hụt hẫng một chút, nhớ đến khu rừng và ngọn đồi ngày cũ, nơi đã bao nhiêu lần nàng nhìn thấy chàng trong áo khoác mùa đông màu đỏ ấm áp. Màu của lửa ngọn nồng nàn. Nhưng trong chiêm bao, rõ ràng chiếc áo da khoác trên vai chàng có màu đen tuyền, mịn màng, trơn láng, đã kề sát môi má nàng khi vòng tay chàng khép chặt quanh thân. Rồi hai đứa lơi tay ra để nhìn nhau cười nhẹ, nụ cười ngượng ngập, ấm áp... Nàng nhìn qua vai chàng, bên kia bức tường kiếng là phi đạo trải dài hun hút. Xa xa nữa là những núi đồi chập chùng tuyết phủ. Nàng nhớ lời chàng vẫn hát vào mùa hè năm xưa. “Rước em lên đồi, cỏ hoa ngập lối...”
      Nhưng đó là trong chiêm bao. Giờ nàng đứng đây, ở cuối con đường hầm, đối diện với bức tường kiếng trong vắt cao sững sờ. Dĩ nhiên là chàng không có đó để đợi chờ, vì làm sao chàng biết được là nàng đang có mặt trong thành phố này, dù những lời nhắn gửi đã ngân vang bao lần trong đầu nàng. Em đã đến. Cuối cùng, em đã tìm đến đây, dù chỉ trong khoảnh khắc đủ để nhìn nhau rưng rưng ngậm ngùi. Nhưng có vội vàng ngắn ngủi đến đâu thì cũng là một câu trả lời mà anh thấu hiểu, phải không? Trước đây, bao lần chàng hỏi. Chưa bao giờ nàng hứa hẹn điều gì, mà chỉ lẳng lặng thở dài. Gặp nhau chi nữa, chỉ làm rối rắm đời nhau thôi anh. Chàng buồn rầu. Vậy mà có lần em nói khi đã chấn chỉnh lại đời mình thì anh cứ cất lời gọi tên, thì dù bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, em cũng sẽ quay về... Nàng im lặng, không biết trả lời sao với chàng. Không lẽ đổ thừa tại... định mệnh đã an bài, nên chuyện đôi lứa sum vầy thôi đành... hẹn kiếp sau? Hay nhắc nhở cho chàng biết, là em đâu có hứa dù đang “bất cứ với ai”, em cũng sẽ tìm về...
      Lúc đứng chờ lấy xe, nàng sờ tay lên chiếc nhẫn vàng trơn, xoay xoay. Giờ này chắc chồng nàng đang chúi đầu vào chồng giấy tờ ở văn phòng, hay bận rộn trong buổi họp nào đó. Lảm sao biết được nàng đang đứng giữa thành phố lạ lẫm này, cách xa bao dặm đường và hàng hàng lớp lớp những dãy núi đồi chập chùng cao vòi vọi, đang lao đao lặn ngụp trong cõi mù sương vây khốn của riêng nàng? Nàng lục lọi trong sắc tay, kéo ra tấm bản đồ thành phố và mẩu giấy nhỏ ghi nguệch ngoạc số điện thoại và địa chỉ. Tên đường cũng là một con số. Con số đon cao nhất. Nàng mỉm cười, có thể hình dung ra được nụ cười nửa miệng tếu tếu trên khuôn mặt chàng. Đại loại, chàng có thể giễu một câu như:
- Chín nút, chưa bù. Dấu hiệu tốt. Em có thấy là đời anh luôn gặp may mắn không?
Bình thường, chắc nàng cũng “phang” cho chàng một câu:
- Cái đó còn tùy anh đang chơi bài gì. Chín nút hay chỉ là ngầm chín. Bù hay được ngầu hầm.
- Đường vào thành phố trơ trọi không một bóng cây. Hai bên là cánh đồng cỏ khô cháy vàng hoe như màu lúa chín, chạy dài ngút mắt. Rồi nối theo là những cơ xưởng, hàng quán, nhà phố. Cái nào cũng cũ kỹ với màu sắc ảm đạm như nhau. Khung cảnh đìu hiu buồn tẻ như những ý nghĩ chập chùng trong đầu nàng. Nàng rời xa lộ, rẽ vào con đường thẳng tắp hướng về miền Nam, chạy một đỗi xa. Những bảng tên đường mang số xuống thấp dần. Lại trở ngược về hướng đông. Những tên đường bây giờ hoàn toàn là tên của cây cối. Nàng cố tình tạo sự bận rộn cho trí óc mình bằng cách nghĩ vẩn vơ. Cái ủy ban, hội đồng nào đặt tên đường cho thành phố này đúng là nơi tụ họp của một nhóm người kém trí tưởng tượng và lười suy nghĩ. Số? tha hồ mà đếm. Cây?  có cả một tự điển đầy. Cứ tự do tiếp tục xây cất, phá núi, mở đường. Nhảy thêm một con số, cộng thêm tên một loại cây, rồi thì nhét vào North, South, East, West là xong. Tiện việc sổ sách trăm bề.
      Lúc đi những bước cuối cùng về hướng cửa bệnh viện, nàng mới bắt đầu cảm thấy hai chân mình run rẩy, luống cuống. Toàn thân nàng như chợt hóa băng, rờn rợn, lạnh toát. Nàng nhớ đến cú điện thoại bất ngờ chiều qua. Tiếng chuông vang rền lạnh lẽo như cứa mạnh vào không khí tĩnh mịch của ngôi nhà yên ắng. Nàng đang chuẩn bị làm cơm chiều, thì thà rau cải bày biện đầy trên mặt bàn. Giọng nói của người nữ y tá ngọt ngào, mềm mỏng. “Trước khi được đưa vào phòng mổ, ông ấy đã đọc số điện thoại và nhờ tôi làm giùm một đặc ân là tìm cách báo tin cho bà. Thương tích của ông có phần trầm trọng. Nếu được, chắc bà cũng nên cố gắng đến thăm một lần. Tôi chỉ dám đoán chừng bà là người quan trọng đối với ông ấy, dựa theo cách ông nhắc nhở dặn dò tôi mấy lần... “Nàng định hỏi, còn bà ấy đã biết tin chưa, nhưng kịp ngưng ngang. Dĩ nhiên là bà ấy phải được báo tin. Không biết vô tình hay cố ý mà đôi khi nàng vẫn quên đi cái chi tiết quan trọng đó, là chàng đã “đi thêm bước nửa”, cũng như nàng.
      May là chồng nàng không có ở đó. Nên ít nhất nàng đã có được những giây phút riêng tư cần thiết để ngồi yên bàng hoàng với những cơn khóc run vai. Nàng thu người trong lòng ghế, chập chờn tưởng nhớ. Đã bao năm rồi hai người không gặp lại nhau. Mối liên lạc duy nhất là những cú điện thoại không hẹn trước vẫn làm nàng thẫn thờ luôn mấy ngày sau đó. Tại sao vẫn chia sẻ với em những biến cố, vẫn kể lể cho em nghe những vui buồn. Nàng hỏi. Chàng mềm giọng. Bởi vì nhìn quanh quất lại trong đời, em vẫn là một trong số người rất hiếm hoi đã thương yêu anh vô điều kiện mà anh luôn luôn có thể đặt trọn vẹn niềm tin. Chuyện anh đã vụng về để vuột mất em cũng đâu có thay đổi được những thứ tình cảm đó. Những lỗi lầm em đã tha thứ, phải không?... Khi dọn dẹp xong buổi ăn tối với chồng, nàng đã biết rằng sáng hôm sau, bằng mọi cách, nàng cũng sẽ ra phi trường để bay về thành phố của chàng. Nàng phải nhìn thấy chàng, dù chỉ một lần này thôi.
       Nàng bước vào trong diện tích hẹp của những khung cửa kiếng tự động xoay vòng, đặt chân vào khu vực tiếp tân của bệnh viện. Nàng dừng lại một chút trước tấm bảng chỉ dẩn hướng đi đến thang máy. Hành lang dài thẳng tắp. Tường sơn màu xanh da trời dịu mắt, kẻ những đường vân màu vỏ trứng gà nhu nhã. Sàn gạch trắng được chùi lau cẩn thận, bóng loáng dưới ánh sáng của những hộp đèn từ trần nhà tỏa xuống lạnh lẽo.
       Nàng ghé lại bàn của y tá trực. Vài người đang chụm đầu xì xào nói chuyện. Người nữ y tá có mái tóc vàng óng ả ngẩng đầu lên nhìn nàng, đôi mắt xanh biếc mở tròn, chờ đợi. Tự dưng nàng thấy lòng nhẹ nhõm khi nhận ra bảng tên trên ngực áo của cô là tên người đã điện thoại cho mình chiều qua. Nàng nở nụ cười ấm áp, tự giới thiệu mình. Cám ơn cô đã chịu khó báo tin chiều qua. Giờ thì tôi bằng xương bằng thịt đây. Vâng, tôi đã vội vàng đến bằng chuyến bay rời thành phố sớm nhất buổi sáng này. Mua được vé vào giờ chót trong mùa thiên hạ nghỉ hè du lịch đông đảo như vầy là tôi may mắn quá, phải không cô?  Bây giờ thì xin cô làm ơn cho tôi biết số phòng của anh ấy.
      Nàng thấy mấy cặp mắt hốt nhiên cùng quay lại một lúc, nhìn nàng đăm đăm thảng thốt. Những khóe nhìn đọng vũng xót thương.
Nguyễn Lương Vỵ
 TUYỆT MÙ ĐỊA TẬN
(Tặng các em tôi
Và một trời thiếu niên lãng đãng…)
1.
Đêm ngồi trông tuyệt mù địa tận
Ngơ ngác một mình lạnh thấu xương
Thở ra câu thơ mờ trong sương
Hít vào vũ trụ lung linh hát
Ba ngàn bông tái sinh kiếp khác
Ba ngàn đời lông bay quá xanh
Ba ngàn nguyệt rụng máu quá tanh
Ba ngàn âm chìm hương cố thổ
Đêm ngồi im không quên không nhớ
Núm hồng em nở đóa mộng đầu
Giọng hài nhi ré trong mưa sâu
Chim hót đầy trong chiều nắng cạn
Một chấm đỏ đỉnh ngày vô hạn
Một hạt huyền đáy khuya vô chung
Một tiếng gầm tịch mịch vừa rung
Một tiếng than ai vừa chạm khẽ…
2.
Đêm ngồi im gặp mình lặng lẽ
Âm vút lên xé cụm mây vàng
Mây như lụa hư không lang thang
Rồi tan biến giữa hàng mộ gió
Ta gọi mình trúc tre đầu ngõ
Lóng xương mây xanh quá ngất ngây
Trời niên thiếu quá nhiều chim bay
Âm xanh mượt rụng đầy mái tóc
Đêm ngồi im đất trồi lên khóc
Âm xanh câm bén gót đại ngàn
Trời niên thiếu hiểu rồi tan hoang
Chiếc bình vôi trở mình trong miểu
Mình gọi ta rừng lau chết yểu
Tội cho viên sỏi nhỏ mồ côi
Tội cho con suối khô nhớ đồi
Tội cho mình với ta đối bóng…
Võ Thạnh Văn
Bài thơ nhập mộng
Ta dựng lều bên suối
Làm thơ tình liêu trai
Gọi em từ tiền kiếp
Xin dời gót thiên nhai
Đợi em về nhập mộng
Ta kết vần liêu trai
Sương rơi che cửa động
Tưởng lạc dấu tàn phai
Ngai vàng còn bỏ ngỏ
Chờ em về đăng quang
Tượng thần buồn thống khổ
Bụi nhàu ố thời gian
Bên triền chênh vênh đá
Ta đẽo làm thạch am
Dệt khổ thơ khai phá
Nghìn năm sáng trăng rằm
Đợi em về nhập thất
Ta gieo vần liêu trai
Ngoài trời mưa lất phất
Trong hang lời kinh sai
Mượn mây chiều thuở nọ
Trộn ráng chiều lụa thưa
Thắp nến hồng cháy đỏ
Thỉnh em ghé truyền thừa
Ta đọc kinh nhật tụng
Trì niệm lời yêu ma
Sơn đầu băng tuyết rụng
Trang thơ rớt bão nhòa
Võ Thị Điềm Đạm
Dấn Thân
Vào Miền Tuyết Lạnh
 ... Cậu con trai duy nhất của ông bà lãnh trách nhiệm làm tròn ước mơ lớn nhất đời người của ba mẹ cũng như đa số người Na Uy. May mắn cho cậu quí tử này là cô vợ chẳng quan tâm gì đến cái chuyện sẽ tậu nhà nghỉ mát ở miền biển, miền suôi cạnh sông hồ hay miền núi cao. Cô nàng càng không có cơ hội dành tới dành lui với chồng để cất nhà nghỉ mát gần quê quán mình như ông nội bà nội của lũ con. Bởi một lẽ đương nhiên là quê cô nàng ở tận Việt Nam, chứ không phải cô nàng hiền lành lắm đâu mà khen là: Đi đâu cho thiếp theo cùng, đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp theo.
Lấy nhau mới được sáu năm, nợ nhà còn chồng chất, chưa có khả năng đi du lịch nước ngoài, thế mà Thanh ngờ nghệch nghe lời dụ ngon dỗ ngọt của chồng, thấm lời tán tới tán lui của ông bà nội, Thanh gật đầu ký giấy nợ thứ hai, giấy nợ mua “đồ chơi”. Thanh còn vớt vát ra điều kiện, như để chứng tỏ cái quyền làm người bạn đường của mình: “Anh phải tự lo mọi chuyện, lo luôn cả mọi chi phí có liên hệ đến căn nhà nghỉ mát này. Nội cái chuyện lo cho anh cho con, em cũng đủ mỏi rồi, em không rảnh rang đâu mà chung vai gánh vác với anh ba cái chuyện ăn chơi này”. Tưởng gì, chuyện này dễ ợt, anh chồng gật đầu cái rụp. Thanh bị lừa, chính mình lừa mình. Với cái tính năng động, mau mắn và hay “tranh quyền”, dễ gì Thanh chịu ngồi chơi, gác cẳng lên ghế đẩu đọc báo để anh chồng lo lắng, quyết định mọi chuyện ngay trước mắt mình. Và anh chồng cũng quên luôn lời hứa, hay tảng lờ, hay quen tánh, chuyện gì có liên quan đến “món đồ chơi” này, anh cũng hỏi ý vợ, cũng rủ vợ đi mua sắm, cũng nhờ vợ xăn tay áo phụ. Thế là bản hợp đồng không văn bản, không chữ ký bay theo mây khói trong khi cô vợ tưởng mình khôn ngoan, không chút vấn vương. Thật ra thì... Chẳng giậm thì thuyền chẳng đi. Giậm ra nát ván, thuyền thì long đanh. Đôi ta lên thác xuống ghềnh. Em ra đứng mũi cho anh chịu sào.
Kỳ lễ Phục Sinh, năm đứa con đầu lòng chưa thôi nôi, đến phiên Eirik được sở làm “tặng” một tuần tự do xử dụng một trong những nhà nghỉ mát cho nhân viên. Đã quen theo chồng đi chơi miền núi từ cái thửa duyên tình mới thấm, chuyện đem đứa con gái chưa biết đi lên miền núi vào mùa tuyết lạnh, đối với Thanh không có gì trở ngại. Với một cái “nôi” bọc kính cách nhiệt, để con bé nằm êm ấm trong hai lớp mền lông cừu trắng tinh, Eirik kéo, mang con đi khắp vùng núi đồi trùng điệp và Thanh ráng đuổi theo phía sau. Cái nôi hình bầu dục thon dài cỡ một mét, rộng sáu mươi centimet, lớp nhôm cứng cách nhiệt bao mọi bề, cái nắp bằng nhựa trong cứng, mở chỉ một nửa, lớp đệm dầy lót lưng... mọi thứ, hội đủ điều kiện để làm an lòng bậc cha mẹ muốn đem theo con nhỏ trong những chuyến đi ski miền núi. Hai bên “cái nôi” là hai cần nhôm dài độ ba mét, đường kính hai centimet. Ở đầu kia, một bảng dây nịt da dầy nối hai cần nhôm dài, đeo vào bụng người kéo. Trợt đôi ski phía sau để canh chừng con bé hầu như lúc nào cũng ngủ mê mang trong cái khí lành lạnh trong sạch, trên lớp tuyết như tấm mền nhung khổng lồ trắng toát, nhìn Eirik kéo “cái nôi” lên dốc, xuống dốc, lách cây thông này, cua quẹo đường kia, Thanh cười thầm: không khác gì cảnh người phu kéo xe ngày xưa, nhưng coi bộ nhẹ nhàng uyển chuyển, không vướng víu chi cả, còn đi nhanh hơn mình nữa. Đã sinh ra kiếp làm trai. Đèo cao núi thẩm, sông dài quản chi!
Sau kỳ lễ Phục Sinh đó, Eirik mê vùng núi này, vùng núi nằm giữa Valdres và Hallingdal, vùng núi tuyết thênh thang trùng điệp, chưa bị loài người mon men tới cất nhà nghỉ mát nhiều. Eirik xây mộng vàng. Để tâm, âm thầm theo dõi thị trường “nhà nghỉ mát”, mấy năm trời, đến khi đứa con gái thứ hai được bốn tuổi, vùng núi Fledda với độ cao 1000 mét được tung ra thị trường, 18 khu đất được phép cất nhà nghỉ mát. Eirik bắt đầu thổ lộ với vợ giấc mộng vàng của mình, thổ lộ một cách có kế hoạch, đưa vợ vào con đường hoa thơm bóng mát bằng cách lựa đúng thời đúng lúc, ngày chủ nhật. Nịnh vợ chuyện này, giúp vợ chuyện kia, chịu khó hỏi vợ thích xem chương trình TV nào tối nay (chuyện này năm khi mười họa, thường thì Thanh phải thừa cơ hội thủ cái TV-remode để không cho Eirik coi đá banh cuối tuần, dễ gì!), mời vợ dĩa hột đào rang thơm bên cạnh ly bia nhẹ... Và cô vợ dầu đường đời đã dài nhưng lòng vẫn còn non dạ vẫn còn dại, lắng tai nghe, nào là: đây là khung trời con gái thứ hai của mình được thành hình, em nhớ không, tính cho đúng ngày đi. Trẻ con được sống hòa đồng với thiên nhiên từ thủa nhỏ sẽ yêu thích cây cỏ thú vật, đời sống sẽ phong phú, biết coi trọng những giá trị của đất trời ban cho. Cơ thể trẻ con phát triển nhanh mạnh khi được hít thở không khí trong lành, chạy chơi thoải mái, vận động hết năng lực đang lớn, làm giàu trí tưởng tượng, óc sáng tạo. Giá nhà nghỉ mát không bao giờ xuống. Xe đậu chỉ cách nhà có hai trăm mét, không phải đi bộ xa như đa số các nhà nghỉ mát miền núi. Mình có thể thay đổi cách thức sắp xếp phòng trong nhà theo ý, có thể lựa chọn nhà lớn nhỏ theo ruột tượng. Thí dụ như chỉ năm mươi mét vuông mà có được hai phòng ngủ là kiến trúc sư giỏi lắm đó. Thời đại tân tiến, cầu tiêu khô nằm trong nhà chứ không phải cách xa nhà cả mười mét như các nhà nghỉ mát đã cất từ lâu. Hệ thống ga để nấu nướng, nấu nước nóng, chạy tủ lạnh. Hệ thống dùng năng lượng mặt trời cho đèn đuốc, TV, radio. Tuần tới mình lên coi địa thế, lựa chọn, ai quyết định trước, người đó được lựa chỗ trước. Chỉ cần ba giờ vừa lái xe vừa nghỉ ngơi là mình tới nơi, không phải qua phà, không phải xuống đường hầm nào hết. Anh đã tính đâu ra đó, không sợ đổ nợ, ông bà nội sẽ dùng căn nhà của ông bà để bảo đảm cho mình mượn tiền nên giá tiền lời thấp. Mình thực hiện được giấc mơ của ông bà nội... ha... ha... con hơn cha là nhà có phước.
Trở lại cái “dại khờ” Thanh gán cho chồng cũng như đa số người Na Uy khi tậu nhà nghỉ mát là: Với đầu óc tự khen là mình giỏi tính toán, Thanh vạch cho Eirik thấy rằng nếu tính tất cả những chi phí, cộng tiền lời nhà băng, cái giá dùng nhà nghỉ mát mỗi ngày bằng tiền ở khách sạn. Lỗ nữa chớ, vì mình phải tự làm giường, tự lau nhà, tự dọn dẹp. Có nhà nghỉ mát rồi, không muốn và không thể đi chơi những nơi khác, vì như thế thì phí của trời quá. Mỗi kỳ nghỉ lễ, mình có cảm tưởng như phải lên nhà nghỉ mát thăm “nó” cho phải đạo, không được du lịch chỗ này chỗ kia. Cái nhà phải có để an cư là đủ lắm rồi, bây giờ đèo thêm “món đồ chơi” này, đèo thêm gánh nặng trên vai, cũng vì “nó” mà ruột tượng lúc nào cũng xẹp lép, cả năm mới được đi ăn nhà hàng vài ba lần. Cái khờ dại lớn nhất của con người là tự ràng buộc cuộc sống tự do mình vào của cải vật chất... để rồi... Vua Ngô băm sáu tàn vàng. Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì. Chúa Chổm uống rượu tỉ ti. Chết xuống âm phủ kém gì vua Ngô!
Những lúc cằn nhằn chồng như thế, Thanh cố tình quên đi những ưu điểm về phần phát triển của con cái mà chính Thanh cũng đồng ý với Eirik từ đầu. Thanh cố tình quên đi cái giá nhà nghỉ mát tăng nhỏ giọt đều đều mỗi năm. Thanh cố tình quên đi những lần họp bạn, họp gia đình đầm ấm bên ánh lửa ngời ngời nổ lách tách trong lò sưởi giữa không khí yên tĩnh núi rừng. Thanh cố tình quên cái hãnh diện ngấm ngầm khi khoe khoang với bạn bè trong sở: Tui là người ngoại quốc, tui cũng có nhà nghỉ mát như ai vậy chớ bộ, tui cũng thuộc vào một phần ba của bốn triệu rưởi này, cái một phần ba những người có nhà nghỉ mát!  Chữ rằng “hổ tử lưu bì”. Làm người phải để “danh gì” hậu lai!
Nhà nghỉ mát nằm trên vùng núi cao 1000 mét, ba bề khuất mình giữa những cây thông, cây bạch đàn già mấy trăm năm để tránh gió bão khắc nghiệt miền núi, một bề mở rộng tầm mắt từ khung kính lớn phòng khách là cả một vùng đất trời bao la, núi tiếp nối núi, mặt đất tiếp nối chân trời, màu nâu xám đất đá tiếp nối màu xanh bầu trời. Dòng suối róc rách uốn lượn quanh nhà, cung cấp nước dùng cả năm. Cái đầu óc “đầy sáng tạo” của Thanh nhìn ngay cơ hội, một hồ tắm tí hon cho tụi nhỏ. Nghĩ là làm, nhưng đâu có chịu làm một mình, Eirik thì đương nhiên phải theo (không theo ý vợ, vợ giận lẫy không giúp mình sơn nhà thì buồn lắm!), vợ chồng cô em của Thanh cũng phải theo (chị biểu mà!), 4 đứa nhỏ từ năm tuổi đến chín tuổi cũng phải theo (làm hồ tắm cho mình mà!), theo kế hoạch đào hồ lấp bờ. Một khoảng suối bên hông nhà nở khá rộng, khá sâu, nhưng không đủ sâu để lũ nhỏ quậy quậy tay chân bơi vài sải cho đỡ ghiền. Thanh điều động mọi người thay quần đùi, nhảy xuống suối lạnh ngắt, khênh những tảng đá dưới lòng suối, đắp ngăn nước, chỉ cho nước thoát qua khe đá. Một buổi trưa chớ mấy, cái hồ bơi thiên nhiên thành hình, sâu một mét, có chỗ sâu đến mét rưỡi, dài bốn mét, rộng ba mét, nước luân lưu, lý tưởng quá rồi! Còn được thưởng bữa thịt nướng thơm vàng bên cạnh bờ hồ, ai nấy ngã lưng dựa đá ngồi nghỉ ngơi, ngắm đàn con tung tăng dưới nước, bơi bơi vài sải, vội nhẩy lên bờ trùm khăn co ro vì nước lạnh quá. Để vớt vát sáng kiến lấp núi vá trời của mình, Thanh hứa: “Kỳ tới má mua một cái thuyền nhỏ cho mấy đứa chèo chơi”. Và cái hồ bơi này mỗi năm được tụi nhỏ dùng vài ba lần, vài năm, trẻ con cao lên mà mực nước không chịu cao theo, nên... nhưng... có còn hơn không, có còn hơn không.
Sống lâu năm ở cái xứ hoa tuyết, Thanh bị nhiễm cái tính khoe khoang rất ư là “con nít” của người Na Uy: Màu da nâu hồng sau mỗi kỳ lễ Phục Sinh, một chứng minh cho sự dư tiền dư của, một chứng minh ta đây không cô đơn ở nhà một mình trong những ngày lễ. Và cũng vì cái món đồ chơi này, lễ Phục Sinh năm nào gia đình Thanh cũng đi nghỉ ở miền núi. Muốn hay không muốn, cũng phải! “Bao nhiêu người ao ước được đi nghỉ mát miền núi mà không có phương tiện, đừng điệu hạnh!” Eirik mắng Thanh mỗi lần Thanh cự nự than thở. Than thì than Thanh vẫn nhắm mắt theo thời, làm đúng bổn phận người nội trợ, sắp xếp đâu ra đó cho mỗi chuyến lên núi. Thức ăn thức uống đã chuẩn bị từ tuần trước, đồ hộp, món ăn đông đá, bánh mì đông đá, món tráng miệng đông đá, chỉ rau cải, trứng, trái cây, kẹo bánh, thịt nguội và nước uống là tươi. Đường đi từ con lộ liên xã 243 lên núi rất khó chạy xe vì dốc cao, ngoằn nghèo, rất trơn và thường thì vào mùa đông, chỉ loại xe máy mạnh, bánh xe đinh mới lên dốc an toàn. Không muốn mất công lái xe xuống làng để mua thêm thức ăn, Thanh chuẩn bị tất cả, từng bữa ăn, từng ngày, mọi vật dụng nên thùng xe đầy nhóc. Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm.
Năm nay đường lên núi không trơn mấy, trời cuối tháng ba đến sáu giờ chiều vẫn còn nắng. Đương nhiên là không thể lái xe đến tận cửa, xe ngừng cách nhà 200 met, Eirik đeo “đôi rổ tre” vào chân, mở đường đi trước. Từ sau kỳ nghỉ lễ mùa đông, tuyết rơi không biết bao nhiêu bận, con đường mòn được đi tới đi lui nhiều lần nên cứng nền, nay đã mất. Phải đi, phải dẫm để làm đường mòn mới. “Đôi rổ tre” là một cứu cánh để từng bước chân không bị lún xuống năm ba chục centimet. Như cái rế đan bằng tre, bẹt, hình bầu dục, rộng độ 30 cm, dài độ 50 cm. Bề mặt “đôi rổ tre” tiếp xúc với tuyết phải rộng để cái thân thể 75 kg lún xuống ít ít thôi, đi đứng dễ dàng hơn. Hai tay xách bịch, lưng đeo ba lô, Eirik dẫm đi từng bước mở đường một mình. Trở lại. Thế là đường mòn được dẫm hai lần, nền tương đối cứng hơn. Lúc này ba mẹ con Thanh mới ra khỏi xe, xông vào nơi tuyết trắng, tay không cho người nhẹ dễ đi, mọi xách bị đều nhường phần Eirik vì chỉ Eirik mới có “đôi giầy rổ tre”. Cả ba theo chân Eirik, bước được vài bước, chân phải lún sâu tới đầu gối. Xoay trở rút chân lên, được vài bước, lại lún sâu qua đầu gối. Cứ thế, hụp xuống trồi lên vì lớp tuyết quá dầy, quá mềm, hai lần dẫm tới dẫm lui không đủ. Không thể quay lui để chờ Eirik đi dẫm thêm vài lần nữa được, nhưng lao đao quá, mỏi quá, có khi lún cho tới háng, rút được chân này lên thì chân kia lún tiếp, Thanh hô to: “Bò con ơi!” Thế là ba mẹ con dùng chiến thuật bò. Bằng đầu gối và ống quyển, hai bàn tay chống lấy thế, chiều cao thân hình thấp xuống, phần cơ thể tiếp xúc với mặt tuyết chia làm bốn điểm nên không bị lún nữa. Cứ theo đường mòn mà bò, cũng tới nơi, bò gần 200 mét chớ ít sao! Đi một quãng đường, học một sàng khôn!
Eirik tiếp tục theo đường mòn đi tới đi lui để mang tất cả đồ đạc vào nhà, tay xách lưng đeo. Căn nhà nghỉ mát nằm ướp lạnh mười tuần sau kỳ lễ mùa đông, độ lạnh trong nhà 10 độ âm, độ celcius, tương đương 14 độ Fahrenheit. Áo khoác, nón len, găng tay chưa được cởi ra, chỉ thay giầy bằng đôi giầy nỉ ấm trong nhà. Công việc đầu tiên của Thanh là đốt lò sưởi, một lò sưởi ga, một lò sưởi củi, củi đã chất sẳn trong nhà, nếu không là phải ra ngoài đào tuyết mà tìm củi, kinh nghiệm mấy năm trời! Tất cả đồ đạc trong nhà đều lạnh cứng, từ đôi đũa cho tới cái mền, cái ghế, toàn bộ lạnh ngắt.  Không phải hơi nóng từ hai lò sưởi chỉ có bổn phận làm ấm không khí trong nhà không thôi mà tất cả mọi thứ đều phải được sưởi ấm thì mức xanh trên hàn thử biểu mới bắt đầu nhúc nhích lên dần dần. Công việc thứ hai Thanh phải làm là đun tan ba cái nồi nước đã được chứa sẵn, nay biến thành đá cục, bằng cách đặt ba nồi nước đá lên lò sưởi củi.  Nấu ba ly ca-cao nóng, sưởi từ trong ra ngoài! Một tiếng đồng hồ sau, hàn thử biểu chỉ 5 độ dương, ba nồi nước đá đã tan thành nước, đủ dùng cho đến bữa điểm tâm hôm sau. Sau một tiếng đồng hồ đốt, bàn sắt trên lò sưởi nóng hừng hực, đụng tay vào là phỏng. Để tiết kiệm ga, Thanh dùng lò sưởi củi làm cơm chiều. Giờ này Eirik vẫn chưa xách hết bị, giỏ từ cái thùng xe, về nhà. Làm thì làm cho trót, gọt thì gọt cho trơn!
Bóng hai cây đèn cày màu vàng lung linh trên bàn ăn, bốn cái dĩa sâu đã được hâm nóng bằng cách để lên lò sưởi củi. Thức ăn chiều chỉ là một nồi lớn gồm nửa lít sữa tươi, khoai tây, cà rốt luộc chín, cắt nhỏ chừng bằng con cờ tướng, hai hộp thịt viên Joika, loại thịt nai rừng, món ăn của người Same, một giống dân du mục sống miền thượng du Bắc Âu. Tất cả được quậy nhè nhẹ, quyện  với nhau thành sền sệt, nóng hổi, vừa thổi vừa ăn. Qua nhiều năm, món ăn này đã thành một phong tục của gia đình, gọn, nóng, mang vẻ núi rừng của người Same. Đã hai tiếng đồng hồ mà hàn thử biểu chỉ lên 17 độ dương. Nón len, găng tay, khăn choàng cổ đã được cởi ra, vẫn mặc áo khoác vào bàn ăn. Căn nhà rộng chỉ 50 mét vuông mà phải sưởi ba tiếng đồng hồ thì nhiệt độ trong nhà mới lên tới 20 độ dương, và từ đó sẽ không đốt lò sưởi nhiều nữa. Ráng giữ nhiệt độ 22, 23, đồng thời ánh lửa lung linh trong lò sưởi củi vẫn tiếp tục để tạo không khí ấm cúng giữa núi rừng đã bắt đầu sập tối, 10 giờ đêm! Như vậy là nhiệt độ bên trong và bên ngoài cách nhau gần 40 độ. Bữa cơm chiều mang lại sinh khí: Đầu tôm nấu với ruột bầu. Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon.
Trần Vấn Lệ
Tưởng ai dưới nguyệt
Mỗi ngày… mình có một bình minh
Một buổi trưa xanh biếc lá cành
Một buổi xế chiều mươn mướt gió
Một hoàng hôn em của riêng anh…
Nói như hai đứa đang ngồi cạnh
Đang nắm tay và hôn trán nhau
Ai biết là mình xa cách lắm
Buồn ơi bèo giạt nước qua cầu!
Biết thế nên anh thường tưởng tượng
Em là trăng sáng mỗi đêm trăng
Cuối tháng và đầu tháng vắng
Em nằm trong ngực – một Giai Nhân!
Phải chi ở cạnh em bây giờ
Anh nói một ngón chân em một ngón Thơ
Anh vuốt ve hoài Thơ một ngón
Hai bàn chân em một trời mơ…
Anh vuốt tới mười em ngủ thiếp
Anh làm sao nhỉ? Chắc ăn gian
Hôn lên đầu gối, hai con mắt
Em ngủ đi em! Ôi vầng trăng!
Trần Thiện Hiệp
Biết đâu
thơ lại hóa là di ngôn
Khói vờn tẩu thuốc ấm tay
Bâng quơ ngó xuống hàng cây chân đồi
Cảnh gần sao thấy xa xôi
Khói sương mờ ảo, chỗ ngồi lạnh tanh
Nghĩ hoài chưa trọn bài hành
Ý thơ còn ở trời xanh mây ngàn
Tiễn người heo hút thu sang
Có nghe tiếng lá thở than dặm trường (?)
Uống vơi chén rượu, nhìn gương
Thấy ta cằn cỗi thịt xương của trời
Ẩn tàng dấu tích một đời
Còn trên giấy trắng những lời di ngôn
Kệ kinh, chuông mõ thiền môn
Tỉnh mê một cõi càn khôn vô thường
Rượu bầu lãng khách phong sương
Tuý ca gõ nhịp suốt đường thấp cao
Hành trang một quẩy trăng sao
Một đai lưu cảo, những xao xuyến lòng
Đường vào thi sử rêu phong
Khi về tịnh cốc nghe lòng phân vân
Thôi thì với chút ân cần
Gởi thơ theo gió bay gần bay xa
Biết đâu trong cõi ta bà
Mốt mai thơ lại hóa là di ngôn
Trần Văn Lương
CÁI NỐT RUỒI
      Kim đồng hồ đeo tay chỉ đúng 1 giờ 10. Thế là lớp học đã bắt đầu được 10 phút. Lại trễ nữa! Nhìn về phía cánh cửa đang mở rộng của giảng đường Hội Hữu của trường Văn Khoa, tôi tần ngần không biết có nên vào lớp hay không. Chẳng lẽ “cúp cua” thêm một bữa? Tôi đã trốn lớp mấy ngày rồi vì cái tội la cà các quán cà phê nên tới trường trễ.
Tôi ngần ngại không muốn ngất ngưởng đi vào lớp một mình, một phần vì thấy kỳ kỳ và một phần sợ bị thầy nhớ mặt và ghi tội, một điều hơi phiền toái nếu phải thi vấn đáp vào ngày cuối khóa. Tuy nhiên nếu bỏ học nữa thì cái lương tâm bèo nhèo của tôi sẽ bị cái hàm răng giả của nó cắn... nhột không chịu được. Hơn nữa, nghỉ nhiều thế thì không biết bài vở sẽ ra làm sao. Các Đại Học miền Nam hồi đó rất thiếu giáo sư và thường thường một số thầy phải “chạy” trường. Các đại học cố gắng sắp xếp thời khóa biểu làm sao để các thầy chỉ tới trường vài lần trong mỗi lục cá nguyệt. Mỗi lần như thế, các thầy đều ở lại nhiều tuần liên tiếp, dạy dồn dập mỗi ngày nhiều giờ cho hết chương trình. Vì thế, chỉ cần cúp cua một ngày là sinh viên sẽ lội bì bõm cho đến cuối khóa. Do đó, tôi bèn nghiến chặt răng, đầu cúi thấp, nhẹ nhàng bước vào lớp và ngồi vào hàng ghế trống cuối cùng. Tôi nhìn lên bục, thầy đang hăng hái giảng bài và hình như không chú ý đến tên sinh viên đi trễ. Tôi thở phào nhẹ nhõm, và bắt đầu láo liên cặp mắt quan sát các hàng ghế chung quanh. Hầu hết mọi người đều chăm chú nghe giảng bài và tôi chỉ thấy được phía sau hay cùng lắm là một bên khuôn mặt của mỗi người.
Tôi bỗng như chạm vào đường dây điện cao thế khi ánh mắt quét tới hàng ghế bên cạnh. Người con gái, mặt mày nghiêm trang lạnh lùng như một bức tượng bằng thạch cao, mắt nhìn thẳng về phía bục giảng bài, chăm chú theo dõi lời thầy. Tôi quả là không nói ngoa khi bảo rằng khuôn mặt của cô gái giống như bức tượng. Tôi chỉ thấy được phần nghiêng của khuôn mặt vì thủy chung nàng không hề quay về phía tôi, dù chỉ là trong một vài giây ngắn ngủi. Nét mặt nhìn nghiêng thật là thanh tú với sống mũi cao và thẳng nằm ngay dưới một khuôn mắt mang nhiều nét Tây phương. Làn môi không dày không mỏng được khép một cách hờ hững, và khóe miệng về phía tôi hơi nhếch lên một tí. Và đặc biệt nhất, ngay trên khóe miệng đó, có một cái nốt ruồi to gần bằng nửa hạt đậu đen. Vì không nhìn thẳng đuợc khuôn mặt cô gái nên tôi không thể biết được là nốt ruồi đó làm tăng hay giảm sắc đẹp của “bức tượng”. Mặc dù thế, nhìn nghiêng, cái nốt ruồi cộng thêm cái khóe mép hơi nhếch lên và cái sống mũi thon nhỏ có một sức quyến rũ thật là mãnh liệt. Và do đó, thay vì nghe thầy giảng bài, đầu óc của tôi lúc nào cũng gởi trọn về khuôn mặt bên cạnh, trong khi bên ngoài vẫn làm ra vẻ chăm chú nhìn về phía trước. Thỉnh thoảng tôi giả bộ ngọ nguậy uốn mình cho đỡ mỏi lưng và liếc nhanh về phía trái, chỉ đủ để thấy cái nốt ruồi đậm màu trên một làn da trắng bóc, nằm chênh chếch trên bờ môi mọng đỏ. Ôi, màu sắc sao mà hòa hợp một cách lạ kỳ. Chưa bao giờ tôi thấy ba màu đỏ, trắng và đen đi với nhau một cách tuyệt diệu như thế! Tất cả lại lồng trong ánh nắng chiều xanh như màu nước chè tươi của mùa thu Đà Lạt. Trời ơi, không lẽ Thiên đàng lại ở trong lớp học nhỏ bé này sao? Tôi bần thần theo dõi một cách kín đáo người hàng xóm “Trời cho” này. Trước mặt nàng, cuốn sách mở sẵn trên bàn được đều đặn lật qua trang mới, đi rất sát với lời giảng của thầy, mà cô nàng thủy chung không cần liếc xuống nhìn vào sách. Tôi thầm nghĩ trong bụng rằng cô bé này giỏi thật, và cũng bắt chước nàng lật sách như một cái máy. Hễ nàng lật là tôi lật, mặc dù chẳng biết, và cũng chẳng thắc mắc, mình đang ở trang nào.
Khi tan lớp, vào khoảng 5 giờ chiều, nàng là người rời lớp học sau cùng. Tôi ra trước và phất phơ đứng hút thuốc ngoài sân, mục đích là sẽ lẽo đẽo theo sau để tìm xem “hang cọp” ở chỗ nào. Cuối cùng cái bóng áo dài trắng thướt tha cũng rời lớp và thong thả đi về hướng nhà thờ Năng Tĩnh. Nàng hình như không hề biết là có một gã đầu trâu mặt ngựa đang dở trò trinh thám theo sau. Nàng đi thẳng vào nhà nguyện, và... dĩ nhiên tôi cũng vào theo. Nàng tiến đến gần bàn thờ và quỳ ngay hàng ghế đầu tiên trước cung thánh. Tôi chỉ dám thu mình trong chiếc ghế cuối góc nhà thờ để nhìn lên, không có can đảm tiến tới phía trước. Không hiểu tại sao mỗi khi “định mệnh run rủi” tôi phải vào nhà thờ, tôi chỉ thấy thoải mái khi được ngồi ở hàng ghế sau cùng vì, thú thật, mỗi lần nhìn lên Chúa trên cây Thánh Giá tôi thấy ngài ngại làm sao, có lẽ vì mặc cảm rằng mình là kẻ ngoại đạo và tự cảm thấy mình quá ư là bê bối. Nàng quỳ im lìm, đầu hơi cúi xuống. Mái tóc kiểu Sylvie Vartan màu đen tương phản với màu trắng của chiếc áo dài. Ánh sáng lờ mờ do tia nắng chiều èo uột xuyên qua những khung kính đục rơi lên trên hàng ghế nàng quỳ tạo thành một bức tranh đen trắng lung linh huyền ảo. Nàng miệt mài cúi đầu cầu nguyện, mặc thời gian trôi qua một cách chậm rãi đến sốt ruột. Đúng là Trời hại tôi, “bức tượng” của tôi chẳng những có đạo mà còn là một con chiên quá sức ngoan đạo! Than ôi, số tôi thật là khổ! Điệu này lại phải mất công đi làm quen một vị linh mục hay một vị nữ tu nào để xin học đạo. Cái món giáo lý coi bộ hơi khó nuốt đối với tôi. Trong suốt thời gian gần chục năm nội trú ở trong một trường đạo, tôi chỉ nhớ được có mỗi một điều là Đức Chúa Trời có 3 Ngôi, còn 3 Ngôi như thế nào thì mù tịt. Nếu bị hỏi ép quá thì đành giở trò bài bây: ngôi thứ nhất là “Mỏa”, ngôi thứ hai là “Toa” và ngôi thứ ba là “Lủy”...
Nhìn đồng hồ tay đã thấy gần 7 giờ tối mà “bức tượng” vẫn không nhúc nhích, tôi đành phải bấm bụng rời nhà nguyện để tới quán ăn cơm tháng cho kịp vì không muốn phải mất ngủ vì bao tử trống không. Với cái lạnh của đêm khuya Đà Lạt, cảm giác đói bụng không phải là một điều dễ chịu, mặc dù đối với những sinh viên nghèo như tôi, cái cảm giác này đã trở thành một người bạn thân thiết.
Và từ đó trong vòng bốn tuần lễ liên tiếp, ngày nào tôi cũng tới lớp, ngồi hàng ghế cuối cùng, sau “bức tượng” một hàng, lén lút chiêm ngưỡng trong thầm lặng cái nốt ruồi tai hại, và khi tan lớp lại lếch thếch đi theo nàng lên nhà nguyện. Nhiều lúc tôi cũng có ý muốn bước nhanh lên để gợi chuyện làm quen, nhưng khi thoáng liếc qua gương mặt lạnh như ly cà phê sữa đá trong một buổi sáng Đà Lạt, bao nhiêu can đảm đều theo khói thuốc Bastos Quân Tiếp Vụ bay lên nhập vào đám mây dày đặc của bầu trời thu xám xịt. Và ngày nào cũng như ngày nấy, đến giờ cơm tối nàng vẫn còn gục đầu cầu nguyện, tôi lại đành phải thầm tạm biệt nàng để đi săn sóc cái bao tử lép kẹp của mình. “Thương em thì thương rất nhiều” nhưng “anh phải sống”, em ơi!!!
Bạn bè tôi nhiều người ngạc nhiên khi thấy tôi lên nhà thờ mỗi buổi chiều sau lớp học mà không hiểu nguyên do. Tôi nhủ thầm thật là may mắn khi cái lũ quỷ sứ này không phát giác ra mục tiêu của sự theo đuổi của tôi. Chỉ cần một đứa biết thì cả đám ôn thần dịch vật này sẽ làm rùm beng lên, thậm chí còn có đứa dám tìm cách gài bẫy để tặng cho tôi nhiều cú đau đớn. Vì biết thế, nên tôi càng cẩn thận hơn không dám theo nàng quá sát và cũng không dám liều lĩnh làm quen. Một điều làm tôi ngạc nhiên là hầu như trong lớp, ngoài tôi ra, không ai để ý đến nàng cả. Có thể là quan niệm về thẩm mỹ của tôi khác với mọi người, hay là mắt mũi của tôi kèm nhèm chẳng nhận ra được nỗi lòng thầm kín của những kẻ chung quanh. Không tìm được câu trả lời thỏa đáng, và cũng không dám tâm sự cùng ai, tôi đành bỏ không thèm thắc mắc thêm làm chi cho mệt xác.
Hôm nay là ngày cuối cùng của khóa học. Trên đường tới lớp, tôi tự nhủ chiều nay thế nào cũng phải gợi chuyện với nàng cho bằng được, sống chết gì cũng phải làm cho cóc mở miệng. Đây là cơ hội cuối cùng. Nhưng khi bước vào lớp, tôi choáng váng như bị ông thợ rèn gần nhà nện cho một búa vào đầu: nàng không có mặt trong lớp! Điều này có vẻ không ổn tí nào. Ngày học cuối thường là ngày quan trọng nhất vì các thầy đều cho biết những chi tiết quan trọng liên quan đến kỳ thi cuối khóa. “Bức tượng” đã có mặt trong tất cả các buổi học, mà lại vắng mặt ngày hôm nay, đó là điều tôi không thể tưởng tượng được. Suốt mấy tiếng đồng hồ, tôi như người mất hồn, không biết và không nhớ được một lời nói nào của thầy. Quanh đi quẩn lại trong óc cũng chỉ có ba điều: nốt ruồi đen, bờ môi đỏ và màu da trắng mà thôi. Tôi cứ lẩm nhẩm mãi một câu hát không biết nhặt được từ một xó xỉnh tối tăm nào của mấy quán cà phê: “Em ơi, bây giờ em ở nơi đâu...”
Vừa tan lớp, tôi tức tốc chạy lên Năng Tĩnh. Nhưng than ôi! Nhà nguyện hoàn toàn trống trơn, chỉ có Chúa nhìn tôi và tôi... không dám nhìn Chúa! Vắng nàng, cung thánh bỗng rộng mênh mông và lạnh lẽo như hồn người trinh nữ bên hồ Than Thở trong buổi chiều đông. Tôi gục đầu vào lưng hàng ghế trước, đầu óc trống rỗng. Mắt nhắm lại, tôi cố hình dung lại trong đầu khuôn mặt lạnh như tiền của nàng và cái nốt ruồi yêu dấu nằm trên khóe môi được nhếch lên một cách ngạo nghễ. Đang nhắm mắt lơ mơ, tôi bỗng có cái cảm giác là tôi không phải là người duy nhất trong nhà nguyện. Ngẩng đầu lên, tôi chợt thấy nơi hàng ghế đầu tiên, chỗ nàng thường quỳ trong mấy tuần qua, hình bóng của một vị nữ tu trong bộ áo dòng đen và tấm khăn che đầu phủ xuống ngang lưng. Tôi bàng hoàng tự hỏi, chẳng lẽ đó lại là nàng! Phi lý, nàng không thể là một nữ tu được, tôi không muốn thế! Vì chỉ thấy được phía sau lưng, nên tôi không biết hư thực ra sao. Nhưng cái tư thế quỳ, cái dáng đầu hơi cúi xuống sao mà giống quá. Dù trong lòng xốn xang, nhưng tôi không dám đường đột đi lên gần cung thánh để nhìn mặt. Giá chi đừng có bộ áo dòng thì khung cảnh sẽ y hệt như mấy tuần qua: Một người con gái nghiêm trang quỳ cầu nguyện ở phía trên, và một chàng trai cuối nhà thờ ngồi nghĩ hươu nghĩ vượn...
Và cũng như cũ, gần 7 giờ tôi lại phải luyến tiếc rời nhà thờ để đi lo phục vụ cho cái bao tử lép kẹp của tôi.
Thế rồi cái điệp khúc này được lặp đi lặp lại mỗi ngày sau đó. Không biết tôi bắt đầu biết cầu nguyện từ lúc nào, nhưng một hôm tôi chợt bắt gặp mình đang lẩm bẩm: “Lạy Chúa, xin cho con được gặp lại nàng và nhất là cho nàng đừng phải là bà Soeur! Chúa muốn con làm gì, con cũng sẵn sàng làm hết, trừ việc... bắt con đi tu”
Một ngày kia, có lẽ vì thương tình hay vì quá mệt mỏi với lời cầu xin bá láp của tôi mà Chúa đã động lòng trắc ẩn. Mới vào khoảng 5 giờ, vị nữ tu đã đứng dậy, làm dấu Thánh giá và quay người đi ra. Trong ánh nắng ảm đạm của buổi chiều Đại học, tôi bỗng nhận ra khuôn mặt quen thuộc. Cả người tôi như đóng băng. Chẳng lẽ đó là “nàng” thật ư? Quả là tai hại bạc triệu. Còn đang bàng hoàng, thì “nàng” đã đi ngang, và... Chúa ơi, “nàng” nhìn con và mỉm cười gật đầu chào!!! Không biết cái cảm giác được lên Thiên đàng như thế nào, nhưng tôi dám chắc là không thể hơn được nỗi sung sướng của tôi lúc đó. Nếu có ai hiện diện nơi đây, họ sẽ phải phì cười vì cái bản mặt ngờ nghệch và lơ láo của tôi, vốn dĩ đã xấu xí và đần độn hơn người. Như cái máy, tôi đứng bật dậy và lẽo đẽo đi theo “nàng”. May quá, không gặp bất kỳ ai trên đường. Vừa qua khỏi quãng đất trống trước nhà thờ và đến đầu con đường dốc nhỏ trải nhựa nằm giữa giảng đường Hội Hữu và Thư Viện, “nàng” đứng lại chờ tôi. “Nàng” quay nhìn tôi, ánh mắt hơi ngời lên một tí tinh nghịch, và nhẹ nhàng bảo:
- Có lẽ là anh lầm tôi với chị Thanh!
Tôi ngơ ngác lẩm nhẩm trong miệng hai chữ “chị Thanh” và quan sát kỹ khuôn mặt của người đối diện. Cũng khuôn mặt trái soan đó, cũng cái mũi nho nhỏ thanh tú đó, cũng bờ môi thắm đỏ và hơi cong lên ở bên mép... Nhưng kìa, ơ hay... Như đoán được ý nghĩ của tôi, vị nữ tu giải thích:
- Nhiều người cũng lầm tôi với chị Thanh như anh. Chúng tôi là hai chị em ruột, và giống nhau như hai giọt nước, chỉ khác nhau có một điểm là chị Thanh có cái nốt ruồi trên mép phải.
Quả thế thật, trên da mặt mịn màng của vị nữ tu tôi không thấy một cái nốt ruồi nào cả. Thật là bé cái lầm. Trong sự ngỡ ngàng bối rối, tôi lại cảm thấy lóe lên một tia hy vọng nhỏ: Biết đâu Thanh không có đi tu, và chỉ có cô em này làm Soeur mà thôi! Nhưng niềm hy vọng của tôi không kéo dài được lâu. Vị nữ tu kể tiếp:
- Hai chị em chúng tôi là con của một ông trùm xứ tại một họ đạo di cư gần Ban Mê Thuột, và đều đi tu tại dòng Mến Thánh Giá ở trên tỉnh. Chị Thanh được nhà dòng gửi tới đây đi học, và chị ấy đã trở về lại nhà Chúa. Chị có nói chuyện với tôi... về anh.
Tôi giật mình. Chết chửa, thế mà cứ tưởng là “nàng” không biết những chuyện ruồi bu của tôi.
Vị nữ tu lại lém lỉnh nói tiếp:
- Chị Thanh nhờ tôi nhắn với anh là ráng quên chị ấy đi và cố gắng học hành vì ngày thi sắp đến và nếu anh trượt thì sẽ bị đi lính đấy. Chị nhờ tôi tặng anh một tấm hình của chị để anh cầu nguyện cho chị mỗi khi nhớ đến chị.
Tôi thẫn thờ cầm lấy tấm ảnh đen trắng vị nữ tu trao cho, và chua xót nhìn khuôn mặt của người đẹp của tôi đang tươi cười trong bộ áo dòng ủi thẳng nếp ngày khấn tạm. Hỡi ơi, khuôn mặt đó, bờ môi đó, và cố nhiên cái nốt ruồi thân yêu đó... tất cả sao mà xa xôi cách trở. Tôi lí nhí nói lời cám ơn và vội vàng nhét bức ảnh vào túi áo blouson khi nhác thấy mấy thằng bạn trời đánh của tôi đang từ phía Thư Viện đi tới. Chúng cố tình đi ngang chỗ tôi đứng nói chuyện với vị nữ tu, nhìn phớt qua hai đứa, cất tiếng cười khúc khích với nhau và nháy mắt với tôi một cách rất ư là đểu giả. Vị nữ tu vẫn tỉnh bơ làm như không để ý
đến, mỉm cười nói lời từ biệt và đi về hướng cổng Viện. Tôi đứng đó ngơ ngác nhìn theo cho đến khi bóng dáng chiếc áo dòng đen đã khuất sau lưng giảng đường Minh Thành.
Tôi lang thang quanh khu Năng Tĩnh một lúc rồi tất tả trở về cái phòng trọ lạnh lẽo ở đường Hàm Nghi. Việc đầu tiên khi vào phòng là lôi tấm hình ra ngắm nghía và kẹp cẩn thận vào giữa cuốn Thánh Kinh trên bàn trước khi đi ăn tối. Cuốn Thánh Kinh này do một thằng bạn vừa mới theo đạo Tin Lành tặng cho tôi, với mục đích dụ tôi theo đạo của hắn. Mỗi lần gặp mặt là hắn cứ bảo tôi phải đọc cuốn sách này. Tôi cũng ráng chiều ý bạn nhưng chẳng bao giờ đọc hết được một trang trước khi hai mí mắt sập xuống. Sau này bị hắn thúc quá, tôi bèn nổi quạu và bảo hắn: “Sách gì mà đọc chán thấy mồ tổ, thua truyện Kim Dung xa. Thế này mà mày cứ bắt tao đọc hoài thì làm sao tao đọc được. Hôm nào rảnh, tao sẽ đem trả cho mày để mày cho người khác!”. Từ đó tôi ít có dịp gặp lại hắn và cũng quên chưa trả lại cuốn sách. Đó là lý do tại sao một kẻ ngoại đạo như tôi lại có cuốn Thánh Kinh nằm trên bàn học.
Vừa bước chân vào quán ăn, thì cả đám lâu la đã chờ sẵn và thi nhau pháo kích:
- Ối giời ơi, cái thằng ông nội này hết chuyện làm rồi hay sao mà lại đi tán tỉnh kẻ tu hành như thế này...
- Ê con trai, coi chừng xuống Hỏa ngục đó con ạ...
-“Khen cho con, mắt tinh đời!”. Em đẹp như Ma Xơ, cắc cắc bùm...
- Cái nốt ruồi trên mép quả đáng đồng tiền bát gạo...
Tôi giật bắn mình. Cái nốt ruồi? Làm gì có cái nốt ruồi? Không biết thằng này đào đâu ra cái ý tưởng về cái nốt ruồi. Chẳng lẽ chúng nó biết mình lẽo đẽo theo sau nàng từ trước mà đến giờ này mới nói? Tôi cứ loay hoay mãi với ý nghĩ này thành ra không biết sau đó chúng nó còn tung ra những điều gì tệ hại hơn nữa.
Cắm đầu cắm cổ nuốt vội vàng cho xong phần ăn, tôi bay về nhà trọ, để nguyên áo quần leo lên giuờng nằm thừ ra suy nghĩ. Tôi ôn lại trong đầu từng lời của cô nữ tu. Không biết cố ý hay vô tình mà vị nữ tu đã cho tôi biết những chi tiết thật là đáng giá: Ông bố làm trùm xứ một họ đạo di cư, hai chị em đi tu ở nhà dòng Mến Thánh Giá Ban Mê Thuột... À, tại sao mình không điều tra thêm thử xem sao. Tôi chợt nhớ ngay đến Hoa, cô em họ của tôi. Hoa là con của bà dì ruột tôi, chơi rất thân với tôi lúc nhỏ. Lớn lên, Hoa lấy chồng Công giáo, và theo chồng về ở họ đạo Hà Lan B thuộc giáo phận Ban Mê Thuột. Tôi có thể nhờ Hoa điều tra giùm về hai chị em Soeur Thanh (Trời ơi là Trời, chữ “Soeur” đọc lên nghe đau lòng quá!). Tôi hy vọng là cùng đạo với nhau, Hoa có thể cho tôi nhiều chi tiết hữu ích về hai “người đẹp” này. Tôi hăng hái choàng ngồi dậy, viết một lèo xong bức thư cho Hoa, chạy qua bà chủ nhà mượn con tem và ba chân bốn cẳng bay ra bưu điện tống ngay vào thùng thư chính.
     Nắng chiều buồn như cỏ úa. Tôi uể oải rời nhà thờ mà lòng mềm oặt như cọng bún thiu. Con đường trở về nhà trọ sao mà lê thê và những tuần lễ chờ đợi sao trôi qua quá chậm chạp. Mỗi buổi chiều tôi đều lên Năng Tĩnh, với hy vọng mong manh là được gặp lại “Cái Nốt Ruồi” hay em gái nàng. Nhưng than ôi, bóng chim tăm cá! Tôi đâm ra thù cái ông thi sĩ Tàu vớ vẩn nào đó đã nói một câu rất ư là vô duyên lãng xẹt: “Giai nhân nan tái đắc”. Điểm an ủi duy nhất cho tôi là quý Cha và Frères, mà tôi thỉnh thoảng xui xẻo gặp mặt ở trong khuôn viên nhà thờ, càng ngày càng tỏ ra có cảm tình với thằng bé “ngoan đạo”! Các ngài đâu có biết rằng người mà thằng bé ước tìm gặp là “nàng”, chứ không phải Chúa của các ngài. Tuy thế, tôi vẫn phải luôn làm mặt tươi cười để đáp lễ lại những cái nhìn khuyến khích và khen thưởng của các ngài. Tôi nghĩ thầm trong bụng rằng phải chi các Cụ cầu nguyện Chúa cho tôi được gặp lại “nàng” thì có phải là quý hóa hơn không! May quá, các ngài không thấy được ý nghĩ này trong cái đầu đen kịt của thằng quỷ sứ! Về đến nhà, sắp mở cửa phòng trọ thì tôi nghe tiếng gọi của bà chủ nhà:
- Cậu Văn ơi, có thư.
Nhìn thấy tên người gửi là cô em họ tôi từ Ban Mê Thuột, tôi mừng rơn, mừng còn hơn cả lúc nhận được mandat từ nhà mỗi đầu tháng. Chạy vội về phòng, khóa kín cửa lại, tôi xé vội phong bì và đọc ngấu nghiến bức thư của Hoa dưới ánh đèn điện vàng vọt của phòng trọ:
Ban Mê Thuột ngày...
Anh Văn mến,
Sau đây là những chi tiết về Soeur Thanh mà anh đã hỏi em: Em rất thân với gia đình Soeur Thanh, vì Bác Trùm Xuân, bố của Soeur Thanh, là ông bác họ của nhà em. Bác được gọi là Ông Trùm, vì bác ấy đã từng là Trùm Xứ của họ đạo Hà Lan A, cách họ đạo Hà Lan B của em không mấy xa. Không hiểu sao anh lại nói gặp em gái của Soeur Thanh, vì bác Trùm chỉ có một người con duy nhất là Soeur Thanh mà thôi...
Tôi giật nẩy mình, linh cảm có điều gì hơi bất thường. Sau ít giây sững sờ, tôi đọc tiếp:
     Bác Trùm cho Soeur Thanh đi tu ở Dòng Mến Thánh Giá Ban Mê Thuột từ khi Soeur được khoảng 12 tuổi. Đến năm 18 tuổi, Soeur đậu Tú tài II. Sau khi vào nhà tập khoảng một năm và sau khi khấn tạm, Soeur được nhà Dòng gửi đi học ban Cử nhân Triết tại Viện Đại Học Đà Lạt của anh đó. Em đã được gặp Soeur rất nhiều lần. Soeur rất đẹp và dễ thương. Đặc biệt nhất là cái nốt ruồi trên khóe môi của Soeur làm cho Soeur hết sức có duyên.
     Cách đây mấy tháng (vào khoảng đầu tháng Mười), bác Trùm gái bỗng nhiên đau nặng, sợ không qua khỏi, nên Soeur phải lật đật rời Đà Lạt để về thăm mẹ lần cuối. Không ngờ trên đường về nhà, xe đò bị trúng mìn gần Ban Mê Thuột và tất cả mọi người trên xe đều tử nạn...
     Trời ơi! Tôi bàng hoàng buông tờ thư, ngồi phịch xuống thành giường, hồn xác tê dại. Tôi cố nhớ lại, đầu tháng Mười chính là lúc tôi nhìn thấy Soeur Thanh lần đầu tiên trong lớp học. Chẳng lẽ... Tôi từ xưa vốn không tin chuyện ma quỷ, nhưng giờ đây tự nhiên cảm thấy xương sống hơi lành lạnh. Đang lơ mơ thì cánh cửa phòng trọ, mà tôi nhớ đã khóa lại sau khi vào, bỗng dưng tự động mở ra. Không biết có phải là do thần hồn nhát thần tính hay không mà tôi có cảm giác mình vừa thoáng thấy một bóng đen vụt ra khỏi cửa và tan dần vào trong những tia nắng xanh xao của buổi chiều đông Dalat.
     Và chợt như do linh tính, tôi chồm tới bàn học, chụp vội cuốn Thánh Kinh, mở ra để tìm tấm ảnh. Tấm ảnh vẫn còn đó, nhưng bây giờ... đã thành một tờ giấy trắng. Khuôn mặt của người trong ảnh, mà tôi còn thấy rõ ràng ngày hôm qua, đã hầu như hoàn toàn biến mất. Tất cả chỉ còn lại một chấm tròn đen nho nhỏ nằm ở vị trí cũ của cái nốt ruồi duyên.
Phạm Ngọc
Giữa màu đen của mắt
- về một tháng Ba xưa...
Tôi không còn nơi trở về
và em cũng không còn điểm tới
giữa hai chúng ta nơi nào là ranh giới?
mà con đường mãi mãi cách chia
Để muôn đời trên những chuyến đi
tôi vẫn nghe bước mình lạc nhịp
trái tim em vô cùng hạn hẹp
góc cạnh nào dành lại cho tôi?
Điệu nhạc xưa là những hợp âm rời
chém vào tim như trăm ngàn vết cắt
tìm ở đâu giữa mầu đen của mắt
một vũng sâu trăng lạnh đến vô cùng
Em có còn nhớ đến tôi không?
khi cưu mang nỗi buồn thế kỷ
hai chúng ta ai buồn hơn ai nhỉ
khi cuộc tình còn vọng tiếng cầu kinh
tôi lắng nghe nhịp đập của tim mình
Là những bất thường sau bao mùa ngóng đợi
em như cơn giông qua đời rất vội
đã cuốn tôi theo những bước muôn trùng
đã đưa tôi vào khoảng trống đợi mong
Chưa tìm ra lối thoát
Vẫn mơ về bên kia tiếng hát
những ngậm ngùi của tuổi hai mươi
tôi làm thơ để biết yêu người
Và yêu em thật hồn nhiên như thế
nỗi buồn tôi đã đâm thành cội rễ
mọc quanh mình những đóa oan khiên
ngồi khóc cười trên những nhớ quên
tiếc thương em một loài hoa cúc trắng
nhớ thật nhiều tháng Ba đầy nắng
mà mùa xuân thì đã bạt ngàn
những cơn mưa đang chở mùa sang
Cho tuyết rơi trắng vùng ký ức
cho giòng sông thêm buồn heo hút
cho ngọn nguồn khỏa lấp nhánh thương đau
cho nỗi buồn cùng tôi bước chung nhau
Em hôm qua có bao giờ hiểu được
như em quên tôi nào ai biết trước
để mưa về ướt sũng những sớm mai
tôi loanh quanh tìm kiếm một hình hài
Mà nhận ra mình chỉ còn chiếc bóng
tôi nhìn tôi giữa vòng tay số phận
khác biệt mấy múi giờ mà khoảng cách quá xa
trăng nơi đâu ngoài cõi thiên hà
Trong thăm thẳm giữa mầu đen của mắt?
tôi vẫn gọi em dẫu biết mình đã mất
tạ ơn em cơn mộng cứ quay về
trăng bây giờ đã khuất bóng mùa đi
Lãm Thúy
Nhẫn nhục
Mẹ ngồi ăn chén cơm lưng
Tô canh chua nguội, buồn rưng rưng lòng
Ngoài vườn, bóng tối mênh mông
Dáng cô đơn, mẹ chìm trong vũng sầu
Mẹ ngồi đầu thấp, vai cao
Trái tim nhẫn nhục giấu vào đêm đen
Mà sao đầy ắp ưu phiền
Không gian quanh mẹ ngân lên não nề
Bây giờ mẹ đã ra đi
Bài thơ, đọc lại buồn chi lạ lùng
Không người nước rót, cơm dưng
Tuổi già hẵn mẹ đã từng tủi thân
Đứa đi lưu lạc phong trần
Đứa xa xôi, đứa ở gần – Đa đoan
Và dâu chẳng phải là con
Thờ ơ để mẹ ngậm buồn, nuốt cay
Lỗi mình, còn dám trách ai
Tha phương để mẹ thương ngày, nhớ đêm
Mẹ ơi! Dưỡng dục chưa đền
Cưu mang chưa trả mà duyên tận rồi!
Mẹ nay đã ngủ bên trời
Nhớ thương, con chỉ ngậm ngùi nhớ thương
Mai này về lại cố hương
Không còn mẹ đợi, vô phương giữ lòng!
Bài thơ viết mãi chưa xong
Lệ rơi thấm ướt mỗi dòng xót xa
Từ mẹ đất lạnh là nhà
Con thà lưu lạc xứ xa mãn đời!
Phạm Tương Như
Thay Áo Nắng
Một thuở em về thay áo nắng
Hoa vàng tơi tả rụng bên sông
Sợi gió bạt ngàn treo mây trắng
Màu áo phôi phai tím cõi lòng!
Treo Lững
Hồn em treo lững trên song cửa
Rụng xuống thềm trăng dáng đợi chờ
Lượm lên anh dính đầy trăng sữa
Thả hồn lên giấy hóa thành thơ!
Thương Nhớ
Em ở đầu sông nhớ
Anh ở cuối dòng thương
Qua trăm ngàn sóng khổ
Lênh đênh giữa tình trường
Khoảnh Khắc
Bình minh muốn đợi hoàng hôn
Mà sao trưa nắng đốt hồn thi thơ
Cơn mưa kết sợi mong chờ
Chiều hôm tối sẩm đèn mờ nửa khuya
Ngủ quên khoảnh khắc chia lìa
Sớm mai thức dậy đầm đìa lệ sương
Thơ Ru
Thơ ru hay tiếng gió về
Lao xao cành lá, làm mê muội đời
Thu thay màu sắc đất trời
Hồng môi tím lá ngỏ lời nhớ thương
Phôi Pha
Làm sao níu được mai sau
Khi hai thứ tóc thành màu phôi pha
Biết chăng kỷ niệm ngọc ngà
Thời gian rồi cũng quên ta với người
Tình Si
Nhớ thương đã nhớ thương nhiều
Đớn đau lắm lúc muốn liều chết đi
Thiếu em anh chẳng còn gì
Để hồn nương náu, để si với tình
TRẢ LẠI TRĂNG SAO
Tưởng rằng kể chuyện tình thơ. Ai dè lặng lẽ ngu ngơ sớm chiều. Nói thôi sao lại buồn hiu, góp lời thêm tiếng sợ điều thị phi. Nhìn cây nhánh lá đê mê! Vì con chim hót lời thề trăm năm. Chim buồn tung cánh biệt tăm. Nghe sâu gậm lá như tằm ăn dâu. Đường mây chẳng biết về đâu, uổng công ngọn núi bạc đầu đợi trông, núi cao buốt giá mùa đông, mặt trời bạc bẽo lạnh lùng bỏ đi như em bỏ thuở xuân thì, bỏ luôn hết thảy những gì ngày xưa, một thời hai đứa chung mưa, chung chiều “bát phố”, sớm trưa đón chờ. Nhiều khi chung cả giấc mơ. Ép khô hoa lá vào thơ hẹn hò. Tan trường áo trắng qua đò, dòng sông gió thổi buồn xo sóng ngàn, lục bình trôi nổi thành đàn, còn anh đếm bước lang thang phố chiều, nghe hồn cuối xuống tịch liêu, lòng thương nhớ biết bao nhiêu cho vừa. Đường về dù nắng hay mưa, tim anh thổn thức như vừa mới quen. Xa em sách vở ngọn đèn, và trang giấy tập cũng thèm đề thơ.
         Bên này sông chẳng gọi đò, bên kia đâu có ai chờ đợi anh. Cây dù cũng bạc màu xanh, chiếc xe đạp cũ bung vành nhớ ai? Hương tóc như thể còn đây, khu vườn hoa trái chứa đầy hương môi. Vậy mà đường đã rẻ đôi, vậy mà tình đã xa xôi muôn trùng. Nhạc lời ai hát tình chung, mà sao rưng rức cả khung trời buồn. Người ta vui dạo phố phường, riêng mình nhốt mộng người thương năm nào. Vầng trăng tròn khuyết hư hao, bao mùa nhung nhớ làm đau buốt lòng, ngàn sao chìm đáy nước sông, cô đơn ghế đá làm buồn công viên. Hạt mưa lất phất ngoài hiên, ai che nón lá chao nghiêng hướng đời. Pha màu áo thả chơi vơi, đôi tà áo trắng nhớ thời chớm yêu. Hàng cây bóng đổ liêu xiêu, lá vàng rụng nỗi cô liêu xuống đường. Kết chùm kỷ niệm mùa thương lên cành phượng đỏ sân trường phố xưa, tiếng ve hát khúc tình sầu, râm ran góc phố nghe đau lối về. Nỗi lòng xuống giọt cà phê, nhỏ trăm vị đắng làm tê điếng hồn. Nắng chiều vương vấn hoàng hôn, gió đan tóc rối mây còn nổi trôi. Môi ai ướt mộng chung đời, mắt xưa thăm thẳm lã lơi phiến sầu. tiếng chim hót ở cành cao, như ru cây lá lao xao điệu buồn. Dòng sông uốn khúc xa nguồn, biết chăng con nước quặn lòng cuồng lưu. Mây ngàn lơ lửng vô ưu, sao mình thất lạc cõi mù tình si? Bướm đàn nhớ những hẹn thề, lượn quanh hoa trắng say mê nhụy vàng. Con ong hút mật huỳnh - đàn, cành hoa tươi thắm điểm trang dáng chiều
             Dòng sông rộng chở buồn hiu, thả muôn lượng nhớ theo chiều nước trôi. Điếu thuốc cháy đắng bờ môi, nghe trăm cọc nhọn chẻ đời ly tan - lá me rơi lệ hàng hàng, nỗi lòng anh rụng ngổn ngang phiến tình, phiến nào cắt thấu tâm linh, phiến nào nhưng nhức nỗi mình nỗi em? Ai làm thổn thức màn đêm, để cơn gió nhẹ chạm rèm song thưa. Mù sương gối mộng canh khuya, nghe giun dế hát lời chia ly buồn. Ôm đàn khải khúc mưa tuôn, nghe môi son phấn tím hồn ăn năn, nụ hôn đắm đuối ngực trần, chỗ thơm ngây ngất gối chăn tơi bời, chỗ làm tiếng thở hụt hơi, mặt đất lắng đọng, mặt trời nhỏ nhoi. Vui mắt liếc, rộn tiếng cười, vòng tay nồng ấm bồi hồi nhớ nhau.
Tình yêu trả lại trăng sao. Áo em hư ảo cởi trao mây ngàn.
            Sáng ra nhìn cuối vuông sân, thèm chùm hoa cải thêu vàng áo em. Đưa tay dụi mắt ngó xem, thấy trong gió bụi nhiều bon chen đời. Tâm tình gậm nhấm đơn côi, lạc nơi đất khách thấy trời quá xa. Chiều rơi gió đuổi nắng tà, đèn đường cố níu phôi pha cuối trời. Áo tình gói gởi lòng côi, bờ môi còn đọng những lời hẹn xưa. Tóc em có giữ hương thừa, mắt em còn góc trời chưa bụi mờ, má hồng phớt nắng tinh mơ, đôi chân nhịp guốc chạm bờ lãng du. Ái tình gối mộng thiên thu, ngàn năm hương sắc, hoa yêu gọi mời.
            Trăng treo chót vót ngọn đồi - đồi ngàn năm nữa đơn côi bóng hình. Bỗng dưng thấy đá là mình, một trăm năm nữa lặng thinh lót đường, nghe mình với đá sầu vương, xôn xao ký ức bước chân ai về?
             Dựng lều thơ giữa trời quê, gom bao chữ nghĩa dệt đề tài em.
Trần Thị Hà Thân
Áo trắng
mảnh mai lụa là xưa em đó
em của hôm qua em ngày thơ
đường nắng chân về vô tư quá
em nhỏ học trò, em nhỏ mơ
những sáng mưa về ngang cửa lớp
em nhỏ học trò sao buồn so
ai ngó làm chi đôi mắt lạ
như gần như xa nỗi thật thà
trường lớp thênh thang khi vui đó
hiền hòa bút mực lúc thơm hương
bảng xanh bụi phấn hồng đôi má
áo trắng về xa có kẻ buồn
em nhỏ đôi lần đây trang sách
vỡ lòng nắn nót chữ ngu ngơ
có khi tay viết rồi đem giấu
giòng chữ bơ vơ thuở dại khờ
em nhỏ học trò không đi học
tháng chín quê người sao ngồi im
hay xưa trắng áo về trong gió
một mảnh hồn đơn thức dậy tìm
quên nhau
đi về vài tiếng chào nhau
phố hôm nay lạ
em sầu
mây giăng
người đi theo những bon chen
con đường hôm nọ bước quen, quên rồi
một hà thân
phận long đong
áo vàng hoàng hậu có là của em
người đi bỏ bến lênh đênh
đảo điên đời phút sầu riêng bến này
hôm nay xuống phố buồn tênh
em về buồn chạm môi cười - quên nhau ./.
cho nhau
Cần chi má phấn môi son
Ngực trần da thịt cho gần tim nhau
Môi hôn tìm vị ngọt ngào
Bàn tay chạm tưởng thiên đàng đâu đây!
Kim Oanh
Yêu!
Yêu ai đêm vắng thở than
Yêu Thu đêm đốt lá vàng tìm hương
Yêu ai thao thức canh trường
Yêu trăng từng sợi vấn vương mộng đời
Yêu ai lạc lối một thời
Yêu người trăng rụng xóa lời hẹn xưa
Yêu ai tóc nhạt màu mưa
Yêu người chẳng vẹn ...trăng thưa lụn tàn
Thương!
Thương trăng đây hỏi trăng nì
Trăng bao nhiêu tuổi xuân thì hởi trăng?
Thương rồi cần biết tuổi chăng?
Trăng này mười sáu đẹp vằn vặt soi
Thương trăng đây ướm đôi lời
Trăng bao tình ý duyên đôi không rời ?
Thương tình tha thiết không lơi
Trăng dõi chung bước cuộc đời tình si
Thương trăng đây hóa chim di
Trăng lặn đầu núi đây ghì bóng theo
Thương yêu vượt suối núi trèo
Trăng mười sáu tuổi trong veo tình đầy.
Ghét!
Ghét ta cứ mãi mộng mơ
Ghét ta cứ niú dây tơ giữa trời
Ghét ta hồn lạc trùng khơi
Ghét ta tơ tưởng Trăng ơi yêu người
Ghét ta lòng tạc ngậm ngùi
Ghét ta tìm bóng chôn vùi thanh xuân
Ghét ta chối bỏ bâng khuâng
Ghét ta chẳng nhốt Trăng. ..dâng tim này!
Ghét ta than thở canh dài
Ghét ta sầu vướn tình đày vực sâu
Ghét ta vuột mất tình nhầu
Ghét ta vò võ canh thâu …Trăng tàn
Chu Thụy Nguyên
Khi khói quyện thơ bay
Chợt cùng rừng. Lá hoài xếp muộn
Trầm mặc đêm. Mưa lũ đã cuồng
Ta nhặt nhạnh ta. Hài nhi lem luốc
Trời bên đường. Giông bão mưa tuôn
Sao cứ hỏi. Tìm gì mê mãi?
Câu thơ ngậm đùa. Đôi chút bâng quơ
Áo em tím. Hay cả trời bỗng tím
Lúc quay về. Lòng chặt dạ ngu ngơ
Ngẫm con chữ. Bay hình ảo bóng
Đồi không tên. Lòng cũng u minh
Đàn tích tịch. Hồ lô muội khói
Người đi rồi. Đi thật vô tình
Gió siêu độ. Lá hoa tịnh độ
Một rừng thu. Hay mỗi mình thu?
Leo lét lắm.Đường heo hút lạnh
Gần hết đời. Bỗng cám cảnh âm u
Lúp xúp bạc. Đầu trườn hung hản
Lầm bầm cuồng nộ. Khóc than van
Khói lên cao ngất. Thơ bay chữ
Rớt vần xuống biển. Sóng tan hoang...
LỤC BÁT NGẤT NGÂY
1. Lụy
Mượn em
gò ngực nỏn nường
Để ru tạm
giấc
thiên đường rong chơi
Ngất mê
bầu bĩnh
ngải mời
Mênh mang da ngọc
nhịp
hơi thở mềm
Lạc thần đành
lụy
non tiên...
2. Bóng hình
Vẽ em
cái bóng hay hình?
Bữa sau đừng có theo
rình rập anh
Ôi chao! tục lụy
rõ rành. Nên
chăng thì chớ
thèm
manh chiếu tình
Thôi thì
theo bóng bỏ hình...
3. Tỉnh
Cơn mộng du
đến
hồi đêm
Ta đu dây khóc
cười nghiêng ngã tình
Ta mời
em
chén vô minh
Sao em chẳng cạn
để mình ta say?
Bây giờ
tỉnh
một mình đây...
Dương Thượng Trúc
Xuân viễn xứ!
Xuân sang tuyết trắng giăng sầu.
Không gian tím ngắt một màu thê lương.
Chập chùng hư ảnh khói sương.
Quắt quay nỗi nhớ cố hương xa mờ.
Buồn thương phủ kín nguồn thơ.
Niềm vui xưa cũng hững hờ quay lưng.
Xuân ơi! Sao nỡ lạnh lùng?
Để người xa xứ với cung nhạc sầu.
Hoàng hôn nhớ mẹ.
Ngoài hiên giọt nắng rã rời.
Hoàng hôn phủ xuống một trời cô liêu.
Chân mây lạc lõng cánh diều.
Như thân viễn xứ chín chiều ruột đau.
Thương mẹ già lắm biển dâu.
Thân cò lặn lội giãi dầu gió sương.
Mẹ ơi! Tình mẹ khôn lường.
Vỗ về con vạn nẻo đường chông gai.
Quê người nhìn hạt nắng phai.
Hướng về đất mẹ u hoài xót xa.
Chiều nay chắc mắt lệ nhòa.
Vời trông cánh nhạn giữa tà huy buông.
Mẹ về trong mơ
Đêm qua trở giấc não nề,
Chập chờn hình bóng mẹ về trong mơ.
Không gian lặng ngắt như tờ,
Thoáng đâu tiếng nhạc cung tơ giao hòa.
Hương trầm phảng phất gần xa,
Nụ cười mẹ nở như hoa Hải Đường.
Xiêm y mờ ảo khói sương.
Nhưng sao đôi mắt vương vương nét buồn?
Hay là mẹ trách hờn con!
Bởi bao ngày tháng mỏi mòn nhớ thương?
Bây giờ cách biệt ngàn phương.
Tiên cảnh hạ giới đôi đường phân ly.
Rồi mẹ lặng lẽ quay đi.
Giật mình tỉnh giấc, bờ mi lệ trào...
Trần Minh Hiền
Cho đời anh
khốn khổ muôn đời
Những khi vui anh tìm về với biển
Những khi buồn, biển phủ sóng choàng anh
Đêm hoang vu thấy hình em hiển hiện
Trong chiêm bao hạnh phúc hiền lành
Hoa vẫn nở nơi bến bờ hiu quạnh
Trăng lung linh một mảnh lạnh lùng
Gió bãng lãng thổi ngang trời ương ngạnh
Như vần thơ say ngủ chốn muôn trùng
Chỉ còn lại những sắc màu sai đúng
Trên bức tranh của ngày tháng mơ hồ
Anh vẫn biết em vẫn còn làm nũng
Cho đời anh khốn khổ muôn đời
Như Phong
Dưới trăng  
uống rượu nhớ tiền nhân
Lảo Lý si tình ôm trăng mà chết
lảo Hàn ghen rao bán trăng chơi
ta ngốc nghếch mời trăng uống rượu
rượu với trăng là bạn muôn đời
ta gởi tình mình cho trăng và gió
ta thấm đòn đời như có như không
ta có cuộc tình như còn như mất
như trăng tròn khuyết giữa trời mênh mông
ta bỗng thương ta một đời quay quắc
trăm năm xuôi ngược bỗng chốc trăm năm
thương quá nấm mồ bên bờ Anh Vũ
trăng lầu ông Hoàng lạnh ngắt đêm đông
đêm nay thật buồn mời trăng uống rượu
cổ tích ngàn sau kể chuyện lạ thường
chuyện kẻ lưu vong mời trăng uống rượu
chuyện bóng trăng trôi giữa sóng Tiền Đường
thương nhớ cố hương đau lòng Lảo Lý
trăng treo cành Liễu thương quá lão Hàn
ngẫn mặt ta mời trăng tròn một chén
ngất ngưỡng ta say lên ghẹo chị Hằng
Phạm Thị Cúc Vàng
Trái tim nhỏ xíu
Trái tim em nhỏ xíu xiu
Nứt ra muôn mảnh qua chiều rơi nhanh
Nàng thơ áo lụa mong manh
Khoác lên mây trắng dạo quanh bầu trời
Trái tim sao rối bời bời
Quàng xiên nhịp đập rung lời yêu anh
Ghé ngày vội chút nắng hanh
Là thuyền em đã tròng trành bến xa
Hỏi tình
Nơi ấy đậm hình xưa-tóc ngắn
Em về buổi sáng khói mù giăng
Hàng dương lặng rũ lòng thơ dại
Dốc núi nghiêng đùa sương giá băng
Trời thắp nụ buồn đôi mắt ướt
Khách ru niềm nhớ trái tim căng
Thời gian sóng sánh tình chưa cạn
Tình hỏi tình sao nỡ cách ngăn?
Trăng thơ
Tặng những ai không còn dịp ngắm trăng
Trăng vẫn chứa đầy trong túi mơ
Trăng nghiêng từ lúc biết mong chờ
Trăng xanh rèm mắt khơi dòng nhớ
Trăng thắm nguồn tim thả ánh tơ
Trăng vẽ đêm sương màu bối rối
Trăng gieo hồn mộng nét vu vơ
Trăng rằm tròn trĩnh soi năm tháng
Trăng nhả ngọc ngà trên cánh thơ
Lời mời
Mời người khuyấy động đời ta
lời xin chìm cõi ta bà, còn đâu?
khoét trong đêm tối vực sâu
soi vào đôi mắt đỏ ngầu vì yêu
chợt mong con nắng đổ liều
để khuya nghe ấm câu Kiều ngày xuân
hỏi sao tình cứ lần khân
quẹo quanh , gấp khúc dày tần số đau
dây tơ chẳng cột vào nhau
thì mơ - cổ tích trầu cau - mơ buồn
Trần Thị Dã Quỳ
Dạ ký
Cuối trời mây tím bay phiêu lãng
Em cũng mộng du với tháng ngày
Chiều nghiêng phố cũ sầu hoang vắng
Mắt ướt lệ nhòa anh có hay???
Vẫn biết từng đêm đêm thức trắng
Van em đừng khóc, nước mắt cay
Dù cho rượu nhạt, chiều đã vắng
Trong anh vẫn mãi dậy men say.
Đêm nay em sẽ về bắt mộng
Nhốt lại hơi quen của những ngày
Có nụ hôn mềm, đêm nguyệt động
Hai đầu thương nhớ đến quắt quay.
Hãy cứ như là trời cao rộng
Vẫn có chim bay chẳng đổi thay
Hãy cứ như là dòng sông chảy
Có lục bình trôi mây chẳng bay.
Anh ơi! lại nhớ con đường cũ
In dấu anh qua chẳng nhạt nhòa
Nhớ gì đến nỗi thành ngơ ngẫn
Buồn không trang điểm chẳng cài thoa.
Đã biết từ ngàn xưa khổ lụy
Từ thương từ nhớ, ẩn phong ba
Nhưng trái tim người là nhục thể
Vẫn cần hơi ấm sợ phôi pha.
Thôi thì hãy cứ như thế nhé
Giữ chặt cho nhau chút mộng lành
Cuộc đời biến ảo vô thường lắm
Chút tình yêu muộn vốn mong manh.
Dương Quân
Đợi nắng
Hình như nắng mới vừa sang
Chợt lay giấc ngủ muộn màng cuối đông
Hình như nắng rớt ngoài song
Chờ em tô điểm má hồng du xuân.
Trong mây chim hót ngập ngừng
Cành cao trơ trọi nẩy mầm lá non
Em về vẽ thắm môi son
Quên ngày mưa gió mỏi mòn tuyết sương.
Ta về gom nắng soi gương
Thấy ê chề những nẻo đường thế nhân
Đâu còn ngày cũ thanh xuân
Gặp em cứ ngỡ chập chờn chiêm bao.
Hình như nắng vẫy tay chào
Áo em thấp thoáng ngõ vào tương tư
Mùa đông em bắt ta chờ
Sang xuân ta lại làm thơ đợi người.
Hình như nắng đến đây rồi
Cho em thôi khóc sụt sùi đêm mưa
                                                                
Khai Nguyên       
Bóng đại bàng
Nghêu ngao hát với cây đàn
Bỗng đâu nước mắt lại tràn bờ mi
Ngồi đây nghe chuyện thị phi
Tự dưng mở miệng cười khì rõ điên
Trời đày chịu cảnh Trích tiên
Đại bàng gãy cánh hết phen vẫy vùng
Ngước lên mây trắng chập chùng
Nhớ thời ngang dọc mà lòng xót xa.
Tuy rằng ta vẫn là ta
Dù cho bão táp mưa sa mặc đời
Biển kia bão nổi sóng dồi
Vẫn mơ tung cánh giữa trời bao la.
Xuân Bích
Cung tình mưa
Sợi mưa mùa liêu xiêu
mờ không gian ban chiều
hồn thơ nghe sướt mướt
trên lối xưa tiêu điều
           
cơn mưa ươm mùa đông
giá băng xưa lên đồng
gọi người yêu vén tóc
cho mi lệ cài song
trên đường trần mưa bay
đưa ta qua phiên này
dù ngày mai có nắng
vẫn là mưa hôm nay
           
mưa rơi rơi lặng lờ
rơi như tình vu vơ
trong giấc mơ chiều lạnh
như tương tư giả vờ
mưa rơi trên vai người
nghe hoang vu tiếng cười
giữa lạc loài cơm áo
giòng tông cạn chín mười
           
những yêu thương xa vời
từng đam mê rã rời
theo mưa về hội tụ
như cơn giông nửa vời
mưa rơi xanh mong chờ
rơi theo người bơ vơ
trong chiều đan ý nghĩ
vào quê hương cõi bờ
                                                            
Dạ Dung Vũ
Vấn duyên
Tặng riêng hàn sĩ chút dịu dàng
của phù dung nở muộn màng đêm xuân
Pháo hoa nở ấm đêm xuân
Duyên thừa không khỏi phân vân bàng hoàng
Tình thơ đón nửa hồn hoang
Em đây ngơ ngẩn, ơi chàng biết không?
Đoạn trường đau đáu tơ lòng
Cũng nghe nỗi nhớ thơm nồng thịt da
Hình nghiêng trở bóng thiết tha
Đêm ba mươi, gọi… hồn ma lưu đày
Bầu rượu lạnh nhỏ máu say
Chuyền tay ly cạn quắt quay đường về
Về đâu?... chung một cõi mê
Trần ai chỉ lắm não nề gian truân
Bến yêu chững lại ngại ngần
Vàng hong tóc rối lựa lần thời gian
Thôi thì tháp cánh thiên thần
Ta du mộng ảo đường trần thiên thai
Hồ ly hóa kiếp trang đài
Nho sinh bẻ bút hòa hài cung thương
Thoắt canh một giấc vấn vương
Lay chồng vợ gọi, mơ hương nơi nào
Em kìa,… là giấc chiêm bao
Bên anh chỉ có vườn đào của em
Đêm ba mươi quá êm đềm
Nồng say ngất ngưỡng bên thềm xuân phân
Hồn hoang trả giấc phong trần
Chiêm bao tỉnh mộng hồ cầm thi thơ.
Đinh Yên Thảo
Hình tượng Cha
trong phim Disney 
       Là một cây “đại thụ” trong kỹ nghệ giải trí dành cho tuổi nhỏ, Walt Disney trong nhiều thập niên qua vẫn luôn duy trì và cổ vũ những giá trị truyền thống qua những câu chuyện cổ tích, những mẩu chuyện tình lãng mạn cổ điển kết cuộc có hậu, tươi sáng. Tình yêu, hạnh phúc, lòng quả cảm, sự hy sinh, lòng cảm thông..., Disney từng bước đem các giá trị này vào trong phim và phần nào tạo ảnh hưởng đến nhiều thế hệ tuổi thơ. Hơn thế nữa, Disney đã lồng vào trong những thước phim của mình hiện tượng hay xu hướng xã hội đương thời, với những thông điệp mạnh mẽ và tạo sự suy nghĩ cho bậc cha-mẹ, nếu có dịp ngồi xem phim cùng con nhỏ. Một trong những thông điệp này là hình tượng người cha và mối quan hệ cha-con trong khá nhiều phim Disney, mà nếu đã xem qua, ắt người xem không khó nhận ra.
       Sau thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, nước Mỹ phát triển mạnh mẽ về kinh tế, khoa học, kỹ nghệ. Nhưng như những quốc gia phát triển khác, nước Mỹ cũng đối diện một số vấn đề xã hội, mà xu hướng và tỉ lệ ly dị là một. Áp lực trong đời sống kỹ nghệ cao, sự thay đổi các quan điểm về nữ quyền, mối tương quan nam-nữ trong xã hội... là vài điều có thể kể trong những nguyên nhân góp phần vào xu hướng xã hội này. Những luật lệ về ly dị trở nên thông thoáng hơn từ những năm thập niên 70, đã làm tăng vọt tỉ lệ ly dị, mà theo các số liệu thống kê từ Ủy Ban Dân số Hoa Kỳ, đã lên cao vào những năm thập niên 80. Luật pháp có những ưu ái cho người mẹ dành được quyền nuôi con và người cha chịu những trách nhiệm cấp dưỡng. Dù vậy, vì những lý do riêng biệt khác nhau trong mỗi gia đình, không ít những người cha đã tự mình nuôi dạy con nhỏ, đóng cả hai vai trò người cha lẫn mẹ. Đây là một khó khăn, đặc biệt với những người cha độc thân nuôi dạy con gái, đòi hỏi có những ứng xử đầy tế nhị trong việc hình thành tính cách và tâm sinh lý cho các em, vốn một người mẹ thì sẽ dễ dàng hơn trong việc chăm sóc hay hướng dẫn. Thêm vào đó, vai trò người mẹ cũng thay đổi khi bắt đầu tham gia xã hội một cách bình đẳng hơn. Người mẹ cũng đi làm và đòi hỏi người cha cùng quan tâm và gánh vác việc chăm sóc con nhỏ hay mọi việc trong gia đình, suy nghĩ về trách nhiệm với con cái của mình. Và đây là lúc Disney nhập cuộc một cách đầy dụng ý về hiện tương này, qua những bộ phim hoạt hình hay cổ tích tưởng như dành riêng cho trẻ nhỏ. Rất nhiều bộ phim của Diney hoàn toàn không có bóng dáng người mẹ. Hoặc được ẩn dụ xa xôi rằng đã chết từ lâu, hoặc qua đời trong một tai nạn nào đó hay bị sát hại ngay trong phim. Disney xây dựng hình tượng người cha, qua nhiều tính cách khác nhau và đặc biệt nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa cha và con gái.
        Bộ phim Nàng Tiên Cá (The Little Mermaid) dựa theo cổ tích Hans Andersen là một trong những phim tiên phong mang xu hướng này. Bộ phim vẽ ra chân dung một người cha nghiêm khắc, quyền uy và đầy mệnh lệnh là King Triton. Với ông, nàng tiên cá Ariel và các cô con gái dù là gia sản to lớn của mình, nhưng những phiền muộn từ khi Hoàng Hậu bị cướp biển sát hại, ông trở nên nghiêm khắc với các con và đưa đời sống Thủy Cung do ông cai quản trở thành lặng lẽ, muộn phiền, khi nghiêm cấm cả âm nhạc. Đây là mẫu người cha luôn với mệnh lệnh "Không", bất kể suy nghĩ, mong muốn gì từ con cái. Nhưng Ariel là một Công chúa đương tuổi trăng tròn đầy ngang bướng, luôn khao khát một đời sống tự do, khai phóng trên bờ. Trong khi các chị luôn sợ sệt, tòng phục trước người cha nghiêm khắc, Ariel lại luôn có những lý lẽ đối chọi với cha. King Triton xem con người là những một loài nguy hiểm để ngăn cấm các con lên mặt nước. Nhưng rồi ông vẫn không giữ nổi Ariel, khi một lần lẻn lên khỏi mặt nước, cứu sống để rồi yêu Hoàng Tử Eric-Hoàng tử của thế giới loài người, bị nạn. Eric không biết mặt người cứu mình mà chỉ biết rằng đó là một thiếu nữ có giọng hót thánh thót, đầy quyến rũ. Thế rồi cuộc tình giữa nàng Tiên Cá bé bỏng Ariel và Hoàng tử Eric cũng trải qua những gian nguy sóng gió, khi phù thủy Ursula đánh cắp giọng hát của Ariel, hóa phép thành thiếu nữ mang giọng hát Ariel để đánh lừa Eric và rồi bắt cóc cả Ariel. King Triton đã hy sinh cả ngai vàng của mình để đánh đổi sự tự do cho con gái. Eric khi nhận ra Ariel là người đã từng cứu sống mình, đã giúp đánh đuổi phù thủy Ursula, cứu Thủy Cung khỏi bị hủy diệt. Trở lại ngôi vua, King Triton nhận ra tình yêu mãnh liệt của con gái và Hoàng Tử loài người, ông dùng quyền năng của mình để hoá phép cho Ariel trở thành con người mà đám cưới cùng Hoàng Tử Eric. King Triton là mẫu người cha dù nghiêm khắc, xa cách nhưng cũng hy sinh tất cả, gạt bỏ những suy nghĩ khuôn khổ của mình để giúp con gái hướng đến một khung trời tự do, được chọn lựa hạnh phúc đời mình.
       Trong bộ phim Giai nhân và Ác Quỷ (Beauty and the Beast) ra đời đôi năm sau, Disney lồng trong cốt truyện cổ tích cổ điển quen thuộc với nhiều thế hệ, một câu chuyện cảm động khác về tình cha con. Bella là một nàng thiếu nữ mất mẹ, sống với tình yêu thương vô bờ của cha, không kém tình yêu thương mà Bella dành cho cha mình. Trái với King Triton, người cha Maurice trong Beauty and the Beast là một mẫu cha nghèo nàn nhưng tràn đầy yêu thương và trìu mến với con gái. Trong một lần đi lạc vào lâu đài của một Hoàng tử đang chịu lời nguyền trong lốt dã thú, người cha bị bắt giam. Bella đi tìm cha và đồng ý làm người bị giam cầm thay thế cho cha mình được tự do. Khi Maurice trên đường quay lại giải cứu cho con gái, ông gặp nguy hiểm trong rừng sâu và Dã Thú đồng ý để Bella đi cứu cha, một khi đã bắt đầu yêu Bella, cùng sự hy vọng rằng Bella sẽ giúp chàng hoá giải được lời nguyền sẽ trở lại con người khi có một thiếu nữ nào đó thốt lên câu yêu thương với mình. Khi nhóm trai làng tấn công lâu đài và Dã Thú bị thương, tưởng như đã tuyệt vọng thì Bella xuất hiện. Xúc động vì tình yêu và sự hy sinh của Dã Thú mà chàng phải gặp nạn, Bella đã quay lại lâu đài để thì thầm thố lộ tình yêu của mình. Hoàng tử, gia nhân và cả lâu đài chịu lời nguyền đã bừng sống, trở lại hình hài con người. Phim kết thúc khi cha nàng và các gia nhân vui vẻ nhìn Bella nhảy múa cùng Hoàng tử. Trái với sự quyền uy, khuôn phép, đầy cấm cản của vua cha King Triton trong The Little Mermaid, Maurice trong Beauty and the Beast là người cha bình dị, hoàn toàn để con gái tự dẫn dắt tình yêu của mình. Cả hai đều yêu thương và sẵn sàng hy sinh cho con, nhưng đi xa hơn hơn nữa, Beauty and the Beast cổ vũ một quan hệ cha-con tích cực hơn, khi chính Bella-người con, sẵn sàng hy sinh, đánh đổi nguy hiểm, gian nguy để giải cứu cho cha mình. Một tình yêu thương cha-con trọn vẹn và ý nghĩa hơn.
       Trong một số bộ phim về sau khác, tình cha con cũng được phác hoạ đậm nét hay bàng bạc trong suốt cuốn phim. Đó là câu chuyện của Tù trưởng Powhatan với con gái Pocahontas mất mẹ, trong bộ phim cùng tên. Pocahontas vượt khỏi sự nghiêm cấm của cha, khi yêu thuyền trưởng da trắng trong đoàn thủy thủ đi tìm vùng đất mới. Bộ phim cũng có những xung đột dữ dội, có những hy sinh của tình cha con, nhưng hơn vậy, Pocahontas lại đóng vai trò quan trọng khi làm người hòa giải cuộc xung đột giữa bộ lạc của cha mình cùng những người da trắng.
       Hay đó là câu chuyện của Công chúa Jasmine trong phim Aladin, khi vua cha Sultan cho phép Jasmin lấy người theo chọn lựa là Aladin. Tất cả những bộ phim kết thúc có hậu này không chỉ cổ súy tình cha con, mà còn nhắn gởi những thông điệp về sự tự do, chọn lựa của con cái khi đã trưởng thành.
        Cảm động hơn về tình cha con, là bộ phim Finding Nemo cuốn hút và được đón nhận nồng nhiệt trong thời gian gần đây. Nemo cũng là một chú cá con mất mẹ, sống với cha. Cá cha Marlin là người cha hết lòng lo lắng và bảo vệ cho đứa con duy nhất hết mực, từ khi mẹ Nemo bị một kình ngư sát hại, cũng như vì nghi ngờ khả năng của con vì Nemo là chú cá con bị tật nơi vây. Hình ảnh thất thần của cá cha Marlin khi Nemo bị thợ lặn bắt lên tàu, cũng như trong suốt hành trình tìm con đến tận Úc Châu đầy nguy hiểm của cá cha đã tạo nhiều xúc động cho người xem, không riêng gì trẻ nhỏ. Nemo lên kế hoạch trốn thoát, tái hợp cùng cha. Trên đường về nhà, dù ngần ngừ nhưng Marlin cũng đã để Nemo can đảm và thông minh giải cứu được cho bạn mình khỏi lưới cá. Marlin là khuôn mẫu người cha vì quá yêu thương mà bảo bọc quá mức cho con, nghi ngờ vào khả năng và sự trưởng thành của con cái để rồi nhận ra rằng chính những thử thách, hiểm nguy là cơ hội tôi luyện con mình đối diện và giải quyết những bất trắc của đời sống. Disney đã đặt tựa cho cuốn phim thật ý nghĩa, khi “Finding Nemo” mang ý nghĩa “tìm cứu Nemo”, nhưng cũng có thể còn cả ý nghĩa “kiếm tìm hay nhận thức” được khả năng đích thực của con mình.
       Và cuối cùng, trong bộ phim thần thoại gần đây hơn nữa là Enchanted, một bộ phim có ý tưởng mới mẻ hơn, khi Disney nối kết giữa thế giới hoạt hình-cổ tích với thế giới đời thường xảy ra tại New York. Trong bộ phim cũng là hình ảnh một người cha độc thân nuôi dạy cô con gái bé bỏng. Người cha là luật sư Robert mang hình ảnh một người cha khô khan, không muốn con mình tin vào những câu chuyện cổ tích đầy mơ mộng vì muốn con đối diện với thực tại đầy trắc trở. Sau vài thập niên, có lẽ Disney đã có thông điệp rõ ràng, mạnh mẽ và thẳng thắn hơn về vấn đề ly dị trong xã hội, khi cho cô bé Morgan trong phim thiếu mẹ vì cha mẹ ly dị. Nàng Công chúa Giselle từ thế giới cổ tích tuyệt đẹp, nơi mọi chuyện luôn kết thúc có hậu, đối diện với một thế giới thực tại phức tạp và nhiều xung đột hơn. Cô giận dữ khi thấy những cảnh ly dị tại hãng luật của Robert. Và cũng chính sự lãng mạn, lý tưởng hoá và lòng lạc quan mang theo từ thế giới cổ tích của mình, Giselle đã cảm hoá và thay đổi người cha khô cứng kia. Để rồi cuối cùng cả hai cùng đến với nhau khi nhận ra tình yêu dành cho nhau. Không còn né tránh hay che giấu sự thật, Disney chọn đem cái nhìn tươi sáng hơn khi khơi gợi những tín hiệu lạc quan, hy vọng hơn cho vấn đề ly dị vào trong phim cổ tích của mình.
Kể ra một vài bộ phim của Disney nói trên có thể chưa thể đầy đủ hết về tình cha con trong tất cả phim Disney, nhưng đó quả là những bộ phim Disney đậm nét nhất về những mối quan hệ cha-con. Dù có say mê và ít nhiều ảnh hưởng từ những giá trị chứa đựng qua các bộ phim này, nhưng những ẩn dụ, thông điệp trong phim không chắc những khán giả nhỏ bé sẽ hiểu được thấu đáo. Chúng dường như nhắm đến những người làm cha, làm mẹ nhiều hơn. Khi phần nào Disney tạo cho họ đôi suy nghĩ, dăm cảm xúc về tình yêu thương, nhắc nhở vai trò và trách nhiệm người cha của mình. Vì làm cha là một ân sủng, một hành trình khám phá ngược lại tuổi thơ của mình và sự học hỏi, cảm nghiệm không dừng. Cách riêng nào đó, chúng không chỉ cho người cha những giây phút vui thú diễm tuyệt khi cùng con nhỏ ngồi xem những bộ phim Disney, mà nó gợi mở cho họ rằng, hãy gạt bỏ những áp đặt đầy khuôn khổ, lòng sợ hãi, những suy nghĩ giới hạn và thực dụng của mình, để làm người chắp cánh cho con bay đến những khung trời ước vọng vô hạn. Bằng đam mê, ước nguyện và khả năng của mình. Ở đó là chân trời rộng mở, tự do, vượt thoát với những giá trị vĩnh cửu và hạnh phúc có thật.
Song An Châu
Màu hoa thương nhớ
Anh nhớ ngày xưa buổi đầu hò hẹn
Chiếc áo dài màu hoa tím em mang
Anh ngẩn ngơ trong giây phút bàng hoàng
Rồi hôn em trong niềm thương ưu ái.
Anh khẻ nói thầm “thương em mãi mãi”
Màu hoa tím buồn “như mắt lệ mi em”
Như  suối tóc em buông lơi  êm đềm
Ôm bờ vai tròn đong đầy nỗi nhớ.
Màu tím pensée giờ đây nhắc nhở
Niềm yêu thương còn đọng lại trong tim
Em yêu ơi! thời gian đã đắm chìm
Nhưng tình anh không phai trong quá khứ.
Giờ anh muốn nói đôi lời tình tự
Như ngày xưa “hai đứa dệt tình thơ”
Dù thời gian năm tháng có phai mờ
Anh vẫn giữ tình em trong nỗi nhớ.
Nhớ em anh chỉ thở dài
Riêng em không biết thế nào?
Còn anh vẫn nhớ thuở nào bên em
Canh khuya chợt dậy nhiều đêm
Nhớ em da diết… môi mềm em trao.
Lửa tình bỏng cháy dâng trào
Vòng tay âu yếm xiết vào thân anh
Đêm nay trăng rọi qua mành
Nhớ vòng tay ấm ôm anh vào lòng.
Bây giờ chăn chiếu trống không
Nhiều đêm vẫn nhớ một vòng tay ôm
Thân em tỏa ngát hương thơm
Mùi thơm dạ lý vẫn còn đến nay.
Dẫu cho ngày tháng năm dài
Thời gian theo gót vết hài em đi
Xe hoa pháo đỏ phân kỳ
Rượu nồng uống cạn… tiếc gì hỡi em?
Dù cho năm tháng dài thêm
Tình anh vẫn giữ đêm đêm nhớ hoài
Nhớ em anh chỉ thở dài
Sầu lan chăn chiếu… bởi ai dứt tình?...
Cái Trọng Ty
 Loài chim gõ kiến
rừng đá cuội lên non làm cửu vạn
vác đá mòn vai ngậm ngãi đắng cay
đêm gió hú âm u hồn thương tật
đêm tỉnh mê từ đáy vực ta về
thuở nạm ngọc hoang đường qua bến
tôi yêu em xe sợi tằm cuốn chỉ
cần mẫn đam mê
tiếng trống tàn canh
điểm quạnh quẽ nhân sinh
những miếu mạo tuyệt đường
nẻo về quê mất hướng
chim báo bão những âm vang huyền bí
nghe tự lầu không đồng vọng siêu âm
đêm hối hả mảnh trăng còn khuyết
em mệt nhoài tàn rụi lửa tro than
đêm ân ái hoa phù dung cay nghiệt
cuộc tình như son phấn kẽ môi em
tình bay tình sợi vướng sợi buông lơi
tít tắp chân trời đốm lửa bơ vơ
thưở nước thành mây mây tan tác
bướm với hoa những dị biệt phân thân
từ độ ấy cỏ cây tình liên viễn
những đời tình nương tựa cõi tai ương
Lưu Nguyễn Từ Thức
Chào nỗi nhớ
Cửa phi cơ mở toang nỗi nhớ
Đưa tôi về lại chốn thân thương
Trời quê hương nắng vàng rực rỡ
Chim líu lo giữa trời mây vương.
Đường quanh co dập dìu xe cộ
Tiếng còi xe mừng đón tôi về
Nắng trưa hè quanh tôi nhảy múa
Lòng tôi nghe ấm áp tình quê.
Chào Sàigòn và chào nỗi nhớ
Chào người em đợi xe bên đường
Em có biết hồn tôi rộn rã
Được nhìn lại bầu trời yêu thương.
Muốn tung rải nhớ thương chất chứa
Khắp nẻo đường tôi đã đi qua
Muốn ôm cả Sàigòn yêu dấu
Có ai người hiểu thấu lòng ta?
Đêm quán trọ nhìn qua cửa sổ
Trời Sàigòn lấp lánh đèn màu
Hình bóng cũ ngập tràn tim nhỏ
Những người xưa giờ ở nơi đâu?
Tiếng hát ai nhẹ đưa trong gió
Hồn già nua nặng chĩu niềm riêng
Sàigòn xưa chìm vào quên lãng
Cười chưa bưa đã nhuốm muộn phiền.
Chào Sàigòn ngày vui tái hợp
Rượu chưa say mà trăng đã tàn
Giờ hội ngộ sao mà quá ngắn
Nụ cười vui xếp vào hành trang.
Thành phố xưa một lần gặp lại
Vui rộn ràng lẫn buồn chứa chan
Ngày tháng cũ ân tình chất ngất
Chào Sàigòn nỗi buồn riêng mang.
Hà Túy Mộng
Chăn chiếu cũng chờ
Vàng lên khói thuốc vờn bay
Vào trong nỗi nhớ gọi say mê về
Cùng em chăn chiếu hôn mê
Giữa đêm lộng gió rót tê tái đời.
Nói lời thật tưởng như chơi
Anh ơi! Nỗi nhớ không rời trong em
Gặp anh em sẽ bắt đền
Nhớ đêm say ngất nhớ lên bội phần
Hãy mau lên chớ ngại ngần
Đừng như chăn chiếu giận hờn đắn đo
Hỡi anh cánh bướm vườn mơ
Mau về chung mộng đề thơ động phòng.
Thoảng một mùi hương
Mùi thơm là tự ở người
tinh dầu trang điểm giỡn chơi ấy mà
như hoa và bướm thoáng qua
gần xa gì cũng đã là có nhau
dù thoáng chốc cũng hữu cầu
nhớ gì như thể ngàn sau vẫn cần
tự dưng lòng như phong vân
thẩn thờ vì nhớ bội phần đợi trông
Anh ơi bên ấy mùa đông
quê nhà nắng ấm xuân hồng đang vui.
biết dùm em, bướm mộng rơi!
mùa đông lạnh lắm, giữa trời bơ vơ
nhớ anh tình thật không vờ
như thu lá rụng còn trơ cây buồn.
Thật lòng nói nhỏ chút luôn
Nhớ anh đến độ mất hồn biết không.
Miên Du Đà Lạt
Cali sầu đông nhớ đà lạt
Cali chớm lạnh buổi đầu Đông
Mưa gió se se buốt giá lòng
Một chút lửa hồng xin sưởi ấm
Tình người viễn xứ vẫn hoài mong
Nhớ xưa Đàlạt sương rơi lạnh
Tượng núi Lâm Viên một bóng nằm
Lấp lánh Xuân Hương hồ gợn sóng
Chờ ai Than Thở khóc trăm năm
Hỏi em còn nhớ mùa Đông cũ
Chung bước bên nhau, bước ngại ngần
Ứớc ao hôn được bờ môi thắm
Vụng về, anh vội... bỗng ăn năn!
Đà-Lạt mơ hoài trong giọt nhớ
Ca-li khắc khoải bởi chung tình
Đông sầu cây lá trơ trong gío
Lẻ bóng ta buồn đêm Giáng Sinh
Trần Việt Cường
Chờ nhau vẫn mãi chờ nhau
đêm sâu mưa nhỏ giọt buồn
bên hiên lạnh giá xót lòng nhớ nhau
vầng trăng khuất bóng còn đâu
để vần thơ cũng gục đầu ngủ quên
về đâu ngày tháng mông mênh
trái tim tù tội buồn tênh giữa đời
buồn tôi lệ nhỏ không lời
hoa tàn héo rũ vẫn mời tay ai
ngậm ngùi xuân đã tàn phai
gió mưa vùi dập lá lay sóng nhồi
chỉ còn một chút tình thôi
em xin trao nốt tặng người phương xa
cuối đường về giữa sân ga
chuyến tàu mòn mỏi người qua chưa về
chờ nhau dù phải ê chề
chờ nhau dù trải qua mê sảng đời....
mai về gầy lại cuộc chơi
mặc làn khói trắng giữa hơi thở buồn
anh là thuyền nhỏ không buồm
trôi theo sóng gió dỗi hờn riêng mang
mai về thuyền nát thân tàn
vẫn lên tiếng gọi nhập đàn cùng em
chỉ là sợ em lại quên
vì thời gian chẳng lạ quen với người
thời gian oan nghiệt em ơi!
mặc ai cười khóc mặc đời tang thương.
Chỉ mong em mộng bình thường
Mai về chăn chiếu đêm trường có nhau
Ta xây lại mộng ban đầu
Cho dù bạc tóc áo nhàu cũng cam.
mai về chung bóng đường mưa
vầng trăng năm cũ vẫn chưa nhạt màu
đêm dài thôi khóc tình sầu
bên anh như thưở ban đầu mới yêu
không còn soi bóng hắt hiu
trước hiên sân lạnh phủ rêu đợi chờ
hình như gió động đường tơ
ru câu tình tự lời thơ đậm đà
trao nhau dấu ái ngọc ngà
dù cho nắng đã xế tà bên hiên
dìu nhau quên hết ưu phiền
bóng hình chung đổ chiều nghiêng giao hòa...
Luân Tâm
Hoa tình em yêu anh
Hoa tình em yêu anh ơi ...
Em cỏ ngọt anh rong thơm trứng cá
Ao sen hồng gót nhỏ gió sóng xoay
Đường mắc cỡ có may bay áo cưới
Con dế mèn bửa củi an ủi mây
Anh đu đủ em bòn bon măng cụt
Nhãn lồng không bong bóng lạnh chim quyên
Lá sầu riêng mẹ ghiền hương áo ngủ
Cò ma con cúm núm nhúm lửa thiêng
Em chong chóng anh bìm bìm bèo bọt
Lá me non nấu nước tắm mát da
Cu đất nước nhớ trời kêu ba tiếng
Tết vội vàng sao lệ đá đa đa
Anh gốc mít em bờ ao rau má
Lục bình bông chấm mắm kho thèm yêu
Bìm bịp kêu mỏi mê mùi vọng cổ
Me dốt hồng môi rượu ngọt chín chiều
Em bắp nướng anh khoai lùi bếp ấm
Bướm ong ghen châu chấu quấu cào cào
Nai xuồng núi thỏ lên rừng nhân thế
Ngậm ngải tìm trầm khao khát trăng sao
Anh tóc ngắn em tóc dài mưa nắng
Chở che nhau nương náu chung hồn quê
Núi đá nát bể vàng phai kinh kệ
Tay chân không cát bụi chuối sau hè
Em vui khóc anh buồn cười trốn học
Nâng yêu mê nghìn kiếp hứng môi mưa
Giọt sữa non tình tròn ăn mật gấu
Giọt tình già tương cà câu ca xưa
Anh hát em đàn bầu cua cá chép
Giáng tuyết giáng tiên giáng ngọc giáng hương
Hoa mưa bướm nắng hồng môi bốc khói
Suối hồng đào hiền dịu chảy văn chương
Hoa tình em yêu anh ơi....
Thái Bạch Vân  
 Vườn Yêu Nhẹ Bước                                                                                
Tình yêu ơi! gặp gỡ... chi?
Mà sao tạc dạ khắc ghi thế này!
Tưởng rằng đôi ngả chia tay
Thôi thì xóa hết những ngày dấu yêu!?
Ngờ đâu... chẳng sót một  điều
Nhớ ngày nắng ấm, nhớ chiều mưa ngâu.                        
Cùng chung chia muộn, xẻ sầu
Câu thơ xướng họa bên nhau chẳng rời
Vườn yêu... nhẹ bước chơi vơi
Mắt, môi như vẽ ngời ngời gấm thêu…
Lời trao... mật rót êm đềm
Sóng lòng rào rạt, đầy thềm luyến lưu
Giờ đây người đã phiêu diêu
Tình ta vẫn tựa thủy triều ngập dâng!!
Mộ phần cỏ trắng... sương ngân  
Bao năm trọn đủ bao lần Thu phân!
Trần Thị Hà Thân
Áo trắng
mảnh mai lụa là xưa em đó
em của hôm qua em ngày thơ
đường nắng chân về vô tư quá
em nhỏ học trò, em nhỏ mơ
những sáng mưa về ngang cửa lớp
em nhỏ học trò sao buồn so
ai ngó làm chi đôi mắt lạ
như gần như xa nỗi thật thà
trường lớp thênh thang khi vui đó
hiền hòa bút mực lúc thơm hương
bảng xanh bụi phấn hồng đôi má
áo trắng về xa có kẻ buồn
em nhỏ đôi lần đây trang sách
vỡ lòng nắn nót chữ ngu ngơ
có khi tay viết rồi đem giấu
giòng chữ bơ vơ thuở dại khờ
em nhỏ học trò không đi học
tháng chín quê người sao ngồi im
hay xưa trắng áo về trong gió
một mảnh hồn đơn thức dậy tìm
Chu Thụy Nguyên
Khi khói quyện thơ bay
Chợt cùng rừng. Lá hoài xếp muộn
Trầm mặc đêm. Mưa lũ đã cuồng
Ta nhặt nhạnh ta. Hài nhi lem luốc
Trời bên đường. Giông bão mưa tuôn
Sao cứ hỏi. Tìm gì mê mãi?
Câu thơ ngậm đùa. Đôi chút bâng quơ
Áo em tím. Hay cả trời bỗng tím
Lúc quay về. Lòng chặt dạ ngu ngơ
Ngẫm con chữ. Bay hình ảo bóng
Đồi không tên. Lòng cũng u minh
Đàn tích tịch. Hồ lô muội khói
Người đi rồi. Đi thật vô tình
Gió siêu độ. Lá hoa tịnh độ
Một rừng thu. Hay mỗi mình thu?
Leo lét lắm.Đường heo hút lạnh
Gần hết đời. Bỗng cám cảnh âm u
Lúp xúp bạc. Đầu trườn hung hản
Lầm bầm cuồng nộ. Khóc than van
Khói lên cao ngất. Thơ bay chữ
Rớt vần xuống biển. Sóng tan hoang...
Dương Thượng Trúc
Xuân viễn xứ!
Xuân sang tuyết trắng giăng sầu.
Không gian tím ngắt một màu thê lương.
Chập chùng hư ảnh khói sương.
Quắt quay nỗi nhớ cố hương xa mờ.
Buồn thương phủ kín nguồn thơ.
Niềm vui xưa cũng hững hờ quay lưng.
Xuân ơi! Sao nỡ lạnh lùng?
Để người xa xứ với cung nhạc sầu.
Hoàng hôn nhớ mẹ.
Ngoài hiên giọt nắng rã rời.
Hoàng hôn phủ xuống một trời cô liêu.
Chân mây lạc lõng cánh diều.
Như thân viễn xứ chín chiều ruột đau.
Thương mẹ già lắm biển dâu.
Thân cò lặn lội giãi dầu gió sương.
Mẹ ơi! Tình mẹ khôn lường.
Vỗ về con vạn nẻo đường chông gai.
Quê người nhìn hạt nắng phai.
Hướng về đất mẹ u hoài xót xa.
Chiều nay chắc mắt lệ nhòa.
Vời trông cánh nhạn giữa tà huy buông.
Nguyễn Đức Nhơn
Lục bát bốn câu
1.
mấy mùa mưa nắng đìu hiu
một thân trơ trụi giữa chiều mây giăng
bỗng dưng lòng thấy băn khoăn
hình như em nói ngàn năm còn chờ!…       
2.
mịt mùng đất việt trời ngô
lệ giai nhân chảy mờ cô tô đài
nỗi lòng biết ngỏ cùng ai
ngùi trông cố quốc mơ ngày hồi hương…     
3.
từ ngày em bỏ đi xa
đời ta như những cánh hoa gục đầu
tìm em? ừ biết tìm đâu!
thôi đành lên núi cạo đầu đi tu!...
4.
một đời gỗ đá rong rêu
sóng tình chìm lắng giữa chiều hoang vu
cạo đầu lên núi đi tu
ủa sao tình vẫn rối bù trong tim?!...      
5.
ngàn hoa tím nở giữa trời
lòng ta cũng tím giữa đời phù hư
nhạc lòng dạo khúc tương tư
tái tê cung bậc, nát nhừ ruột gan.
6.
vầng dương thoi thóp bên đồi
tình ta cũng chết từ hồi sơ sinh
em như con bóng theo hình
đuổi ta suốt cuộc hành trình về xuôi…
7.
sương giăng mù mịt đất trời
ta con đò nhỏ một đời lênh đênh
vượt bao sông nước bồng bềnh
tóc râu đã bạc còn quên ngày về!...
8.
tàn thu con nước thầm thì
bờ khe rêu phủ xanh rì dấu xưa
một cành hoa dại đong đưa
nước dâng tới gáy còn chưa giật mình!
9.
mịt mùng sương phủ đầu non
nửa khuya một mảnh trăng tròn lẳng lơ
lòng ta dường cũng mù mờ?
bóng người đã khuất còn mơ nỗi gì!    
10.
đèn đêm soi bóng sông dài
tóc mây từng sợi lén phai trên đầu
sông còn chưa biết nông sâu
ủa sao em biết kiếp sau làm người?!...  
Phạm Ngũ Yên
PHẠM TƯƠNG NHƯ:
SÔNG CHẢY QUA ĐỜI
1.
Sáng nay chiếc lá rụng bên thềm. Màu lá còn xanh như nói lên một tình yêu chưa thành hình. Nhưng nỗi buồn thì mênh mông.
Có một thi sĩ đã viết xuống những lời thơ như tiếng sông chảy qua đời, không dừng lại ở bến bờ nào hết. Người thi sĩ đã chờ đợi bao nhiêu năm- bao nhiêu tháng ngày- để đánh thức trong lòng tôi nỗi hoài nghi về một đau buồn chín đủ? Tôi không nhớ rõ nhưng chắc trên những lời thơ vừa đậu xuống trên chiếc bàn viết quen thuộc từ nơi chốn quen thuộc hàng tuần- là quán cà phê- người thơ đã không thể dấu biệt hơi ấm nồng nàn của mình để làm đau một hồn lá.
Người thi sĩ đó là Phạm Tương Như.
Ngày xưa, khi Promethee trong huyền thoại chưa đem lửa xuống trần, nên trái tim con người lạnh úa thường xuyên và tình yêu cũng tím bầm tuyệt vọng.
Thơ của Phạm Tương Như hôm nay, trong một ý nghĩa nào đó, giống như ngọn lửa vừa bùng lên những sôi nổi vừa quay lưng lại với những dung tục đời thường. Những tiếng thơ hổn hển như tiếng lòng đưa chúng ta đi qua những chân trời, những bờ bến. Nơi sự mù lòa của tình yêu và sự thương tổn của quá khứ đan quyện vào nhau. Nơi mà cách đây không lâu chiến tranh đối với mỗi người còn là một kinh nghiệm nóng hổi.
Vì vậy, trong thơ Phạm Tương Như có đủ những màu sắc để làm nên một bố cục no đầy. Trong đó, bao gồm những giấc mơ, những tiếng cười, những xuân xanh cùng những tàn úa. Sự tuyệt vọng hay trổ hoa đều trở thành những kinh nghiệm kỳ thú.
Một ngày trong cõi thơ Phạm Tương Như người đọc sẽ không dễ dàng quên như là quên mưa nắng. Vì mưa thì thấm đất và nắng sẽ qua mau. Nhưng lời thơ của anh đọng lại làm nên những thao thức, những có và không. Những tình yêu cho đi và lấy về… Vẫn là một con đường, một góc phố, một sáng sương mù hay một chiều bâng khuâng gió. Nhưng những cảm nhận đó không giống như chúng ta. Khác với chúng ta. Đó là những cảm nhận óng ả tích lủy từ một quá khứ hôm qua, để bây giờ như bụi tro lả tả bay trên những tháng ngày tạm dung. Đó là những câu thơ của một mùa không ngủ. Và trên cùng, là những tấm lòng thủy chung từ những sầu đạo, khi những chàng trai, những cô gái vào đời. Họ dẫm lên bão giông và nghịch cảnh.
2/
Người ta nói một người làm thơ trong hoàn cảnh này, là một người can đảm. Vì thơ không trang trải được nhu cầu áo cơm hay chạm đến những nghịch cảnh của đời sống. Thơ cũng không phải dễ làm nếu tác giả không nắm bắt được mạch thơ và làm chủ được cảm xúc. Nhưng Phạm Tương Như là một trường hợp ngoại lệ. Anh làm thơ nhiều và thành công đến nỗi từ tập thơ thứ nhất và thứ nhì cách nhau chỉ trong một thời gian ngắn. Trong một khung cảnh nắng ấm và náo nhiệt của thành phố Houston, cách đây một năm, anh đã đem đến cho bạn bè và cho đời đứa con tinh thần đầu lòng của mình. Và mùa thu này, những độc giả từng mến mộ thơ Phạm Tương Như sẽ có dịp bồng bế trên tay một đứa con tinh thần khác, của anh. Điều đó đủ nói lên sự hiện hữu và vững vàng của một tiếng thơ không cần những bệ phóng.
Những đời xe đi qua lâu rồi trong một thành phố đầy gió. Để lại những òa vỡ quạnh quẽ trên đường. Nhưng một tác phẩm có giá trị thì không phải như vậy. Nó sẽ có một chỗ nằm trang trọng trong những ngăn lòng, những kệ nhớ. Nó sẽ tồn tại nơi khu vườn văn chương như một đóa hoa khép mình bỡ ngỡ. Nhưng mùi thơm còn quấn quít vào ra.
Có những điều mà một người thơ không cần phải nói hay viết xuống. Vì chính sự giản đơn tự nó tuôn trào trên mỗi mạch văn. Đó cũng là những xúc động mạnh mẽ nằm đàng sau mỗi trang bản thảo. Một lúc nào những xúc động kia sẽ trở thành làn gió để dù đi qua những mênh mông nhưng không có chỗ để dừng lại.
Buổi sáng mai hôm nay, tôi hi vọng thơ của Phạm Tương Như sẽ không dừng lại tại đây. Thơ của anh sẽ như một vầng trăng non ùa qua những ngực áo nồng nàn thiếu nữ. Để phục sinh và nghe ngóng trưởng thành…
Khai nguyên
Bóng đại bàng
Nghêu ngao hát với cây đàn
Bỗng đâu nước mắt lại tràn bờ mi
Ngồi đây nghe chuyện thị phi
Tự dưng mở miệng cười khì rõ điên
Trời đày chịu cảnh Trích tiên
Đại bàng gãy cánh hết phen vẫy vùng
Ngước lên mây trắng chập chùng
Nhớ thời ngang dọc mà lòng xót xa.
Tuy rằng ta vẫn là ta
Dù cho bão táp mưa sa mặc đời
Biển kia bão nổi sóng dồi
Vẫn mơ tung cánh giữa trời bao la.
Tìm em
Biết tìm em ở nơi đâu
Chia tay buổi ấy bên cầu năm xưa
Bờ xa hàng liễu bơ phờ
dưới dòng soi bóng hững hờ mây trôi
 Nhìn nhau muốn nói bao lời
 Mà sao căm nín miệng cười lệ tuôn
 Người đi gởi lại nửa hồn
 Người về mang nặng nỗi buồn cách xa
 Đành rằng mấy chục năm qua
 Mịt mù chinh chiến mắt nhòa ngóng trông
 Cơn say muốn vút cầu vồng
 Tìm trong bão lửa dang hồng còn không
 Hằng đêm nến nhỏ giọt trong
 Quàng tay ôm trọn một vòng hư vô
Yên Sơn
Cảnh Đẹp Sông Côn
Đứng bên này Kiên Mỹ
Chợ Cây Cốc bên sông
Nằm trên Gò Ngựa Phú Phong
Mặt trời gác núi rán hồng… tuyệt luân
Nhìn bãi cát trắng phau
Ở Miễu Ông Xuân Hòa
Hàng ngàn cánh nhạn bay qua
Đẹp như tranh vẽ khi tà dương soi
Thôn Trinh Tường bờ tây
Thôn Phú Phong bờ đông
Biết rằng em đợi anh mong
Đá Hàng, Bến Lội cùng trông Chợ Chiều
Đò ngang qua Vĩnh Lộc
Nghe chuông Nện Sương giăng
Bóng cây xanh tỏa khói lam
Đẹp hơn “Yên Tự Vãng Chung” bên Tàu
Còn Nhớ Nhau Không
Xưa em áo trắng đài trang
Anh qua Bến Lội Đá Hàng thăm nhau
Về ngang bãi cát trắng phau
Miễu Ông, Cà Đáo một bầu trăng sao
Bây giờ áo trắng về đâu
Đò ngang Vĩnh Lộc đậm màu sương lam
Từ An Thái xuống Phú Phong
Cảnh như tranh vẽ bên dòng Sông Côn
Chờ nhau những buổi hoàng hôn
Hẹn nhau những sáng bên thôn Trinh Tường
Tóc tai dù đã như sương
Người xưa cảnh cũ vẫn vương vấn hoài
Ai thương ai, ai nhớ ai
Bao năm hồ dễ nhạt phai tình đầu
Sông Côn nước chảy về đâu
Để ta đứng lặng bên cầu buồn thiu
Cầu Về Thôn Năm Xưa
Cầu bắt ngang con rạch
(nhánh nhỏ của Sông Côn)
Ai về áo trắng đầu thôn
Cầu tre lắc lẻo chiều hôm học về
Em cầm vạt áo vân vê
Giận anh đón trễ vì mê đá cầu
Xuân Bích
Cung tình mưa
Sợi mưa mùa liêu xiêu
mờ không gian ban chiều
hồn thơ nghe sướt mướt
trên lối xưa tiêu điều
           
cơn mưa ươm mùa đông
giá băng xưa lên đồng
gọi người yêu vén tóc
cho mi lệ cài song
trên đường trần mưa bay
đưa ta qua phiên này
dù ngày mai có nắng
vẫn là mưa hôm nay
           
mưa rơi rơi lặng lờ
rơi như tình vu vơ
trong giấc mơ chiều lạnh
như tương tư giả vờ
mưa rơi trên vai người
nghe hoang vu tiếng cười
giữa lạc loài cơm áo
giòng tông cạn chín mười
           
những yêu thương xa vời
từng đam mê rã rời
theo mưa về hội tụ
như cơn giông nửa vời
mưa rơi xanh mong chờ
rơi theo người bơ vơ
trong chiều đan ý nghĩ
vào quê hương cõi bờ
                                                            
Dạ Dung Vũ
Vấn duyên
Tặng riêng hàn sĩ chút dịu dàng
của phù dung nở muộn màng đêm xuân
Pháo hoa nở ấm đêm xuân
Duyên thừa không khỏi phân vân bàng hoàng
Tình thơ đón nửa hồn hoang
Em đây ngơ ngẩn, ơi chàng biết không?
Đoạn trường đau đáu tơ lòng
Cũng nghe nỗi nhớ thơm nồng thịt da
Hình nghiêng trở bóng thiết tha
Đêm ba mươi, gọi… hồn ma lưu đày
Bầu rượu lạnh nhỏ máu say
Chuyền tay ly cạn quắt quay đường về
Về đâu?... chung một cõi mê
Trần ai chỉ lắm não nề gian truân
Bến yêu chững lại ngại ngần
Vàng hong tóc rối lựa lần thời gian
Thôi thì tháp cánh thiên thần
Ta du mộng ảo đường trần thiên thai
Hồ ly hóa kiếp trang đài
Nho sinh bẻ bút hòa hài cung thương
Thoắt canh một giấc vấn vương
Lay chồng vợ gọi, mơ hương nơi nào
Em kìa,… là giấc chiêm bao
Bên anh chỉ có vườn đào của em
Đêm ba mươi quá êm đềm
Nồng say ngất ngưỡng bên thềm xuân phân
Hồn hoang trả giấc phong trần
Chiêm bao tỉnh mộng hồ cầm thi thơ.
Tình
Mộng Lệ An bến dừng chân mơ
Một con tàu cổ bên bờ sông tương
Tình ơi một nắng hai sương
Hãy xin đọng lại cuối đường đời nhau
Xoá tan bao nổi u sầu
Dệt thiên khúc sử tinh cầu ngàn năm
Tình từ nơi chốn xa xăm
Len theo nắng hạ tơ tằm giăng giăng
Hái tình bởi ánh sao trăng
Tim ta thổn thức bao năm đợi chờ
Ơi người trong mộng ta mơ
Có chăng hạnh phúc bên bờ yêu thương
Mây Ngàn
Sóng nước
Hồn thơ như nước thủy triều
Chiều dâng sáng rút rong rêu đóng bờ
Nhớ hồi niên thiếu nên thơ
Đùa vui cát trắng bên bờ liễu xanh
Chiều chiều đứng ngắm bể khơi
Nghe chừng rạo rực tận nơi đáy lòng
Rạt rào cơn sóng bể đông
Vi vu gió rít hàng thông hững hờ
Bao giờ sóng nước bơ vơ ?
Đêm ngày ầm ỹ vỗ bờ đại dương
Giận ai sóng dập đá ghềnh
Làm tung vách núi tan tành lá hoa
Bao năm sống cảnh xa nhà
Hồn theo sóng biển phôi pha nỗi lòng
Quê hương mòn mõi đợi mong
Triều dâng bao sóng lòng sầu bấy nhiêu.
Đinh Yên Thảo
Hình tượng Cha
trong phim Disney 
       Là một cây “đại thụ” trong kỹ nghệ giải trí dành cho tuổi nhỏ, Walt Disney trong nhiều thập niên qua vẫn luôn duy trì và cổ vũ những giá trị truyền thống qua những câu chuyện cổ tích, những mẩu chuyện tình lãng mạn cổ điển kết cuộc có hậu, tươi sáng. Tình yêu, hạnh phúc, lòng quả cảm, sự hy sinh, lòng cảm thông..., Disney từng bước đem các giá trị này vào trong phim và phần nào tạo ảnh hưởng đến nhiều thế hệ tuổi thơ. Hơn thế nữa, Disney đã lồng vào trong những thước phim của mình hiện tượng hay xu hướng xã hội đương thời, với những thông điệp mạnh mẽ và tạo sự suy nghĩ cho bậc cha-mẹ, nếu có dịp ngồi xem phim cùng con nhỏ. Một trong những thông điệp này là hình tượng người cha và mối quan hệ cha-con trong khá nhiều phim Disney, mà nếu đã xem qua, ắt người xem không khó nhận ra.
       Sau thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, nước Mỹ phát triển mạnh mẽ về kinh tế, khoa học, kỹ nghệ. Nhưng như những quốc gia phát triển khác, nước Mỹ cũng đối diện một số vấn đề xã hội, mà xu hướng và tỉ lệ ly dị là một. Áp lực trong đời sống kỹ nghệ cao, sự thay đổi các quan điểm về nữ quyền, mối tương quan nam-nữ trong xã hội... là vài điều có thể kể trong những nguyên nhân góp phần vào xu hướng xã hội này. Những luật lệ về ly dị trở nên thông thoáng hơn từ những năm thập niên 70, đã làm tăng vọt tỉ lệ ly dị, mà theo các số liệu thống kê từ Ủy Ban Dân số Hoa Kỳ, đã lên cao vào những năm thập niên 80. Luật pháp có những ưu ái cho người mẹ dành được quyền nuôi con và người cha chịu những trách nhiệm cấp dưỡng. Dù vậy, vì những lý do riêng biệt khác nhau trong mỗi gia đình, không ít những người cha đã tự mình nuôi dạy con nhỏ, đóng cả hai vai trò người cha lẫn mẹ. Đây là một khó khăn, đặc biệt với những người cha độc thân nuôi dạy con gái, đòi hỏi có những ứng xử đầy tế nhị trong việc hình thành tính cách và tâm sinh lý cho các em, vốn một người mẹ thì sẽ dễ dàng hơn trong việc chăm sóc hay hướng dẫn. Thêm vào đó, vai trò người mẹ cũng thay đổi khi bắt đầu tham gia xã hội một cách bình đẳng hơn. Người mẹ cũng đi làm và đòi hỏi người cha cùng quan tâm và gánh vác việc chăm sóc con nhỏ hay mọi việc trong gia đình, suy nghĩ về trách nhiệm với con cái của mình. Và đây là lúc Disney nhập cuộc một cách đầy dụng ý về hiện tương này, qua những bộ phim hoạt hình hay cổ tích tưởng như dành riêng cho trẻ nhỏ. Rất nhiều bộ phim của Diney hoàn toàn không có bóng dáng người mẹ. Hoặc được ẩn dụ xa xôi rằng đã chết từ lâu, hoặc qua đời trong một tai nạn nào đó hay bị sát hại ngay trong phim. Disney xây dựng hình tượng người cha, qua nhiều tính cách khác nhau và đặc biệt nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa cha và con gái.
        Bộ phim Nàng Tiên Cá (The Little Mermaid) dựa theo cổ tích Hans Andersen là một trong những phim tiên phong mang xu hướng này. Bộ phim vẽ ra chân dung một người cha nghiêm khắc, quyền uy và đầy mệnh lệnh là King Triton. Với ông, nàng tiên cá Ariel và các cô con gái dù là gia sản to lớn của mình, nhưng những phiền muộn từ khi Hoàng Hậu bị cướp biển sát hại, ông trở nên nghiêm khắc với các con và đưa đời sống Thủy Cung do ông cai quản trở thành lặng lẽ, muộn phiền, khi nghiêm cấm cả âm nhạc. Đây là mẫu người cha luôn với mệnh lệnh "Không", bất kể suy nghĩ, mong muốn gì từ con cái. Nhưng Ariel là một Công chúa đương tuổi trăng tròn đầy ngang bướng, luôn khao khát một đời sống tự do, khai phóng trên bờ. Trong khi các chị luôn sợ sệt, tòng phục trước người cha nghiêm khắc, Ariel lại luôn có những lý lẽ đối chọi với cha. King Triton xem con người là những một loài nguy hiểm để ngăn cấm các con lên mặt nước. Nhưng rồi ông vẫn không giữ nổi Ariel, khi một lần lẻn lên khỏi mặt nước, cứu sống để rồi yêu Hoàng Tử Eric-Hoàng tử của thế giới loài người, bị nạn. Eric không biết mặt người cứu mình mà chỉ biết rằng đó là một thiếu nữ có giọng hót thánh thót, đầy quyến rũ. Thế rồi cuộc tình giữa nàng Tiên Cá bé bỏng Ariel và Hoàng tử Eric cũng trải qua những gian nguy sóng gió, khi phù thủy Ursula đánh cắp giọng hát của Ariel, hóa phép thành thiếu nữ mang giọng hát Ariel để đánh lừa Eric và rồi bắt cóc cả Ariel. King Triton đã hy sinh cả ngai vàng của mình để đánh đổi sự tự do cho con gái. Eric khi nhận ra Ariel là người đã từng cứu sống mình, đã giúp đánh đuổi phù thủy Ursula, cứu Thủy Cung khỏi bị hủy diệt. Trở lại ngôi vua, King Triton nhận ra tình yêu mãnh liệt của con gái và Hoàng Tử loài người, ông dùng quyền năng của mình để hoá phép cho Ariel trở thành con người mà đám cưới cùng Hoàng Tử Eric. King Triton là mẫu người cha dù nghiêm khắc, xa cách nhưng cũng hy sinh tất cả, gạt bỏ những suy nghĩ khuôn khổ của mình để giúp con gái hướng đến một khung trời tự do, được chọn lựa hạnh phúc đời mình.
       Trong bộ phim Giai nhân và Ác Quỷ (Beauty and the Beast) ra đời đôi năm sau, Disney lồng trong cốt truyện cổ tích cổ điển quen thuộc với nhiều thế hệ, một câu chuyện cảm động khác về tình cha con. Bella là một nàng thiếu nữ mất mẹ, sống với tình yêu thương vô bờ của cha, không kém tình yêu thương mà Bella dành cho cha mình. Trái với King Triton, người cha Maurice trong Beauty and the Beast là một mẫu cha nghèo nàn nhưng tràn đầy yêu thương và trìu mến với con gái. Trong một lần đi lạc vào lâu đài của một Hoàng tử đang chịu lời nguyền trong lốt dã thú, người cha bị bắt giam. Bella đi tìm cha và đồng ý làm người bị giam cầm thay thế cho cha mình được tự do. Khi Maurice trên đường quay lại giải cứu cho con gái, ông gặp nguy hiểm trong rừng sâu và Dã Thú đồng ý để Bella đi cứu cha, một khi đã bắt đầu yêu Bella, cùng sự hy vọng rằng Bella sẽ giúp chàng hoá giải được lời nguyền sẽ trở lại con người khi có một thiếu nữ nào đó thốt lên câu yêu thương với mình. Khi nhóm trai làng tấn công lâu đài và Dã Thú bị thương, tưởng như đã tuyệt vọng thì Bella xuất hiện. Xúc động vì tình yêu và sự hy sinh của Dã Thú mà chàng phải gặp nạn, Bella đã quay lại lâu đài để thì thầm thố lộ tình yêu của mình. Hoàng tử, gia nhân và cả lâu đài chịu lời nguyền đã bừng sống, trở lại hình hài con người. Phim kết thúc khi cha nàng và các gia nhân vui vẻ nhìn Bella nhảy múa cùng Hoàng tử. Trái với sự quyền uy, khuôn phép, đầy cấm cản của vua cha King Triton trong The Little Mermaid, Maurice trong Beauty and the Beast là người cha bình dị, hoàn toàn để con gái tự dẫn dắt tình yêu của mình. Cả hai đều yêu thương và sẵn sàng hy sinh cho con, nhưng đi xa hơn hơn nữa, Beauty and the Beast cổ vũ một quan hệ cha-con tích cực hơn, khi chính Bella-người con, sẵn sàng hy sinh, đánh đổi nguy hiểm, gian nguy để giải cứu cho cha mình. Một tình yêu thương cha-con trọn vẹn và ý nghĩa hơn.
       Trong một số bộ phim về sau khác, tình cha con cũng được phác hoạ đậm nét hay bàng bạc trong suốt cuốn phim. Đó là câu chuyện của Tù trưởng Powhatan với con gái Pocahontas mất mẹ, trong bộ phim cùng tên. Pocahontas vượt khỏi sự nghiêm cấm của cha, khi yêu thuyền trưởng da trắng trong đoàn thủy thủ đi tìm vùng đất mới. Bộ phim cũng có những xung đột dữ dội, có những hy sinh của tình cha con, nhưng hơn vậy, Pocahontas lại đóng vai trò quan trọng khi làm người hòa giải cuộc xung đột giữa bộ lạc của cha mình cùng những người da trắng.
       Hay đó là câu chuyện của Công chúa Jasmine trong phim Aladin, khi vua cha Sultan cho phép Jasmin lấy người theo chọn lựa là Aladin. Tất cả những bộ phim kết thúc có hậu này không chỉ cổ súy tình cha con, mà còn nhắn gởi những thông điệp về sự tự do, chọn lựa của con cái khi đã trưởng thành.
        Cảm động hơn về tình cha con, là bộ phim Finding Nemo cuốn hút và được đón nhận nồng nhiệt trong thời gian gần đây. Nemo cũng là một chú cá con mất mẹ, sống với cha. Cá cha Marlin là người cha hết lòng lo lắng và bảo vệ cho đứa con duy nhất hết mực, từ khi mẹ Nemo bị một kình ngư sát hại, cũng như vì nghi ngờ khả năng của con vì Nemo là chú cá con bị tật nơi vây. Hình ảnh thất thần của cá cha Marlin khi Nemo bị thợ lặn bắt lên tàu, cũng như trong suốt hành trình tìm con đến tận Úc Châu đầy nguy hiểm của cá cha đã tạo nhiều xúc động cho người xem, không riêng gì trẻ nhỏ. Nemo lên kế hoạch trốn thoát, tái hợp cùng cha. Trên đường về nhà, dù ngần ngừ nhưng Marlin cũng đã để Nemo can đảm và thông minh giải cứu được cho bạn mình khỏi lưới cá. Marlin là khuôn mẫu người cha vì quá yêu thương mà bảo bọc quá mức cho con, nghi ngờ vào khả năng và sự trưởng thành của con cái để rồi nhận ra rằng chính những thử thách, hiểm nguy là cơ hội tôi luyện con mình đối diện và giải quyết những bất trắc của đời sống. Disney đã đặt tựa cho cuốn phim thật ý nghĩa, khi “Finding Nemo” mang ý nghĩa “tìm cứu Nemo”, nhưng cũng có thể còn cả ý nghĩa “kiếm tìm hay nhận thức” được khả năng đích thực của con mình.
       Và cuối cùng, trong bộ phim thần thoại gần đây hơn nữa là Enchanted, một bộ phim có ý tưởng mới mẻ hơn, khi Disney nối kết giữa thế giới hoạt hình-cổ tích với thế giới đời thường xảy ra tại New York. Trong bộ phim cũng là hình ảnh một người cha độc thân nuôi dạy cô con gái bé bỏng. Người cha là luật sư Robert mang hình ảnh một người cha khô khan, không muốn con mình tin vào những câu chuyện cổ tích đầy mơ mộng vì muốn con đối diện với thực tại đầy trắc trở. Sau vài thập niên, có lẽ Disney đã có thông điệp rõ ràng, mạnh mẽ và thẳng thắn hơn về vấn đề ly dị trong xã hội, khi cho cô bé Morgan trong phim thiếu mẹ vì cha mẹ ly dị. Nàng Công chúa Giselle từ thế giới cổ tích tuyệt đẹp, nơi mọi chuyện luôn kết thúc có hậu, đối diện với một thế giới thực tại phức tạp và nhiều xung đột hơn. Cô giận dữ khi thấy những cảnh ly dị tại hãng luật của Robert. Và cũng chính sự lãng mạn, lý tưởng hoá và lòng lạc quan mang theo từ thế giới cổ tích của mình, Giselle đã cảm hoá và thay đổi người cha khô cứng kia. Để rồi cuối cùng cả hai cùng đến với nhau khi nhận ra tình yêu dành cho nhau. Không còn né tránh hay che giấu sự thật, Disney chọn đem cái nhìn tươi sáng hơn khi khơi gợi những tín hiệu lạc quan, hy vọng hơn cho vấn đề ly dị vào trong phim cổ tích của mình.
Kể ra một vài bộ phim của Disney nói trên có thể chưa thể đầy đủ hết về tình cha con trong tất cả phim Disney, nhưng đó quả là những bộ phim Disney đậm nét nhất về những mối quan hệ cha-con. Dù có say mê và ít nhiều ảnh hưởng từ những giá trị chứa đựng qua các bộ phim này, nhưng những ẩn dụ, thông điệp trong phim không chắc những khán giả nhỏ bé sẽ hiểu được thấu đáo. Chúng dường như nhắm đến những người làm cha, làm mẹ nhiều hơn. Khi phần nào Disney tạo cho họ đôi suy nghĩ, dăm cảm xúc về tình yêu thương, nhắc nhở vai trò và trách nhiệm người cha của mình. Vì làm cha là một ân sủng, một hành trình khám phá ngược lại tuổi thơ của mình và sự học hỏi, cảm nghiệm không dừng. Cách riêng nào đó, chúng không chỉ cho người cha những giây phút vui thú diễm tuyệt khi cùng con nhỏ ngồi xem những bộ phim Disney, mà nó gợi mở cho họ rằng, hãy gạt bỏ những áp đặt đầy khuôn khổ, lòng sợ hãi, những suy nghĩ giới hạn và thực dụng của mình, để làm người chắp cánh cho con bay đến những khung trời ước vọng vô hạn. Bằng đam mê, ước nguyện và khả năng của mình. Ở đó là chân trời rộng mở, tự do, vượt thoát với những giá trị vĩnh cửu và hạnh phúc có thật.
Song An Châu
Màu hoa thương nhớ
Anh nhớ ngày xưa buổi đầu hò hẹn
Chiếc áo dài màu hoa tím em mang
Anh ngẩn ngơ trong giây phút bàng hoàng
Rồi hôn em trong niềm thương ưu ái.
Anh khẻ nói thầm “thương em mãi mãi”
Màu hoa tím buồn “như mắt lệ mi em”
Như  suối tóc em buông lơi  êm đềm
Ôm bờ vai tròn đong đầy nỗi nhớ.
Màu tím pensée giờ đây nhắc nhở
Niềm yêu thương còn đọng lại trong tim
Em yêu ơi! thời gian đã đắm chìm
Nhưng tình anh không phai trong quá khứ.
Giờ anh muốn nói đôi lời tình tự
Như ngày xưa “hai đứa dệt tình thơ”
Dù thời gian năm tháng có phai mờ
Anh vẫn giữ tình em trong nỗi nhớ.
Nhớ em anh chỉ thở dài
Riêng em không biết thế nào?
Còn anh vẫn nhớ thuở nào bên em
Canh khuya chợt dậy nhiều đêm
Nhớ em da diết… môi mềm em trao.
Lửa tình bỏng cháy dâng trào
Vòng tay âu yếm xiết vào thân anh
Đêm nay trăng rọi qua mành
Nhớ vòng tay ấm ôm anh vào lòng.
Bây giờ chăn chiếu trống không
Nhiều đêm vẫn nhớ một vòng tay ôm
Thân em tỏa ngát hương thơm
Mùi thơm dạ lý vẫn còn đến nay.
Dẫu cho ngày tháng năm dài
Thời gian theo gót vết hài em đi
Xe hoa pháo đỏ phân kỳ
Rượu nồng uống cạn… tiếc gì hỡi em?
Dù cho năm tháng dài thêm
Tình anh vẫn giữ đêm đêm nhớ hoài
Nhớ em anh chỉ thở dài
Sầu lan chăn chiếu… bởi ai dứt tình?...
Tại em…
Tại em không nói yêu anh
Sao em lại trách mình đành lỡ duyên
Nay em ván đã đóng thuyền
Còn anh cũng đã nên duyên vợ chồng.
Dù tình ngày trước như không
Nhưng anh vẫn giữ trong lòng thương em
Ngày xưa hoa bướm cánh mềm
Phải chi cha mẹ đôi bên thuận hòa.
Cho nên duyên phận đôi ta
Như trong giông bão, bướm hoa chia lìa
Giờ đây đôi ngả phân chia
Bởi dòng sông lớn, bên kia em chờ.
Chờ cho con nước đầy bờ
Tình mình đã lỡ bao giờ gặp nhau
Ví đầu tình vẫn dạt dào
Em ơi! mình hãy nhớ nhau được rồi…
Cái Trọng Ty
 Loài chim gõ kiến
rừng đá cuội lên non làm cửu vạn
vác đá mòn vai ngậm ngãi đắng cay
đêm gió hú âm u hồn thương tật
đêm tỉnh mê từ đáy vực ta về
thuở nạm ngọc hoang đường qua bến
tôi yêu em xe sợi tằm cuốn chỉ
cần mẫn đam mê
tiếng trống tàn canh
điểm quạnh quẽ nhân sinh
những miếu mạo tuyệt đường
nẻo về quê mất hướng
chim báo bão những âm vang huyền bí
nghe tự lầu không đồng vọng siêu âm
đêm hối hả mảnh trăng còn khuyết
em mệt nhoài tàn rụi lửa tro than
đêm ân ái hoa phù dung cay nghiệt
cuộc tình như son phấn kẽ môi em
tình bay tình sợi vướng sợi buông lơi
tít tắp chân trời đốm lửa bơ vơ
thưở nước thành mây mây tan tác
bướm với hoa những dị biệt phân thân
từ độ ấy cỏ cây tình liên viễn
những đời tình nương tựa cõi tai ương
Lưu Nguyễn Từ Thức
Chào nỗi nhớ
Cửa phi cơ mở toang nỗi nhớ
Đưa tôi về lại chốn thân thương
Trời quê hương nắng vàng rực rỡ
Chim líu lo giữa trời mây vương.
Đường quanh co dập dìu xe cộ
Tiếng còi xe mừng đón tôi về
Nắng trưa hè quanh tôi nhảy múa
Lòng tôi nghe ấm áp tình quê.
Chào Sàigòn và chào nỗi nhớ
Chào người em đợi xe bên đường
Em có biết hồn tôi rộn rã
Được nhìn lại bầu trời yêu thương.
Muốn tung rải nhớ thương chất chứa
Khắp nẻo đường tôi đã đi qua
Muốn ôm cả Sàigòn yêu dấu
Có ai người hiểu thấu lòng ta?
Đêm quán trọ nhìn qua cửa sổ
Trời Sàigòn lấp lánh đèn màu
Hình bóng cũ ngập tràn tim nhỏ
Những người xưa giờ ở nơi đâu?
Tiếng hát ai nhẹ đưa trong gió
Hồn già nua nặng chĩu niềm riêng
Sàigòn xưa chìm vào quên lãng
Cười chưa bưa đã nhuốm muộn phiền.
Chào Sàigòn ngày vui tái hợp
Rượu chưa say mà trăng đã tàn
Giờ hội ngộ sao mà quá ngắn
Nụ cười vui xếp vào hành trang.
Thành phố xưa một lần gặp lại
Vui rộn ràng lẫn buồn chứa chan
Ngày tháng cũ ân tình chất ngất
Chào Sàigòn nỗi buồn riêng mang.
Hà Túy Mộng
Chăn chiếu cũng chờ
Vàng lên khói thuốc vờn bay
Vào trong nỗi nhớ gọi say mê về
Cùng em chăn chiếu hôn mê
Giữa đêm lộng gió rót tê tái đời.
Nói lời thật tưởng như chơi
Anh ơi! Nỗi nhớ không rời trong em
Gặp anh em sẽ bắt đền
Nhớ đêm say ngất nhớ lên bội phần
Hãy mau lên chớ ngại ngần
Đừng như chăn chiếu giận hờn đắn đo
Hỡi anh cánh bướm vườn mơ
Mau về chung mộng đề thơ động phòng.
Thoảng một mùi hương
Mùi thơm là tự ở người
tinh dầu trang điểm giỡn chơi ấy mà
như hoa và bướm thoáng qua
gần xa gì cũng đã là có nhau
dù thoáng chốc cũng hữu cầu
nhớ gì như thể ngàn sau vẫn cần
tự dưng lòng như phong vân
thẩn thờ vì nhớ bội phần đợi trông
Anh ơi bên ấy mùa đông
quê nhà nắng ấm xuân hồng đang vui.
biết dùm em, bướm mộng rơi!
mùa đông lạnh lắm, giữa trời bơ vơ
nhớ anh tình thật không vờ
như thu lá rụng còn trơ cây buồn.
Thật lòng nói nhỏ chút luôn
Nhớ anh đến độ mất hồn biết không.
Nguyễn Minh Triết
CHUYỆN THÁNH GIÓNG VÀ
SÁCH LƯỢC CHỐNG NGOẠI XÂM
Đối với 4000 năm lịch sử của Việt tộc, chúng ta chỉ có khoảng 2000 năm là được ghi chép đàng hoàng, còn 2000 năm kia hầu hết được truyền lại qua các huyền thoại. Vì vậy, huyền thoại có một vai trò đặc biệt trong việc giúp ta ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn dân tộc. Huyền thoại cũng được nhiều người gọi là huyền sử và được định nghĩa như là huyền thoại dựa trên vài sự kiện lịch sử có thật. Một huyền thoại có thể được dựng lên bởi nhiều tác giả qua nhiều ngàn năm nên luôn luôn là phản ánh của ý thức và tiềm thức của các tác giả. Và khi theo thời gian huyền thoại đã trở thành huyền sử của một dân tộc, huyền thoại phản ánh tiềm thức và ý thức của cả dân tộc đó. Huyền thoại cũng phản ánh những ước muốn, những suy tư chưa được ý thức hóa, hoặc không thể thực hiện được trên thực tế, nên vẫn còn chìm đắm trong tiềm thức và đôi khi là nơi thể hiện những ước vọng của một dân tộc.
Kho tàng huyền sử Việt Nam rất phong phú và đa dạng. Bên cạnh các huyền sử Tiên Rồng hay Sơn Tinh Thủy Tinh rất được phổ biến, huyền sử Thánh Gióng hay sự tích Phù Đổng Thiên vương cũng được nhắc đến qua nhiều thế hệ vì giá trị đặc thù của câu chuyện. Chuyện kể rằng vào đời Hùng Vương thứ 6, biết được nhà Ân phương bắc đang tập trung binh mã chuẩn bị xâm lấn nước ta, vua Hùng rất lấy làm lo ngại, nên lập đàn cầu Tổ về giúp. Trời bỗng nổi lên một cơn mưa to gió lớn, và một cụ già đến đùa giởn với trẻ con ở ngã ba đường. Dù thấy lạ nhưng vua Hùng cũng đến xin Cụ chỉ phương cách cứu nước. Cụ cười nói:”Nhà vua hãy sai sứ đi khắp nơi mà tìm.” Theo lời Tổ dạy nhà vua cho sứ đi khắp nơi kêu gọi người hiền tài ra giúp nước để chống lại sự xâm lược không tránh khỏi của giặc Ân.
            Đang khi đó tại làng Phù Đổng vùng đất Tiên Du nay thuộc Bắc Ninh có một cậu bé tên Gióng đã ba tuổi mà không biết nói cười đi đứng gì cả. Nhưng khi nghe sứ vua rao tin, cậụ liền bật nói nhờ mẹ gọi sứ giả vào.  Cậu xin sứ tâu vua đúc cho cậu môt con ngựa sắt, một con roi sắt , một áo giáp sắt, và một cái nón sắt để cậu đi đánh dẹp giặc xâm lăng. Sứ giả rất đổi ngạc nhiên nhưng cũng về tâu vua. Vua tin là điềm lành đúng như mộng đã báo nên vua bèn truyền cho thợ gấp rút rèn đủ những thứ binh khí mà Gióng cần. Từ hôm ấy Gióng lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy không no, áo rộng mấy mặc vài ngày đã chật, mẹ Gióng vét hết thóc gạo, hái hết cà vườn cũng không đủ cho Gióng ăn, nên cả làng phải góp gạo góp cà đem đến phụ nuôi Gióng.
Khi ngựa sắt và các thứ binh khí đã được đúc xong và đem đến cho cậu bé thì giặc Ân cũng vừa tràn qua biên giới. Dân làng bày tiệc tiển Gióng ra trận với bảy nong cơm với ba gồng cà. Gióng ăn loáng một cái là hết ngay. Sau khi ăn xong, Gióng đứng thẳng người vươn vai và bỗng nhiên từ cậu bé trở thành con người khổng lồ. Gióng mặc áo giáp, đội mũ sắt, tay cầm roi sắt rồi nhảy lên ngựa sắt. Lập tức ngựa sắt chồm lên, hý một tiếng dài, khịt ra lửa rồi lao vút đi về hướng giặc. Chỉ chớp mắt là đã đến núi Châu Sơn là nơi đóng quân của giặc Ân.  Gióng phi ngựa vung roi sắt, xông vào đánh, giặc chết như rạ. Bọn sống sót chạy tán loạn, Gióng thúc ngựa đuổi theo. Roi sắt quật vào đầu giặc đột nhiên bị gãy, Gióng bèn nhổ những bụi tre bên đường làm vũ khí tiếp tục diệt giặc. Giặc tan vỡ, giẫm đạp lên nhau chạy thục mạng. Khi đánh đến núi Sóc Sơn thì giặc tan hết. Gióng cởi áo giáp và nón sắt để lại rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời. Vua Hùng nhớ công ơn vị anh hùng đã dẹp giặc cứu nước bèn phong Gióng là Phù Đổng Thiên Vương, cho lập đền thờ ngay trong vườn nhà ngài và cấp cho dân làng 100 mẫu ruộng để trồng lấy lúa gạo lo việc cúng tế.
Cùng với các vị thần trong “tứ bất tử”(*) của người Việt, Thánh Gióng đã làm nên thiên anh hùng ca rực rỡ trải dài suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Hiện nay ngôi đền thờ Thánh Gióng vẫn còn ở làng Phù Đổng thuộc ngoại ô Hà Nội. Tương truyền dân gian tin là những ao hình tròn liên tiếp còn thấy ở chân núi Sóc Sơn là những dấu chân ngựa sắt của Tháng Gióng in sâu xuống đất. Khu rừng tre ngài nhổ lên làm roi đánh giặc vì bị lửa cháy táp nên tre có màu vàng được gọi là tre Đằng ngà, loại tre này ngày nay vẫn còn mọc nhiều tại huyện Gia Bình.  Chỗ con ngựa sắt phun lửa đốt cháy một góc làng có quân giặc trú đóng, bây giờ gọi là làng Cháy, thuộc huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh. Hàng năm cứ đến ngày mùng 9 tháng 4 âm lịch, dân chúng mở hội làng tưng bừng ăn mừng ngày Thánh Gióng đánh thắng giặc xâm lăng. Tuy nhiên, hội Gióng từ lâu đã không còn là ngày hội của riêng người làng Gióng mà đã được nâng lên thành lễ hội chung của rất nhiều nơi cùng tổ chức như: Hội đền Sóc (Xuân Đỉnh, Từ Liêm); hội Sóc Sơn (Đông Anh); hội Phù Gióng; hội Gióng Bộ Đầu…Vì vậy, câu nói: “Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu cũng về hội Gióng” được truyền tụng trong dân gian đã nói lên quy mô cũng như ý nghĩa đặc biệt của lễ hội cổ truyền này.
Câu chuyện Thánh Gióng được kết cấu một cách đơn sơ và có vẻ hoang đường. Tuy nhiên, nếu chúng ta chịu lắng hồn để tìm hiểu một cách cẩn trọng, hồn nước sẽ từ từ hiện về trong cõi lòng của những ai sẵn sàng đón nhận và biết lắng nghe để thấy rằng qua chuyện Thánh Gióng tổ tiên đã nhắn gởi cho con cháu nhiều thứ. Thứ nhứt, đó là một sứ điệp về một mẫu người trai hào hùng và vai trò của tuổi trẻ trong công cuộc chống ngoại xâm. Thứ hai là một sứ điệp về sự cảnh giác không được chủ quan trước họa ngoại xâm từ phương Bắc. Và thứ ba là một sứ điệp về sách lược cứu nước.
Trước tiên, giống như trong các truyền thuyết khác của dân tộc các nhân vật anh hùng luôn có xuất thân thật bình dị nhưng lại có những hành động phi thường. Cậu bé làng Phù Đổng cũng không ra ngoài thông lệ và là hình ảnh hào hùng của tuổi trẻ Việt biết sống vì dân vì nước ngay từ lúc đất nước hãy còn ban sơ. Trong thời bình, tuổi trẻ đó qua hình ảnh Thánh Gióng không biết nói, không biết đi là hình ảnh của tuổi trẻ Việt đã sống thầm lặng, bình dị trong lòng đại chúng. Nhưng khi tổ quốc lâm nguy, tuổi trẻ đó đã bỗng nhiên biết nói và xin vua cho đi diệt giặc là hình ảnh của tuổi trẻ hào hùng hưởng ứng tiếng gọi của non sông và nhận trách nhiệm diệt quân xâm lăng, giữ gìn bờ cõi. Đó cũng là hình ảnh của một lớp người trẻ có ý thức và sự lớn mạnh nhanh chóng của tuổi trẻ nói riêng và của cả dân tộc Việt nói chung khi đất nước bị ngoại xâm. Đến khi hoàn thành xong nhiệm vụ, tuổi trẻ đó đã lên núi cởi áo giáp bỏ lại rồi cùng ngựa sắt bay về trời là hình ảnh của một lớp người tuổi trẻ dù đã lên đến đỉnh danh vọng vẫn không màng quyền tước địa vị, biết coi nhẹ lợi danh. Thấy việc cần phải làm thì làm. Khi làm xong biết cởi bỏ mọi ràng buộc vật chất, lui về sống an nhàn bình dị trong lòng dân tộc.  Ngoài ra, hình
ảnh Thánh Gióng bay thẳng về trời có phải chăng là hình ảnh Thánh Gióng đã bay thẳng vào lòng dân tộc, bay thẳng vào lòng tôn kính chân thành của dân chúng muôn đời sau.
Nhưng trên hết qua chuyện Thánh Gióng tổ tiên đã để lại cho chúng ta một sứ điệp rõ rệt về sự cảnh giác và một sách lược giữ nước, chống giặc phương Bắc. Trước nguy cơ
bị xâm lăng, vua Hùng đã lập đàn cầu Tổ tức cầu xin những vong linh của tiền nhân mà
theo tin tưởng của dân gian bao giờ cũng hiện về độ trì con cháu khi được con cháu khẩn cầu. Điều tin tưởng này đã có từ ngàn xưa qua chuyện Tiên Rồng với câu nói của Cha Rồng Lạc Long Quân dặn Mẹ Tiên Âu Cơ trước khi mỗi người dẫn 50 con xuống biển và 50 con lên non là:”Khi cần thì gọi, ta về ngay”. Cho nên Tổ là biểu trưng cho tinh thần, cho hồn thiêng của dân tộc. Cầu Tổ là bộc lộ niềm tin, niềm hi vong tuyệt đối vào sức sống siêu việt của dân tộc. Trước lòng thành của vua Hùng Tổ đã hiện về, nhưng không về thẳng với vua mà Tổ về đùa giởn với trẻ con ở ngã ba đường. Trẻ con ở đây là con đỏ, con dân, là biểu trưng cho đại chúng. Ngã ba đường thời xưa là nơi dân chúng tụ họp, hoặc họp chợ. Như vậy, Tổ không về thẳng với vua mà Tổ đã về giữa đám đại chúng. Tổ chánh là đại chúng, Tổ ở trong đại chúng. Vua Hùng đã đích thân đến ngã ba đường gặp cụ già là hành động của lãnh đạo sáng suốt biết tìm đến đại chúng để lắng nghe và học hỏi phương cách cứu nước. Ngoài ra, hình ảnh ông già còn là biểu tượng của sự khôn ngoan của đại chúng. Thường thường người lớn tuổi suy tư cặn kẻ hơn người nhỏ tuổi; vì vậy ông già là biểu hiện cho sự khôn ngoan đó.
Theo lời khuyên của Tổ, vua Hùng đã cho sứ đi khắp nơi tìm người tài đức ra giúp nước là một đường lối cai trị có tánh cách dân chủ, vừa loan báo cho toàn dân biết tình trạng nguy khốn của đất nước để toàn dân cảnh giác, đồng thời cũng là một hành động kêu gọi sự đoàn kết của toàn dân để chống xâm lăng, chứ không muốn giữ độc quyền yêu nước và bắt dân im tiếng. Trong thực trạng chánh trị, đường lối cai trị này là sáng suốt vì sức mạnh của toàn dân đoàn kết là sức mạnh vô địch và là sức mạnh duy nhất của quốc gia trong thời chiến cũng như thời bình. Trong chiến tranh chánh người dân phải đổ xương máu chiến đấu nên nếu người dân không thông suốt kế hoạch, không thuận ý, thì người dân làm sao hăng say chiến đấu cho được. Hiệu lực của dân chủ, trên dưới đoàn kết một lòng trong chiến tranh mấy ngàn năm sau đã được thể hiện rõ rệt trong Hội Nghị Diên Hồng đời nhà Trần giúp cho quân dân Đại Việt chiến thắng oai hùng trước quân Nguyên.
Ngoài ra, cậu bé làng Phù Đổng một mình phá giặc là hình ảnh của sức mạnh toàn dân đoàn kết thành một khối. Hình ảnh của những người dân quê mùa có vẻ bất tài vô dụng, nhưng khi phải chiến đấu, lại là sức lực duy nhất của quốc gia. Đồng thời hình ảnh đó cũng nói lên sức mạnh của chiến thắng là sức mạnh được xuất phát từ dân và để bảo vệ dân. Theo triết gia Kim Định hình ảnh Thánh Gióng không chi khác hơn là bóng dáng con người đại ngã tâm linh của dân tộc Việt có tầm vóc như vũ trụ được biểu lộ ra ngoài bằng tinh thần tự lực, tự cường của dân nước Văn Lang. Hình ảnh đó ngày thường không ai để ý đến (nói bóng là trẻ ba tuổi chưa biết nói); nhưng khi phải đối phó với nguy cơ thì đức tự lực tự cường dâng lên tầm kích vũ trụ, nâng con người lên ngang hàng cùng trời và đất nên có sức mạnh vô song.
Trở về với câu chuyện Thánh Gióng, chúng ta thấy là khi Thánh Gióng tỏ ý muốn ra trận dẹp giặc cứu nước đã được Mẹ và bà con xa gần cho ăn, cho mặc... là hình ảnh của sự ý thức và sự tự nguyện đóng góp của toàn dân cho công cuộc đánh đuổi ngoại xâm bảo
vệ bờ cỏi vì nước mất thì nhà tan. Nó cũng nói lên sự quyết tâm và thức tỉnh của toàn dân để đứng ra nhận lảnh trách nhiệm nuôi dưỡng và bảo bộc cho người chiến sĩ. Quân dân một lòng chung sức lo gì không bảo vệ được non sông.
Hình ảnh dân làng bày tiệc tiển Gióng ra trận với bảy nong cơm với ba gồng cà có một ý nghĩa sâu xa về phương diện dịch lý. Bảy nong cơm có số 7 là số Càn tượng trưng cho lửa và ba gồng cà có số 3 là số Đoài tượng trưng cho khí gió. Như thế Gióng đã nuốt lửa và khí gió vào người nên sau khi ăn xong Gióng đứng thẳng người vươn vai và bỗng nhiên từ cậu bé trở thành con người khổng lồ có sức mạnh vô song như giông tố, như sấm động. Việc xin ngựa sắt và áo giáp là hành động nói lên nguyên vọng của dân và vua Hùng chấp thuận cung cấp phương tiên theo yêu cầu là nói lên sự biết lắng nghe và làm theo nguyện vọng đại chúng của cấp lãnh đao đất nước, cũng như nói lên sự đoàn kết giữa lãnh đạo và quần chúng, giữa quân và dân trong công cuộc cứu nước và giữ nước.
Hình ảnh thánh Gióng mặc áo giáp sắt cởi ngựa sắt lao vút về hướng giặc vừa phun lửa vừa dùng roi sắt để đánh diệt giặc Ân là hình ảnh của sức mạnh quân sự với vũ khí hữu hiệu. Vũ khí ở đây chánh là sức mạnh của đại chúng làm áo giáp che thân, hùng khí của tuổi trẻ là ngọn roi thần, và kinh nghiệm chiến đấu của tiền nhân và hồn thiêng sông núi là lửa đỏ phun ra từ chiến mã thiêu đốt quân xâm lăng. Ngoài ra, hình ảnh ngựa lao vút về hướng giặc cho thấy hình ảnh của một chiến pháp tấn công phủ đầu và di quân thần tốc là những chiến pháp rất tân kỳ trong gian đoạn lịch sử thời Thánh Gióng vì quan niệm chiến lược cổ điển thường dựa vào chiến pháp phòng thủ thụ động trong những thành quách khổng lồ. Có phải chăng chiến pháp tấn công phủ đầu và di quân thần tốc của Thánh Gióng sau này  đã được người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ khai thác và xử dụng để đánh bại quân Tôn Sĩ Nghị của nhà Thanh.
Nhưng vũ khí và sức mạnh quân sự thôi chưa đủ để đạt được chiến thắng tối hậu. Lực lượng quân sự còn cần phải được sự hỗ trợ của dân. Hình ảnh roi sắt bị gãy và thánh Gióng đã phải nhổ những bụi tre bên đường để tiếp tục chiến đấu đã nói lên sự hỗ trợ thiết yếu đó. Tre tầm thường nhưng đa dụng, tre bốn mùa xanh lá, thân đứng thẳng khi bị gió bão thì nghiêng theo gió nhưng không bị gió bẻ gãy là hình ảnh tiêu biểu cho kẻ chánh nhân trong xã hội Việt. Tre cũng biểu trưng cho làng xã Việt Nam vì các làng Việt đều có lủy tre bao quanh. Từ ngàn xưa làng xã giữ một vai trò quan trọng trong nếp sống của dân Việt. Với thể chế và cơ cấu sinh hoạt tự trị, làng xã từ bao ngàn năm là nơi bảo tồn và hun đúc nếp sống thuần túy dân tộc. Cho nên làng xã là nơi ấp ủ hồn dân tộc, là nơi xuất phát sức mạnh của dân tộc. Sau khi dùng roi sắt Thánh Gióng đã phải dùng đến các bụi tre để chiến thắng có nghĩa là Thánh Gióng đã biết dùng sức mạnh quen thuộc cận kề là sức mạnh của toàn dân, sức mạnh của tinh thần dân tộc. Nói cách khác, Thánh Gióng đã biết dựa vào sức mạnh của toàn dân Việt khắp mọi thôn làng, và huy động được mọi năng lực của xã hội trong công cuộc đánh đuổi giặc ngoại xâm. Khi đã có hồn nước, khi đã có toàn dân, khi đã có sức mạnh quân sự và hành xử hợp lòng dân và ý trời thì việc đuổi giặc ra khỏi bờ cõi là kết quả đương nhiên.
Ngoài ra, hành động thánh Gióng dùng roi sắt thay vì kiếm thép khi ra trận cũng nói lên tánh cách nhân thứ, không tàn bạo của văn hóa Việt. Khi lâm chiến là phải có chém giết, nhưng thánh Gióng đã không dùng kiếm thép mà chỉ dùng roi là có ý nói cuộc chiến mà thánh Gióng đang lãnh đạo là một cuộc chiến chẳng đặng đừng, một cuộc chiến tự vệ. Roi hàm ý nghĩa sửa dạy, đánh phạt, còn kiếm thép là vũ khí chém giết. Điều này nói lên vì giặc Ân xăm lăng nước ta, nên ta bắt buộc phải đánh trả và qua sự đánh trả bằng roi đó giống như cha mẹ dùng roi để dạy dỗ con cái sai phạm ta muốn dạy cho giặc phương Bắc biết là phải tôn trọng biên cương của «Nam quốc» đúng theo qui định của ý trời như danh tướng Lý Thường Kiệt sau này đã từng tuyên cáo :
                                   
“Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư...”
Sau khi đánh thắng giặc Ân, Thánh Gióng lên núi Sóc Sơn cởi áo giáp bỏ lại rồi cùng ngựa sắt bay về trời là biểu trưng cho sự thăng hoa của hành động cứu nước. Thánh Gióng là biểu tượng của sức mạnh tập trung của dân tộc, tức phần Rồng trong sự tích Tiên Rồng. Sức mạnh đó đã được vận dụng để đánh giặc ngoại xâm. Khi giặc đã tan, sức mạnh đó không còn cần bộc lô sự oai dũng nữa nên sức mạnh đó đi lên núi tức trở về với mẹ Tiên, trở về với hồn nước. Ngoài ra, hành động Thánh Gióng cởi bỏ lại áo giáp còn biểu tỏ là muốn nói trả lại cho dân những gì thuộc về dân, trả lại các phương tiện quân sự.lại cho đại chúng, có nghĩa là cho giảm quân số, cho quân trở về sống với dân. Có phải chăng vì thấu hiểu được lời khuyên này mà các triều vua nhà Lý, nhà Trần điều áp dụng chánh sách «ngụ binh ư dân». Khi giặc đến dân trở thành chiến sĩ. Khi giặc tan, chỉ giữ lại một quân lực vừa đủ còn bao nhiêu cho trở về xóm làng cùng dân chăm lo cày cấy để phát triển ruộng vườn, phát triển đất nước.
Bài học mà Tổ tiên truyền dạy qua các huyền sử, đặc biệt là huyền sử Thánh Gióng vẫn còn đó, cũng như bao nhiêu kinh nghiệm của tiền nhân trong việc giữ nước hãy còn ghi rõ nét trong các trang sử oai hùng. Đã bao nhiêu đời truyện Thánh Gióng đã đi vào tâm thức người Việt, và dù ở thời đại nào, dù ở phương trời nào, mọi người dân Việt đều ấp ủ trong lòng bài học giữ nước của Tổ tiên và luôn cảnh giác về tham vọng xâm lăng của giặc phương Bắc.
Ngày nay họa xâm lăng của giặc Tàu ngày càng trở rõ rệt và tinh vi xảo quyệt. Ngoài việc cưỡng chiếm quần đảo Hòang Sa của chúng ta vào năm 1974 và một phần đảo Trường Sa năm 1988, ngày nay chúng còn ngang ngược bất chấp luật pháp quốc tế tuyên bố chủ quyền trên gần hết vùng Biển Đông. Thêm vào đó chúng còn thực hiện cuộc xâm lăng toàn diện trên mọi lãnh vực từ tư tưởng, văn hóa, kinh tế, đến chánh trị và quân sự, với nhiều thủ đoạn bá quyền hết sức thâm độc. Cho nên, chúng ta toàn dân Việt khắp mọi nơi, nhà cầm quyền cũng như dân chúng phải hết sức cảnh giác, biết cấp thiết bảo tồn bản sắc riêng của dân tộc mình, và phải biết lựa chọn con đường trở về với các giá trị dân tộc đích thực để giữ nước. Một trong những giá trị đó là sách lược giữ nước và cứu nước mà tổ tiên muốn nhắn gởi qua chuyện Thánh Gióng.
Sách lược cứu nước đó là trước hết phải dựa vào niềm tin bất diệt, vào sức sống vô tận, và truyền thống siêu việt của dân tộc Việt. Nói cách khác sách lược đó phải dựa vào lòng tự tín, tự lập của dân tộc như là nền tảng của sức mạnh. Đó chánh là nền tảng đích thực của công cuộc cứu dân cứu nước. Bất cứ nền tảng nào khác đều là vọng ngoại, là tà thuyết, là áp đặt của cường quyền bạo lực.
Thứ hai, sách lược cứu nước phải dựa vào sức mạnh của toàn dân. Muốn chiến thắng giặc ngoại xâm phải vận động được sự đồng lòng của toàn dân trong sách lược cứu nước, mà muốn toàn dân đồng lòng, đoàn kết thì chỉ có con đường dân chủ hóa mới tạo được cơ hội cho mọi người dân được cùng chung sức chung lòng trong công cuộc bảo vệ bờ cõi. Quyền lực chánh trị phải thực sự nằm trong tay người dân và tất cả mọi người dân phải được bình đẳng. Bình đẳng trong công cuộc giữ nước cũng như cứu nước. Nếu mọi công dân đều có quyền tự do chánh trị thì mọi trở ngại có thể vượt thắng và mọi kẻ thù có thể dẹp tan, cho dù xuất phát từ phương bắc, phương nam hay phương tây. Tổ tiên và lịch sử đã cho thấy là đường lối cai trị dân chủ hợp lòng dân tự nó có sức mạnh vạn năng.
Thứ ba, để giữ được nước, quốc gia phải có quân đội hùng mạnh và hữu hiệu lấy dân, và lòng yêu nước làm căn bản. Quân và dân phải như cá với nước, quân từ dân mà ra và được dân nuôi dưỡng, đùm bọc và quân phải xã thân bảo vệ người dân, bảo vệ thôn làng, và xã tắc. Trong chiến trận đội quân ‘cá nước’ đó phải biết dành phần chủ động chiến trường bằng những chiến pháp thần tốc, ngoan cường.
Tóm lại, truyện Thánh Gióng hay sự tích Phù Đổng Thiên Vương với những tình tiết trong cuộc đời có một không hai, từ lâu đã trở thành biểu tượng, chứ không còn là huyền thoại hay huyền sử gắn với thời các vua Hùng nữa. Từ lâu, Thánh Gióng là biểu tượng của ý chí quật khởi hào hùng của dân Việt. Thánh Gióng cũng là biểu tượng cho tinh thần và sức mạnh của người dân nước Việt trong đấu tranh dựng nước và giữ nước. Dân Việt bình thường thì như đứa trẻ thơ, nhưng khi có giặc là vụt lớn lên trăm trượng, có sức mạnh vô song, biến sắt thép thành ngựa chiến, biến tre trúc thành gươm đao, biến  hơi thở thành cuồng phong bão lửa có tầm kích vũ trụ có thể thiêu rụi mọi mộng bá quyền và đánh tan bất cứ kẻ ngọai xâm nào. Thánh Gióng mãi mãi là bài học giá trị cho mọi con dân Việt tâm hồn còn luôn khoắc khoải cho sự trường tồn của giống dân Lạc Hồng và sự toàn vẹn của núi sông biển đảo do cha ông để lại.
                                                                                               
Nguyễn Minh Triết
-------------------
(*) Tứ bất tử là Tản Viên Sơn thần tượng trưng cho ước vọng chiến thắng thiên tai, Phù Đổng Thiên vương tượng trưng cho tinh thần chống ngoại xâm và sức mạnh tuổi trẻ, Chử Đồng Tử tượng trưng cho tình yêu, hôn nhân, và sự giàu có, và Liễu Hạnh Công chúa, tượng trưng cho cuộc sống tinh thần, sự phúc đức.
Tài liệu tham khảo:
Kim Định -- Thái  Bình Minh Triết, Thời Điểm xuất bản, 1997.
Đào Văn Dương, et. al. -- Tinh Hoa Tư Tưởng Việt, Tủ Sách Việt Thường xuất bản, 1997.
Nam Thiên -- Kinh Việt, Hoa Tiên Rồng xuất bản, 1993.
Nguyễn Lập Đông
Cái Bang
Các bác ơi
Cháu đang ăn nhờ, ở đậu
Chỉ có outcome
Không có income
Con cá sống vì nước
Cháu sống nhờ các bác.
Lạy ông đi qua
Lạy bà đi lại
Cho cháu xin một chút thật thà
Các bác cho cháu mãnh long quá giang
Hay kiến long tại bàn
Thì good nhất
Cháu rách lắm
Rau muống mới gieo
Không biết mọc hay không.
Cháu là người xỉn tản
Gấn vượt khỏi trần gian
Tình yêu như nỗi chết
Đều đời đời bất diệt
Trong trái tim gian nan
Thế mới chán!!!
Trần Việt Cường
Chờ nhau vẫn mãi chờ nhau
đêm sâu mưa nhỏ giọt buồn
bên hiên lạnh giá xót lòng nhớ nhau
vầng trăng khuất bóng còn đâu
để vần thơ cũng gục đầu ngủ quên
về đâu ngày tháng mông mênh
trái tim tù tội buồn tênh giữa đời
buồn tôi lệ nhỏ không lời
hoa tàn héo rũ vẫn mời tay ai
ngậm ngùi xuân đã tàn phai
gió mưa vùi dập lá lay sóng nhồi
chỉ còn một chút tình thôi
em xin trao nốt tặng người phương xa
cuối đường về giữa sân ga
chuyến tàu mòn mỏi người qua chưa về
chờ nhau dù phải ê chề
chờ nhau dù trải qua mê sảng đời....
mai về gầy lại cuộc chơi
mặc làn khói trắng giữa hơi thở buồn
anh là thuyền nhỏ không buồm
trôi theo sóng gió dỗi hờn riêng mang
mai về thuyền nát thân tàn
vẫn lên tiếng gọi nhập đàn cùng em
chỉ là sợ em lại quên
vì thời gian chẳng lạ quen với người
thời gian oan nghiệt em ơi!
mặc ai cười khóc mặc đời tang thương.
Chỉ mong em mộng bình thường
Mai về chăn chiếu đêm trường có nhau
Ta xây lại mộng ban đầu
Cho dù bạc tóc áo nhàu cũng cam.
mai về chung bóng đường mưa
vầng trăng năm cũ vẫn chưa nhạt màu
đêm dài thôi khóc tình sầu
bên anh như thưở ban đầu mới yêu
không còn soi bóng hắt hiu
trước hiên sân lạnh phủ rêu đợi chờ
hình như gió động đường tơ
ru câu tình tự lời thơ đậm đà
trao nhau dấu ái ngọc ngà
dù cho nắng đã xế tà bên hiên
dìu nhau quên hết ưu phiền
bóng hình chung đổ chiều nghiêng giao hòa...
Luân Tâm
Hoa tình em yêu anh
Hoa tình em yêu anh ơi ...
Em cỏ ngọt anh rong thơm trứng cá
Ao sen hồng gót nhỏ gió sóng xoay
Đường mắc cỡ có may bay áo cưới
Con dế mèn bửa củi an ủi mây
Anh đu đủ em bòn bon măng cụt
Nhãn lồng không bong bóng lạnh chim quyên
Lá sầu riêng mẹ ghiền hương áo ngủ
Cò ma con cúm núm nhúm lửa thiêng
Em chong chóng anh bìm bìm bèo bọt
Lá me non nấu nước tắm mát da
Cu đất nước nhớ trời kêu ba tiếng
Tết vội vàng sao lệ đá đa đa
Anh gốc mít em bờ ao rau má
Lục bình bông chấm mắm kho thèm yêu
Bìm bịp kêu mỏi mê mùi vọng cổ
Me dốt hồng môi rượu ngọt chín chiều
Em bắp nướng anh khoai lùi bếp ấm
Bướm ong ghen châu chấu quấu cào cào
Nai xuồng núi thỏ lên rừng nhân thế
Ngậm ngải tìm trầm khao khát trăng sao
Anh tóc ngắn em tóc dài mưa nắng
Chở che nhau nương náu chung hồn quê
Núi đá nát bể vàng phai kinh kệ
Tay chân không cát bụi chuối sau hè
Em vui khóc anh buồn cười trốn học
Nâng yêu mê nghìn kiếp hứng môi mưa
Giọt sữa non tình tròn ăn mật gấu
Giọt tình già tương cà câu ca xưa
Anh hát em đàn bầu cua cá chép
Giáng tuyết giáng tiên giáng ngọc giáng hương
Hoa mưa bướm nắng hồng môi bốc khói
Suối hồng đào hiền dịu chảy văn chương
Hoa tình em yêu anh ơi....
Thái Bạch Vân  
Vườn yêu nhẹ bước
Tình yêu ơi! gặp gỡ... chi?
Mà sao tạc dạ khắc ghi thế này!
Tưởng rằng đôi ngả chia tay
Thôi thì xóa hết những ngày dấu yêu!?
Ngờ đâu... chẳng sót một  điều
Nhớ ngày nắng ấm, nhớ chiều mưa ngâu.                        
Cùng chung chia muộn, xẻ sầu
Câu thơ xướng họa bên nhau chẳng rời
Vườn yêu... nhẹ bước chơi vơi
Mắt, môi như vẽ ngời ngời gấm thêu…
Lời trao... mật rót êm đềm
Sóng lòng rào rạt, đầy thềm luyến lưu
Giờ đây người đã phiêu diêu
Tình ta vẫn tựa thủy triều ngập dâng!!
Mộ phần cỏ trắng... sương ngân  
Bao năm trọn đủ bao lần Thu phân!
Hoàng Định Nam
Thành phố khi tôi về
Thành phố mười năm giờ đã khác
Và ta có lẽ chẳng như xưa
Mười năm quay gót về chốn cũ
Hồn đã rêu phong tự mấy mùa
Ta đi trong gió chiều cuối chạp
Nghe nỗi hoang vu phủ quanh người
Sàigòn trong biển người, xe ấy
Có chỗ nào là chỗ của tôi ?
Cũng may còn dăm thằng bạn cũ
Sống lất lây bên dòng cuồng trôi
Ta-Bạn hai phương đời khác biệt
Sao cũng cùng chung nỗi ngậm ngùi
Ta có về không, Mai vẫn nở
Bên cội cây già, lăng miếu xưa
Cho dẫu một mai về đất cát
Mai vẫn hồn nhiên với gió đùa
Thì ta một cánh chim trôi dạt
Có nghĩa gì đâu với đất trời
Thành phố đêm về sương thấm lạnh
Người với người vẫn thản nhiên vui
Ta về em nhỏ nay đã lớn
Cũng sớm bon chen với cuộc đời
Mười năm còn chút tình trong mắt
Tôi biết làm gì cho em vui???
              
Cù Hòa Phong
Phím Ngọc Du hài
Tóc em vươn đỉnh gió ngàn,
Đong đưa điệp khúc cung đàn trầm mơ.
Lang thang theo bóng sương mơ,ø
Xuyên qua lối nhỏ chung hoà niềm vui.
Em xinh gót ngọc du hài,
Cỏ cây nơiû đó thiên thai một miền.
Khi vui em dạo suối tiên,
Khi buồn em xuống dưới miền dốc sâu.
Khi mơ em ở nơi đâu,
Khi say như nước qua cầu hoa viên.
Sông xanh in bóng mơ huyền,
Chim ca vọng tiếng loang triền núi cao.
Mênh mang con sóng rì rào,
Mưa rơi lắng đọng dạt dào hồn thơ.
Nao nao bến mộng đợi chờ
Ngàn sau ru giấc bến bờ  huyền du?!
Túy hà
 CÒN ĐÓ SÔNG HỒ
          Lựu lặng lẽ bước qua vuông sân nhỏ, khi ánh nắng chiều như còn muốn níu lại hơi thở ngày trên màu vàng rực rỡ của hoaVạn thọ đang mùa nở rộ. Bên bờ giậu đầy hoa dâm bụt đỏ, vẫn như thời con gái Lựu vẫn thường lấy hoa cài tóc, là một chút điểm trang quê mùa mộc mạc. Lu nước màu da lươn đặt ở đầu hồi, chân rêu phủ kín, mái tranh thấp tơi tả, bạc màu vì mưa nắng vẫn che ngang hai cánh cửa mộc thô. Cây khế bên hông nhà đã cao hơn trước, cành nhánh vươn ra như che chở cho mái nhà nhỏ nhoi khiêm tốn mà một thời Lựu đã vào ra. Trong cái tĩnh mịch của chiều tà chỉ còn thiếu khói lam vờn ra từ chái bếp và tiếng chuông nhà Chung không còn ngân xa trong gió. Lựu thẫn thờ đẩy cửa bước vào cái thế giới của chính mình ngày xưa.
          Ngày ấy, Lựu là một cô bé sinh ra trên sông nước, sống với gia đình trên một chiếc ghe, hai mùa xuôi ngược mua bán trái cây tươi từ Vĩnh Long, Nha Mân, Vàm Cống lên bến chợ Bình Tây trao đổi hàng hóa hai chiều. Năm lên tám, món quà Ba cho là một cuốn sách học vỡ lòng và chiếc kẹp tóc bằng nhựa chạm hình hoa dâm bụt đỏ.
           Từ đó gia sư của Lựu là Cậu Tám Tàng, người duy nhất trên ghe có bằng Tiểu học, chuyên phụ trách việc giao hàng, tính sổ. Lựu thông minh, học một biết hai, thoáng một cái đã biết đọc biết viết, trở thành niềm hãnh diện cho ba mẹ vì cả hai ông bà chưa qua khỏi lớp ba. Sau đó, không hiểu vì tương lai của Lựu hay vì một hoàn cảnh riêng, Ba mẹ Lựu quyết định giã từ sông nước và mang cả gia đình trôi dạt vào Chợ Cầu - Bà Điểm Hóc Môn. Mua đất dựng nhà, theo nghề trồng hoa bán Tết. Từ đó là những ngày vui, trên là vườn cây ăn trái, dưới bến thuyền neo, Lựu nhởn nhơ cùng hoa trái và buồn vui với sông nước bến nhà. Lựu vào tiểu học năm lên mười.
            Lê Thị Lựu bây giờ trên giấy Thế vị khai sinh là Lê Thị Ngọc Liên, vừa lấy bằng Trung học Đệ nhất cấp. Huân là  gã học sinh lười biếng vừa ghi danh vào trường Luật mộng mơ.
           Liên và Huân quen nhau ở bánh mì Bưu Điện. Trước mắt Huân, Ngọc Liên là một thiếu nữ đồ sộ, vâng- cô ấy to quá khổ so vơí những người cùng tuổi. Hôm ấy Ngọc Liên đi cùng cô bạn đèo nhau trên chiếc xe Velo Solex mới toanh. Thế nhưng, xe mới mà khi khởi động máy không nổ. Huân lại xuất thân từ Trường dạy máy nổ đường Cao Thắng (Thật ra gia đình Huân làm nghề ấy, riêng chàng thì lại chả biết gì )  .        Huân vốn thích những gì đồ sộ, chàng bèn làm một đường anh hùng cứu mỹ nhân.
Quả thực là chó ngáp phải ruồi, khi Huân thử xem lại máy xe, thì hóa ra chỉ là sợi dây bugie bị sút. Huân chỉ cần cắm vào, đẩy một đoạn lấy trớn là máy nổ. Ngọc Liên cám ơn Huân rối rít và dĩ nhiên là đã có một hẹn hò.
                Những chiều thứ bảy, áo muôn màu tung bay trong gió như ríu rít gọi nhau trên vĩa hè Lê Lợi, tay trong tay ngây ngất hương bay. Kem Hà Nội, nước mía Viễn Đông, bò bía lề đường là những niềm vui bất tận. Cinema Vĩnh Lợi thầm chở che cho những nụ hôn ngọt hơn gấp bội mật đường. Cứ thế tình yêu đến không lời bày tỏ mà vẫn là quấn quít không thôi. Những chủ nhật Huân mò lên Chợ Cầu - Bà Điểm chỉ để lén nhìn Liên theo Mẹ đi lễ nhà thờ, những tiếng chuông ngân như dục Huân xưng tội- có tội gì đâu ngoài tội yêu Liên.Và khi Liên thấy Huân thập thò đâu đó nàng vờ quay đi dấu một nụ cười.
            Bên phía trái của Nhà thờ Đức Bà (đối diện Bưu Điện) là Trung Tâm Thánh Linh, một cơ sở giáo dục của Công Giáo. Ở đây có một sân cỏ lúc náo cũng xanh tươi được chăm sóc cẩn thận, có hàng ghế đá cho bộ hành dừng chân.  Chiều chiều các cụ ông cụ bà thường rủ nhau ra đây ngồi cầu nguyện. Tượng Đức Mẹ đỡ quả địacầu lúc nào cũng ngước mặt lên trời cao như cầu xin an bình cho nhân thế. Huân và Liên vẫn thường ra đây gọi là ôn bài luyện chữ, thật ra đó chỉ là cái cớ để được gặp nhau. Chàng và nàng thường chọn bãi cỏ sau hàng ghế đá để được kín đáo phần nào. Những nụ hôn tình yêu nở hoa trên thảm cỏ xanh biên biếc và sáng ngời ước vọng. Họ  chia nhau từng ổ bánh mì bưu điện, từng ly cà phê từng cốc chanh đường dưới những tàn me dọc đường Nguyễn Du. Đôi lúc tay trong tay xuôi về đường Cường Để, hạnh phúc choáng ngợp cho một cặp đôi bất xứng thường gợi sự tò mò cho khách nhàn du. Bởi lẽ Liên kém tuổi Huân nhưng lại to cao hơn chàng, bên cạnh nàng Huân như cậu em tinh nghịch lúc nào cũng thích bá cổ quàng vai. Sự tình cờ lại trùng hợp với mơ ước của Huân, chàng vốn thích mẫu người đẩy đà khoẻ mạnh. Liên không đẹp nhưng lại có cái duyên ngầm ở nước da màu bánh mật, nàng lại không hề mặc cảm khi cúi xuống đời Huân. Có lẽ do xuất thân từ sông nước giang hồ, qua nhiều bến bãi đã khiến nàng mạnh dạn hơn trong cuộc sống. Tình yêu của hai người chỉ dừng lại ở những nụ hôn thầm, những vòng tay siết chặt phủ ấm cho nhau, đôi khi Huân cũng muốn đi xa hơn một tí và Liên dường như cũng sẵn lòng. Nhưng không hiểu sao Huân lại cứ lúng túng vụng về quá đỗi.Và cũng chính vì sự vụng về ấy mà dục tình đã không làm lem lấm đời nhau.Thế nhưng với Huân là mãn nguyện còn Liên thì dường như không dằn được những khát thèm. 
             Mùa đông năm ấy, tự dưng những cơn mưa nhiệt đới không còn là mưa rào chợt đến chợt đi mà là mưa dai dẳng thúi đất ngập sình. Liên gõ cửa nhà Huân vào lúc trời đang mưa nặng hạt, mở cửa Huân không khỏi bàng hoàng, Liên như con mèo ướt run lên vì lạnh và quần áo ướt sũng dính chặt vào da thịt ở những chổ lẽ ra phải được che kín.Thú thực Huân chỉ liếc qua và vội kéo nàng vào trong không kịp khép cửa cài then.
          Liên ôm cứng lấy Huân và khóc ngất. Sau cơn mưa trời không sáng vì đã về đêm. Lúc ấy Liên cho Huân biết Ba nàng vừa bị bắt không hiểu vì lý do gì, mẹ nàng biệt tích đã hai ngày. Còn Liên như đang bị bó cứng trong bộ quần áo ngủ của Huân khi những giọt nước mắt vẫn lặng lẽ rơi xuống bờ ngực căng phồng không cài được cúc. Ngoài kia những giọt mưa còn sót lại từ chiều vẫn gõ nhịp trên mái tôn như một lời thúc dục. Đêm ấy Huân - gã trai tân được nếm mùi trái cấm từ Liên, bằng dâng hiến nhiệt tình và từ Huân với những vụng về non dại. Thực tình Huân đang sợ một điều gì không hiểu. Còn Liên nước mắt đã cạn khô và dường như không có việc gì xẩy ra trước đó, hoàn toàn khác hẳn với những gì Huân biết về yêu đương qua những lời chỉ bảo của đàn anh.
        Sáng hôm sau khi Huân thức dậy thì Liên không còn bên cạnh, trên bàn lưu lại một mảnh giấy ghi vỏn vẹn mấy chữ : “Gởi Huân, e rằng chúng ta sẽ không gặp nhau nữa. Liên cám ơn và mãi mãi nhớ Huân, đừng bận tâm suy nghĩ điều gì. Đừng nhớ Liên và cố gắng trở thành Luật sư để mai kia biết đâu còn có dịp giúp Liên. Nhớ đừng tìm Liên và đừng nói với ai Liên đã ở nhà Huân.” Chỉ có thế.
         Huân đã ngất ngư những mấy tháng trời, bềnh bồng trong nỗi nhớ, khắc khoải trong kiếm tìm vô vọng. Sông nước giang hồ một lần nữa lại đưa Liên đến bến bờ nào.
         Sài Gòn năm ấy, những ngày sôi động, sinh viên học sinh liên tục xuống đường với khẩu hiệu là chống độc tài quân phiệt. Một hôm, ở khuôn viên trường Luật đang có cuộc tranh luận về việc trách nhiệm lãnh đạo Tổng Hội sinh viên. Từ tranh luận đến xô xát, có tiếng súng nổ và một sinh viên ngã xuống. Phát súng ấy lẽ ra do chính Liên bắn ra nhưng nàng không bắn vì trên ban công Liên đã thấy Huân và ai đó đã bắn thay cho nàng. Như vậy nhiệm vụ không phải chỉ giao cho mình Liên. Dĩ nhiên trước tổ chức mà nàng đang tham gia, Liên đã bị khiển phạt nặng nề vì không chu toàn nhiệm vụ. Nàng bị khai trừ nhưng không hiểu do sự can thiệp nào Liên lại được bí mật đưa sang Đông Đức du học.
        Khi bức tường ngăn cách Đông Tây Bá Linh sụp đổ, trong dòng người vượt thoát đầu tiên có Liên. Nàng trở thành con nuôi một nhà giáo hiền lành. Sau khi tốt nghiệp đại học, Liên lập gia đình với một kỹ sư cầu cống (cũng là du học sinh từ Đông Đức). Nhưng không lâu chồng nàng bị thủ tiêu trên đường phố, vì viên kỹ sư này lại là trùm một băng buôn thuốc lá lậu.
               Phần Huân, cũng không khá gì hơn, chưa xong năm thứ nhất đại học thì phải lên đường nhập ngũ. Huân về đồi Tăng Nhơn Phú học đánh nhau. Từ đó đời lính đã đưa đẩy Huân đi khắp bốn vùng chiến thuật cho đến ngày đứt phim. Gia đình Huân theo tàu Trường Xuân ra khơi, còn Huân vì nặng tình đồng đội nên vào tù.
               Sài gòn 1985 Huân trở thành phu khuân vác tại bến Hàm Tử. Huân chọn nơi này vì vẫn thầm mong một ngày trên ghe lái trái cây biết đâu lại chẳng gặp Liên. Đó là chút hy vọng cuối cùng của người lính cũ.
               Liên bước khá nhanh khi vượt tấm ván nối ghe với bến khiến cậu Tám Tàng theo sau cũng phải hoảng hồn, và vì khá nhanh nên đã không kịp tránh người phu khuân vác đang oằn vai vì một cần xé dừa tươi. Liên loạng choạng, cậu Tám Tàng hốt hoảng nhưng một cánh tay đã kịp níu lấy Liên và cần xé dừa thì rơi xuống nước.
             Hai người đối mặt nhau trong một quán lá bên bến sông Hàm tử. Không ai nói được lời gì. Trong mắt Liên dường như có cát chạy, đẩy lệ rơi một cách vô tư.Trong khi Huân thẫn thờ cúi mặt, những năm tháng tù đầy và trở về đời cơ cực Huân đã biến dạng khá nhiều, râu tóc mọc đầy, nước da sạm đen và khét nắng, đôi mắt buồn lúc nào cũng nheo nheo như muốn tránh nhìn cảnh đời thay đổi. Chiếc áo nhà binh bạc phếch không cài cúc để lộ những thớ thịt đã săn lại thành gân vì ngày nối ngày phải gồng minh dưới sức nặng hàng hóa. Liên khẽ chạm tay vào ngực Huân, mồ hôi muối dính trên tay nàng. Huân đưa tay chận lại và tay lại trong tay.Trong khi nước mắt Liên vẫn từng giọt vắn dài.
            Liên ạ! Em có biết là em vẫn mãi mãi trong anh, ngày xưa anh vào lính cũng chỉ vì nhớ em, không học được nữa và qua được kiếp tội tù, vì anh vẫn tin có ngày sẽ lại gặp em. Về đời chấp nhận làm phu khuân vác ở bến hàng Bông vì anh vẫn luôn hy vọng sông hồ sẽ gọi em về.           
 Bây giờ tái ngộ anh mãn nguyện lắm rồi, không mơ ước gì hơn. Nhưng khốn nạn thay chúng ta lại trở thành hai thế giới khác biệt, em vui sống ở trời Tây, còn anh đây thực tế là như vậy đấy. Chỉ là người phu khuân vác trên bến sông buồn.
          Điếu thuốc trên môi Huân đã được Liên đưa tay nhẹ nhàng lấy xuống. Thay vào đó là bờ môi dày mọng nước, dường như tích lũy những khát khao nay có dịp giải tỏa những dồn nén. Môi tham lam, môi ngọt lịm, bờ môi thương nhớ vẫn như xưa. Đó là câu trả lời của Liên trước những ưu tư mà Huân vừa lên tiếng. Huân biết thế, và máu lính trong chàng trổi dậy. Huân quay ngang người ôm chặt lấy hình hài Liên, đôi bầu vú như hỏa sơn căng lửa ép chặt lấy bờ ngực gân guốc của chàng. Môi lại tìm môi và Huân cúi xuống, giật tung tấm đắp để thấy rõ Liên lồ lộ rạng ngời, đam mê và dục vọng đã thay lời cho nhưng ưu tư.
         Anh ạ: em muốn có con- có con thật ư- đúng thế để em dạy cho chúng cách nhổ râu cho Bố. Những cọng râu đang làm em nhột đây này.
        Dấu chỉ của hạnh phúc thật ra nằm trong những lời đơn giản, nhưng để có được e rằng phải kinh qua nhiều lắm gian nan. Huân nhủ thầm: đoạn đường chiến binh của chính mình sẽ còn tiếp tục. Anh đang nghĩ gì vậy- Liên hỏi khẽ. Anh đang nghĩ xem làm sao rời em ra để đi mua bút chì về kẻ lông mày cho Triệu Minh đây. Anh nè, ai dạy anh lẻo mép dzậy.
       Là đời Lính, đời Lính đã dạy anh đủ thứ, nhưng thứ quý nhất là:- anh phải yêu em, như người phải mãi biết thương người. Đó chính là lẽ sống là những sắc hoa rực rỡ của đời thường.
       Cám ơn em, cám ơn đời, đã cho người gặp lại được người và để cho những con tim được vui trở lại. Hạnh phúc gần vẫn níu được tình xa.
Song Thy
Em Như Cỏ Dại
Tóc em bay bềnh bồng trong gió
Má em hồng ươm nắng thơ ngây
Mắt em xanh vời vợi trời mây
Tà áo vải vờn lay màu lá
Em đẹp vì mùi thơm cỏ mạ
Thảm nhẹ êm bước lạ chân ai!
Thoảng bên đường tắm hạt sương mai
Em vẫn đó bốn mùa mưa nắng
Tôi yêu vì em loài cỏ dại
Sóng môi cười êm ái dễ thương
Giữ chân người cô lữ dặm trường
Lòng lưu luyến vương vương niềm nhớ
Tôi vẫn yêu em như loài cỏ dại . . .
Nỗi lòng của biển
Đời tạm bợ xót xa tình không trọn
Người ra đi để thuyền mãi bơ vơ
Sóng vẫn vỗ không đưa thuyền đến bến
Ta đứng buồn bên bờ biển quạnh hiu
Đêm lại về dưới ánh trăng cô lẽ
Nỗi cô đơn ôm trọn kín tâm hồn
Ngọn nến buồn hiu hắt sáng lung linh
Ta im lặng nghe trong lòng nức nỡ
Trong đêm vắng khát khao niềm hạnh phúc
Mưa sầu rơi lệ tím mắt u buồn
Gió lặng lẽ cuốn trôi niềm khắc khoải
Trong cô đơn ta tìm lại chính mình.
Trần Yên Thảo
Thơ Biên Tái
(tiếp theo kỳ trước)
Dẫn nhập
           Vào thời Tây Hán khoảng năm 206 trước Công Nguyên đã hình thành một tuyến đường cho các thương nhân vận chuyển hàng hóa từ Đông sang Tây và ngược lại mà người ta gọi là “Con đường tơ lụa”. Vì hành lang nối liền Đông Tây này là huyết mạch đem lại phồn vinh cho Trung Nguyên và các Tiểu vương quốc vùng Tây Vực. Lãnh thổ rộng lớn Tây Vực trải dài từ Tân Cương đến vùng Tây Á Tế Á, tức khu vực có địa giới từ con đường Nam Bắc Thiên Sơn của Tân Cương, vượt núi Thông Lãnh đổ về phía Đông và từ Đôn Hoàng (Cam Túc) đổ về phía Tây. Vì tranh chấp lãnh thổ và muốn độc chiếm con đường giao thương Đông Tây này nên đã xẩy ra chinh chiến liên miên. Cảnh chiến tranh loạn lạc đã tạo nhiều cảm xúc cho các Nhà Thơ đời Hán Đường sáng tác những bài thơ xuất sắc được lưu giữ đến ngày nay gọi là “Thơ Biên Tái”. Các Nhà Thơ còn xây dựng một trường phái riêng được gọi là “Phái Biên Tái” mà đứng đầu là Sầm Tham, Cao Thích, Vương Xương Linh, Lý Ích, Trần Đào v.v…
 LÝ ÍCH
(tiếp theo)
Lương Châu vào đời Đường còn có tên là Cô Tàng, nay là huyện Vũ Uy (Cam Túc). Lương Châu đương thời là một thành thị phồn hoa. Nhà thơ Lý Ích đã ở trong quân 10 năm, trường kỳ sinh họat nơi biên tái. Ông thường làm thơ ngay cả lúc vung đao trên lưng ngựa, lúc uống rượu trong quân doanh hoặc trên biên tái vắng vẻ. Cho nên thơ ông từ ngôn ngữ đến nội dung đều nói lên ý chí khẳng khái. Khi đến Lương Châu Lý Ích có viết bài thất tuyệt “Biên Tứ”:
Bài 1:
Bài thơ như một chân dung tự họa của Lý Ích. Lưng đeo đai gấm, tay cầm đao Ngô Câu, phi ngựa ra quan ải, phòng thủ biên tái. Xin đừng cười ta là tên nhà tướng đất Quan Tây mà chỉ đem thi tứ đến Lương Châu. Lý Ích là nhà thơ ở Lương Châu, nên dù vung đao trên lưng ngựa nơi biên ải cũng không rời bản chất thi nhân.
Âm:
Biên Tứ
Yêu huyền cẩm đái bội Ngô Châu
Tẩu mã tằng phòng Ngọc Tái thu
Mạc tiếu Quan Tây tương gia tử
Chỉ tương thi tứ nhập Lương Châu
Dịch:
Nghĩ về biên tái
Lưng đeo đai gấm tay vumh đao
Vó ngựa tung hòanh Quan ải thu
Đừng cười con cháu Quan Tây địa
Chỉ đem thi tứ đến Quan Châu
           Nhà thơ Lý Ích khi hành quân qua Cam Châu cũng có viết 2 bài thất tuyệt bất hủ, mô tả cảnh tượng thiên nhiên và chiến tranh về Kỳ Liên Sơn. Dưới đây là bài “Tòng quân bắc chinh”
Bài 2:
Hơn 10 năm trong quân, Lý Ích chưa từng tới Tây Vực, do đó từ “Thiên Sơn” trong bài thơ cũng phải hiểu là “Kỳ Liên Sơn”, chứ không phải “Thiên Sơn” của Tây Vực. Còn Từ “Hải phong” tức gió từ hồ Thanh Hải thổi vào Kỳ Liên Sơn. Bài thơ tả cảnh tuyết tan trên Kỳ Liên Sơn và những cơn gió lạnh thấu xương từ hồ Thanh Hải thổi vào. Tiếng sáo trong quân chợt trổi lên khúc “Hành Lộ Nan” buồn bã, khiến cho ba mươi ngàn binh sĩ trên sa mạc cùng vọng về cố hương trong một đêm trăng.
Âm:
Tòng Quân Bắc Chinh
Thiên Sơn tuyết hậu hải phong hàn
Hòanh địch thiên xuy hành lộ nan
Thích lý chinh nhân tam thập vạn
Nhất thời hồi thủ nguyệt trung khan
Dịch:
Theo quân đi
chiến đấu phương Bắc
Gió biển lùa vào, núi tuyết tan
Sáo đâu đưa khúc “Hành Lộ Nan” (1)
Ba chục vạn binh nơi sa mạc
Ngỏanh nhìn quê cũ một đêm trăng
(Còn tiếp kỳ sau)Trần Yên Thảo
MỤC LỤC
Lối vào (3)
Trần Hoài Thư Ga đêm (6) - Hoàng Xuân Sơn Cũng chẳng (17) - Hạc Thành Hoa Đêm trăng (19) - Lan Cao Nào quên (21) - Nguyễn Xuân Thiệp Tiếng sấm (23) - Đàm Trung Pháp Thơ haiku (25) - Phan Bá Thụy Dương Bóng thời gian (33) - Thiếu Khanh Với bạn (35) - Vĩnh Tuấn Ta làm thơ (37) Trần Bang Thạch Bóng ngoại (39) - Quan Dương Chỉ còn (47) - Trần Kiêu Bạc Lòng ca kỷ (49) - Tịnh vân Chút tình (51) - Túy Hà Huế cũ (53) - Phan Các Chiêu Hằng Đường về (57) - Nguyễn Lương Vỵ Tuyệt mù (71) - Võ Thạnh Văn Bài thơ (73) - Võ Thị Điềm Đạm Dấn thân(76) - Trần Vấn Lệ Tưởng ai (84) - Trần Thiện Hiệp Biết đâu (87) - Trần Văn Lương Cái nốt ruồi (89) - Phạm Ngọc Giữa màu đen (100) - Lãm Thúy Nhẫn nhục (103) - Nguyễn Thị Thảo An Nhan sắc (106) - Phạm Tương Như Thay áo nắng (112) - Trần Thị Hà Thân Áo trắng (116) - Kim Oanh  Yêu ghét (118) - Chu Thụy Nguyên Khi khói quyện (121) - Dương Thượng Trúc Xuân viễn xứ (123) - Nguyễn Đức Nhơn Lục bát 4 câu (125) - Trần Minh Hiền Cho đời anh (127) - Như Phong Dưới trăng (129) - Phạm Thị Cúc Vàng Trái tim (131) - Phạm Ngũ Yên Sông chảy (133) - Trần Thị Dã Quỳ Đêm (136) - Dương Quân Đợi nắng (139) - Khai Nguyên Bóng đại bàng (141) - Yên Sơn  Cảnh đẹp (143) - Nguyễn Thị Thanh Dương Chạy đâu (145) - Xuân Bích Cung tình mưa (153) - Dạ Dung Vũ Vấn duyên (155) - Mây Ngàn Sóng nước (157) - Đinh Yên Thảo Hình tượng (158) - Song An Châu Màu hoa (164) - Cái Trọng Ty Loài chim (167) - Nguyễn Đức Nhơn Thi ảnh (169) - Lưu Nguyễn Từ Thức Chào nỗi nhớ (170) - Hà Túy Mộng Chăn chiếu (172) - Nguyễn Minh Triết Chuyện Thánh Gióng (174) - Nguyễn Lập Đông Cái bang (185) - Miên Du Đà Lạt Cali sầu đông (186) - Trần Việt Cường Chờ nhau (187) - Luân Tâm Hoa tình em (189) - Thái Bạch Vân Vườn yêu (191) - Lan Đàm Thi ảnh (192) - Hoàng Đình Nam Thành phố (193) - Cù Hòa Phong Phím ngọc (194) - Túy Hà Còn đó sông hồ (195) Song Thy Em như cỏ dại (201) - Ngô Nguyên Nghiễm Phê bình văn học: “Kinh Dương Vương” (202) - Trần Yên Thảo – Biên khảo: “Thơ biên tái” (208)
                                         
     THÔNG TIN MONG ĐƯỢC LƯU Ý:
* Nhằm đáp ứng yêu cầu của một số bạn đọc ở xa và thân hữu.
Cũng là cơ hội để tìm nguồn trang trải ấn phí, Trầm Hương quyết định kính mời gọi toàn thể Quý thân hữu và Quý bạn đọc ủng hộ và giới thiệu thân hữu đặt mua Tạp chí Trầm Hương dài hạn theo thể lệ sau:
A - Ấn phí kèm cước phí bưu điện
    - Một năm 4 số = 40 mỹ kim
    - Hai năm 8 số = 70 mỹ kim
B - Ủng hộ ngoài luồng: tùy nghi
C - Quảng cáo cho mỗi số: Trang bìa full color
- Bìa sau = 200 mỹ kim
- Bìa trong = 150 mỹ kim
- Trang đen trắng = 80 mỹ kim
- ½ trang đen trắng = 40 mỹ kim
- Khổ danh thiếp = 20 mỹ kim
* Chi phiếu ghi tên Tong Pham và xin gởi về:
Mr Tong Pham
P.O. Box 681822 Houston, TX 77268
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
PHIẾU ĐẶT MUA BÁO DÀI HẠN 
Tôi Tên_______________________Tel__________________
Địa chỉ___________________________________________
(Xin ghi chú x vào O trống)
Đặt mua : O- Một năm    O- Hai năm
Kèm chi phiếu-------------- mỹ kim
Tạp Chí Trầm Hương chân thành cám ơn và mong mỏi nhận được sự ủng hộ của toàn thể Quý Đọc Giả, Thân hữu và Ân nhân.

TC Trầm Hương 20

Bài mới đăng

Search

Liên Lạc

Ban Điều Hành Trầm Hương:

Xuân Du

Dương Thượng Trúc

Túy Hà

Phạm Tương Như

Songthy

Bài đọc nhiều nhất

Visitor Counter

Ngày Thiết Lập
Visitors Counter
March 1 2013